Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

15.

Vụ tù phong vương 982 mở khóa cùm, cắt xiềng, đào ngạch hồi đêm và trốn thoát, phát nổ như tiếng sét. Trong trại giam Cộng sản, tù chết hoặc phải ra bai để lãnh viên đạn tử hình hay nhát búa vào gáy không quan trọng bằng trường hợp tù vượt trại. Và hậu quả của vụ tù vượt trại còn dằng dai triền miên nhiều ngày, gây tai hại cho cả ban Quản-trị trại giam lẫn tù nhân.

Đêm hôm trước, vừa quá canh hai một lúc, nhiều tù nhân trong trại nhất là đám tù nhân nhà cùm, nghe tiếng còi tu huýt rít lên hấp tấp từng hồi ở góc Tây trại mà họ đoán là gần lều phong vương. Tiếng còi xê dịch theo bước chân rồi thốt nhiên chạy về phía trại ngủ thường tội. Giám thị trực tại trại này bổ choàng chạy ra, tiếp theo có tiếng xì xào bàn tán ngoài hiên của cảnh vệ và giám thị. Sau đó, giám thị trở vào, trong khi bên ngoài có tiếng chân chạy thình thịch. Vài người khác còn thấy ánh đèn le lói đi ngang sân.

Giám thị khêu lớn ngọn bấc, hầm hầm kiểm soát hai dẫy trõng. Số tù nhân vẫn đủ như hồi tối. Tù nhân trực thấy giám thị kiểm điểm xong quay lại mà không nói gì mới mừng thầm. Một tù nhân cựa mình rên khe khẽ rồi một giọng run run ốm yếu cất lên:

– Báo cáo…tôi xin đi tiểu…!

Giám thị quát:

– Nằm yên…Lệnh đặc biệt, cấm đi tiểu cho đến sáng!

Có tiếng thở dài, lầm thầm than khổ của người tù nằm đầu dẫy, thân hình mỏng dính như con cá khô. Anh nầy bị bệnh về thận, đêm nào cũng xin phép đi tiểu một lần ở nhà cầu ngay sau trại. Đã vậy, anh ta lại bị phù thũng cả tháng nay nên nằm bẹp ở trại ngủ, không thể xung phong đi lao động sản xuất. Thêm vào đó, còn bị sốt rét rừng nặng, mỗi đêm cơn rét kịch liệt hành hạ anh ta cả tiếng đồng hồ. Hết sốt rét đến sốt nóng li bì, quần áo ướt đẫm mồ hôi như vừa lội dưới ao lên.

Da thịt biến thành mồ hôi toát ra ngoài nên sau mỗi cơn sốt rét, rồi sốt nóng, bệnh nhân tóp hẳn đi, trông chẳng khác chi lá dưa phơi nắng héo quằn lại. Hai con mắt trũng sâu thêm, hàm răng nhe ra như dọa nạt người nhìn, mới bốn ngày đã có người cùng trại không nhận ra anh ta.

Tiếng quát của giám thị khiến tù nhân tỉnh dậy suốt lượt. Hình như đêm nào tù nhân cũng chỉ dám ngủ một mắt, có tiếng nói lớn hay tiếng động mạnh là họ tỉnh liền. Họ nằm yên nghe ngóng và quan sát nhìn trộm giám thị để ước lượng mức độ quan trọng của sự việc. Có người đoán phi cơ của quân đội viễn chinh Pháp bay quanh thám thính hoặc sắp thả bom đánh phá trại. Lại có người đoán quân Pháp đã nhảy dù xuống Chi Nê, Nho Quan, đang tấn công vào Khu Tư như có tin đồn trước đây ít lâu. Nhiều tù nhân mừng thầm trong bụng, mong quân xâm lăng đánh thốc vào trại giam giúp họ có dịp thoát thân trong lúc hai bên hỗn chiến!

Nhưng chỉ sáng sớm hôm sau, khi có tiếng kẻng đánh thức, tù nhân tập hợp ngoài sân trước khi ra ao rửa mặt và làm những công việc cần thiết buổi sáng, họ đã xầm xì bàn tán và gần biết sự thật. Không rõ họ tìm hiểu bằng cách nào? Lúc sắp hàng vào nhà Tiểu Công Nghệ, họ thoáng thấy viên phó trưởng ban Quản-trị trại và viên tiểu đội trưởng cảnh vệ đi vội vã về phía lều phong vương, nên quyết đoán chỉ có thể là vụ tù trốn trại, không sai được. Vì tù chết, không bao giờ phó trưởng ban Quản-trị phải mất công xuống tận nơi chứng kiến từ sáng sớm. Tù chết, chỉ như con chuột chết, hốt cái xác bỏ ra ngoài bãi lấy đất là xong. Rồi văn phòng gạch một con số, thông báo cấp tốc cho nhà bếp đặng bớt một khẩu phần mới là sự việc tương đối quan trọng.

Bữa cơm sáng hôm đó, có ba tù nhân biết trước tù phong vương trốn mà vẫn bị xúc động hơn mọi người. Đó là Toàn, Thanh và thiếu niên Hợi, những người đã trực tiếp giúp 982 vượt ngục. Người tinh ý sẽ thấy mặt Toàn xanh mét hơn mọi ngày và giọng nói run run mệt nhọc như vừa dứt cơn sốt. Chiều hôm trước, Toàn được gọi lên văn phòng đúng như mãn giờ lao tác, ban Quản-trị cho biết, nhờ có hạnh kiểm tốt, tinh thần xung phong trong mọi công tác, chăm chỉ học tập, không phạm lỗi nào, anh được lên làm việc một thời gian trên lò than, miễn phải theo lớp huấn luyện làm than tại Kim Tân và được thực hành ngay tại lò. Toàn mừng quá song cố giữ không để lộ ra mặt. Giữa lúc xẩy ra vụ tù phong vương vượt ngục có chuẩn bị, chủ mưu rõ ràng, được xa Trại Đầm Đùn là một điều may mắn.

Trong bữa ăn, giám thị đi đi lại lại bên những mẹt cơm, cố ý lắng tai nghe lời bàn tán, chuyện trò thầm thì của tù. Nhưng bữa nay, tù nhân tự động áp dụng câu tục ngữ: “Có mồm thì cắp, có nắp thì đậy” chẳng người nào nói câu gì thừa. Chỉ nghe tiếng đũa, bát lách cách chừng mươi phút, rồi tù nhân thu dọn mâm bát xuống nhà bếp rửa. Nói là rửa chứ sự thật chỉ cần tráng qua lượt nước là sạch. Mẹt nào cũng vậy, không sót một hạt cơm, một cọng rau. Đó là tù đã bị cấm ngặt liếm bát, mút đũa. Phạm lỗi sẽ bị phạt nhịn ăn một bữa, tái phạm sẽ ăn thêm mười “hèo”.

Một tù nhân đã đứng lên dợm bước, chợt phát giác mấy hạt cơn dính vào trôn bát, lại vội vàng ngồi xuống nhặt bỏ vào miệng nhai tóp tép rất lâu. Ăn thêm được một hạt cơm, cũng bớt đói được một chút xíu. Tù nghĩ như vậy.

Tuy không được phép liếm đĩa bát nhưng tù nhân đều có một kỹ thuật phi thường “vét” sạch đĩa, bát chẳng khác chi “sang sông” bằng lưỡi. Một tù nhân lớn tuổi tự phê: “Chắc kiếp trước mình phí phạm của Trời nên kiếp này Trời bắt mình phải “vét chùi” cho thật sạch thức ăn thức uống! Cũng như kiếp trước mình làm nhiều điều độc ác nên kiếp này phải chịu nghiệp báo nặng nề!” Nghe nói vậy, nhiều tù nhân thở dài bâng khuâng nghĩ ngợi. May thay, câu nói nặng ý nghĩa tôn giáo phản lại “duy vật biện chứng pháp” không lọt vào tai giám thị!

Xong bữa, tù nhân chuẩn bị đồ nghề cho công tác của mình. Họ lặng lẽ làm, không nói chuyện vớ vẩn. Mỗi khi xẩy ra một sự việc quan trọng có thể gieo tai họa cho tù, mọi người trở nên lầm lì rất ít nói. Không khí trại giam đột nhiên nặng nề khó thở như sắp có vụ Đầu Trâu đánh tù nhân phạm lỗi dưới lá cờ đẫm màu máu.

Theo lệnh của giám thị, tù nhân tập họp riêng từng bọn cho mỗi công tác, làm than, làm củi, vác tre và nứa ở bờ sông về, cuốc đất (thay trâu cầy), trồng trọt, tưới rau, xay lúa v.v…

Toàn đi làm củi ở rừng và toán đi làm than đông tới hơn hai trăm người, một trăm người đi gánh than ở lò về trại còn bao nhiêu đi làm củi. Khi số lượng than ra lò đã được chuyển về Trại Sản xuất một phần, còn một phần đã gánh thẳng ra Chợ Kim Tân giao cho Hợp Tác Xã phân phối, trong số 100 người đi gánh than có mười người được ân huệ ở lại giúp việc đốt than tại lò. Toàn có tên trong số mười người này nên mừng rỡ, sung sướng như thí sinh thấy tên trên bảng vàng.

Đoàn tù vào rừng làm củi ra khỏi trại được dăm phút, đến lượt đoàn tù làm than chỉnh tề hàng ngũ đợi giám thị kiểm soát lần thứ hai. Sự kiểm soát bỗng chặt chẽ kỹ càng hơn mọi lần. Giám thị hầm hầm nét mặt, luôn luôn quát tháo, tay múa cây roi trúc đặc ruột, quất veo véo lên nón lá, lên vai tù để kiểm điểm. Một người tù ngơ ngác, bàng hoàng, thần trí còn chưa tỉnh hẳn sau cơn sốt lúc sáng sớm, lúng túng sửa lại vị trí đứng cho ngay hàng, nhưng chưa kịp làm đã bị một roi quất ngang lưng, giật bắn mình. Chờ giám thị đi qua, anh ta nói bạn đồng cảnh đứng bên, để tự an ủi:

– “Được” quất một roi buốt thịt toát mồ hôi, may mà nhẹ bệnh!

Kinh nghiệm cho biết một người tù trốn sẽ gây hậu quả tai hại cho cả trại. Thật vậy, mỗi lần xẩy ra vụ tù vượt ngục luật lệ của trại giam lại áp dụng một cách khe khắt “chết người” gấp bội. Thiếu gì người bị đòn, bị đánh, bị tra tấn oan uổng. Lần này đến phiên ai? Đã có lần một tù cùm trốn, bốn tù nhân khác bị giam ở nhà cùm không là tòng phạm, cũng bị bỏ đói oan uổng đến chết cho đáng kiếp.

Giám thị đã kiểm soát xong. Hắn bỏ cuốn sổ nhỏ vào túi áo trên ngực cùng cây viết nguyên tử rồi hầm hầm nhìn đám tù lần nữa như vẫn chưa hài lòng, chưa được đấm đá tù vỡ mặt vỡ mũi, còn ngứa tay ngứa chân không yên. Nhưng sau cùng hắn cũng ra lệnh lên đường.

Đoàn tù đi gánh than lầm lũi ra khỏi trại, theo sau tên cảnh vệ dẫn đường. Một tên cảnh vệ thứ hai đi bọc hậu, súng ống đàng hoàng như tên thứ nhất. Viên giám thị ngênh ngang đi vào khoảng giữa, giây lâu quay lại ngó những hàng cuối cùng gườm gườm cặp mắt, tức thì những lời xì xào trò chuyện nín bặt. Toàn sắp cùng hàng với Thanh, nôn nao muốn nói về vụ 982 vượt ngục đêm hôm trước mà không dám, sợ lộ chuyện. Hai người thỉnh thoảng nhìn nhau để thông cảm rồi mỗi người đuổi theo một ý nghĩ với bao hồi hộp lo lắng. Cầu Trời khẩn Phật cho 982 yên ổn thoát về vùng chính quyền quốc gia kiểm soát.

Từ trại vào đến lò than mới, đường dài khoảng 16 cây số, thời gian đi ấn định là ba tiếng đồng hồ. Dưới mưa Xuân, đường lầy lội trơn trợt nên có nhiều anh “vồ ếch”, lại có nhiều quãng đường phải leo đồi dốc như mái nhà.

Lượt về phải gánh nặng leo đồi trơn và dốc, tù rán làm sao cho khỏi té. Vì té, than sẽ bể vụn, mất cân và tù sẽ bị phạt, không tránh được. Nghĩ vậy, Toàn quay nhìn Thanh, thấy Thanh cũng đang nhìn anh lắc đầu chán nản.

Toàn nghĩ bụng: trong trại giam Cộng sản, không có công việc gì nhẹ, không tốn hơi tốn sức. Chỉ có người bệnh nặng mới không phải lao tác, nhưng bị bệnh nằm một chỗ, chỉ được một chén cháo loãng mỗi bữa, đói run rẩy cả người hoa cả mắt, chịu sao nổi! Nhiều khi lại nhịn đói luôn, cháo cũng không được ăn. Thà xung phong công tác còn hơn, xung phong cho đến lúc nào không nổi nữa, ra bãi là vừa, chấm dứt luôn thân phận người tù trong trại giam Cộng sản.

Nghĩ đến cơm đến cháo, Toàn lại thấy…đói, thèm ăn tuy mới ăn được hơn tiếng đồng hồ. Thì ra anh bị bệnh đói “kinh niên” nên bất cứ lúc nào cũng thèm ăn.

– Nguy quá! Nguy quá!

Toàn than thầm như vậy khi nghĩ tới công việc phải làm trước khi được ăn bữa cơm thứ hai trong ngày, phải lội bộ hơn 30 cây số lên đèo xuống dốc, và phải gánh 40 ký lô than trên quãng đường mười mấy cây số. Nguy quá! Nguy quá!

Chúng ta hãy để mặc bọn tù vào rừng làm củi và bọn tù lên lò gánh than làm theo số phận của họ mà quay về Trại giam Đầm Đùn xem những sự việc gì xẩy ra sau khi tù 982 trả lại “ngôi vua” cùng long sàng cho ban Quản-trị trại giam.

Khi đó trong trại đã vắng người, chỉ còn toán tù phụ nữ ngồi sàng gạo và dăm bẩy tù nhân già, có ông râu lơ thơ bạc trắng, đang uể oải xay lúa trong nhà Tiểu Công Nghệ. Mấy ông già xay lúa trông tức cười lắm, ưỡn à ưỡn ẹo cả thân hình, lấy trớn đẩy cần cối để giúp sức thêm cho hai cánh tay đã tiêu hết bắp thịt chỉ còn da bọc xương. Mới bắt tay vào cần cối được hơn tiếng đồng hồ, họ đã thở phì phò như trâu. Ấy vậy mà đến chiều, trước giờ nộp gạo vào kho, người nào cũng làm đủ phận sự, cái đó mới thật lạ. Nhưng nhiều lần, có người đang xay đều tay thốt nhiên ngừng lại, mặt nhăn rút vẻ đau đớn, hai tay ôm ngực để mửa ra một đống máu tươi có lẫn bong bóng rồi ngã vật xuống, “xuôi” luôn không kịp từ giã đồng cảnh. Được giải thoát rất bất ngờ, “đương sự” chưa kịp mừng đã chết!

Bọn tù làm than đi được một lúc, ban Quản-trị trại mới khởi sự cuộc điều tra vụ trốn trại đêm hôm trước. Vì có liên hệ với vụ này nên viên giám thị có nhiệm vụ kiểm soát tù nhân ngày hôm qua và người lính cảnh vệ canh gác trại hồi đêm cần có mặt.

Ban điều tra gồm hai người phó trưởng ban Quản-trị trại và viên tiểu đội trưởng cảnh vệ.

Cả hai đều nai nịt súng lục, nghiêm trang từ trên văn phòng xuống thẳng lều phong vương tiến hành cuộc điều tra. Có bóng dáng hai người một lần, không khí trong trại giam bỗng trở nên nặng nề, khó thở gấp bội. Khi hai nhân vật này đi qua tù nhân, cúi gằm mặt xuống, chăm chú làm, không dám thì thầm hay nhìn ngang nhìn dọc. Là vì kinh nghiệm cho biết phó trưởng ban đi tới đâu gieo rắc tai họa đến đó, chẳng khác chi hung thần quỷ dữ.

Ngay hồi đêm, chừng ít phút sau khi phát giác vụ trốn, ban Quản-trị trại đã biết, kể cả giám thị, cảnh vệ, các trưởng ban hỏa thực, canh tác, chăm nuôi, trưởng ngành làm củi, làm than v.v…Nhưng có một người tuy là nhân viên ban Quản-trị mà chưa biết chút gì. Đó là tên giám thị đã bị kiến bò nhọt đốt và cũng chính là người đã đề nghị lên ban Quản-trị cùm riêng biệt 982 ra lều phong vương cho chết.

Tại sao hắn không có mặt sáng nay ở trại? Không ai rõ! Chỉ biết chiều hôm qua, hắn có xin phép thượng cấp vào thăm một người quen trong làng Mán cách trại 3 cây số và ngủ đêm tại đó, sang nay sẽ về trại sớm. Nhưng giờ này vẫn chưa thấy về.

Khi phó trưởng ban Quản-trị tới lều phong vương, y chỉ dừng lại nhìn qua loa túp lều rồi ra thẳng hàng rào nứa, đứng bên lỗ “chó chui” quan sát kỹ càng. Y lấy que đo bề sâu cùng đường kính của “lỗ đào” ghi vào cuốn sổ nhỏ từng chi tiết, ghi những dấu vết đặc biệt do dụng cụ đào đất để lại. Những dấu vết đó còn in trên thành lỗ. Y mỉm cười nhìn tiểu đội trưởng cảnh vệ và nói:

– Tội nhân đã dùng một vật cứng bằng kim khí dẹp và sắc để đào lỗ. Có thể là một con dao có sống dầy.

Y cúi xuống rờ lên những vết nhắn thín cắt bằng dao trên thành lỗ rồi hỏi:

– Đồng chí có thấy vậy không?

Tiểu đội trưởng ngẫm nghĩ, lễ phép thưa:

– Dạ, thưa đồng chí phó trưởng ban, thật đúng như lời đồng chí phó trưởng ban.

– Theo đồng chí nhận xét, đào xong một lỗ như thế này, phải bao lâu?

Tiểu đội trưởng cảnh vệ còn đang suy tính, phó trưởng ban lại nói:

– Đào trong lúc tối tăm, trăng chưa mọc, chứ không lý gì đào lỗ lúc có trăng sáng mà đồng chí cảnh vệ có phận sự canh gác lại không thấy.

Rồi y cười nhạt kẻ đối diện như dò xét:

– Trừ phi cảnh vệ canh gác ngủ say hoặc tòng phạm với trại viên vượt ngục trại thì…lại khác.

Tiểu đội trưởng cười gượng:

– Theo tôi nhận xét, thưa đồng chí phó trưởng ban, trong đêm tối đào một lỗ thiệt mau cũng phải mất từ nửa giờ đến 45 phút.

Phó trưởng ban ghi trên cuốn sổ tay dăm chữ, vài con số. Đồng chí tiểu đội trưởng không quen đọc và viết nhưng dù có liếc trộm cũng không đọc nổi. Sau đó, ban điều tra đi vòng qua hàng rào thứ hai, ra bên ngoài trại, quan sát mặt đất tù nhân trốn bắt buộc phải đi qua để nhận xét những dấu vết để lại. Y kết luận chỉ có một tên tù phong vương hành động trong vụ này vì không thấy dấu chân nào khác trên mặt bùn. Nói một cách khác, không có đồng lõa đứng bên ngoài tiếp sức hay bảo vệ cho tên tù vượt ngục.

Sau đấy, ban điều tra trở lại lều phong vương xem xét kỹ những dấu chân người tù vượt ngục đã để lại trên bãi cỏ lầy lội vì mưa Xuân. Phó trưởng ban lấy cây que cời những bụi cỏ qua một bên và tìm được những vết chân bước rất đều của tù nhân trên mặt bùn. Nhiều ngọn cỏ bị đạp còn nằm rạp xuống mặt đất chưa ngóc lên được.

Hắn nói một mình:

– Tù nhân lại bên hàng rào sau khi cắt được xiềng và tháo cùm.

Phó trưởng ban Quản-trị lại quan sát tổng quát quanh vị trí của lều, nhìn kỹ mặt đất rồi mới leo lên thang, thấy liền nhiều vết chân lấm bùn trên mặt sàn lều.

Hắn chưa dẫm chân mà dừng ở mép tìm tòi, quan sát từng khoảng sàn nhỏ bằng cặp mắt nhanh nhẹn, đã được huấn luyện về khoa chuyên môn. Đã có thời gian hắn giúp việc tại ban truy tầm và tra cứu thuộc sở tài liệu mật của công an Bắc Bộ đường Hàng Cỏ Hà Nội.

Tiểu đội trưởng nhìn mái lều, nhìn mặt sàn, nhìn hai mảnh ván cùm, chưa “thấy” chi tiết nào đặc biệt, phó trưởng ban đã mừng rỡ:

– Đây rồi! Chứng tích đây rồi!

Rồi hắn bước thêm hai bước ngồi xổm xuống sàn, lấy ngón tay trỏ chấm xuống mặt sàn giơ lên ngắm nghía, giây sau, hắn nói:

– Tù nhân đã chuẩn bị được dụng cụ mở khóa cùm, chuẩn bị giũa để cắt xiềng…

Hắn xé một mảnh giấy nhỏ, dùng cạnh tờ giấy vun những “mạt sắt” rồi hốt hết, gói kỹ trong một tờ giấy khác. Tù nhân giũa xiềng đã để lại những chứng tích rõ ràng!

Một câu hỏi rộn rã trong đầu cựu chuyên viên công an truy tầm:

– Vậy, ai đã giúp cho tù vượt ngục những dụng cụ cần thiết mà chỉ lò rèn mới có?

Công việc điều tra tạm kết thúc. Hắn thản nhiên xuống lều nhìn về phía chòi canh cảnh vệ để ước lượng khoảng cách với lều phong vương, ghi thêm vài chữ rồi bỏ cuốn sổ tay vào túi áo, thở một hơi khoan khoái, quay sang bảo viên tiểu đội trưởng cảnh vệ:

– Thôi, về văn phòng. Đồng chí có thấy dấu vết hoặc chi tiết nào đặc biệt không?

Viên tiểu đội trưởng cười gượng lúng túng:

– Dạ, thưa đồng chí phó trưởng ban…Em chưa thấy gì đặc biệt ngoài những điều đồng chí phó trưởng ban đã phát giác…

Đúng lúc đó, từ xa, một người tất tả tiến lại, rất vội vã. Đến nơi, người đó hùng hổ giơ quả đấm lên ngang trán chào, rụt rè nói:

– Thưa đồng chí phó trưởng ban, đồng chí cho kiếm em?

– Tôi cho kiếm đồng chí từ hồi khuya, sau khi xẩy ra một sự việc quan trọng trong trại. Đồng chí bỏ trại đi đâu?

– Dạ, thưa đồng chí phó trưởng ban, chiều qua, em có xin phép được vào trong làng thăm người quen. Bị đau bụng và chóng mặt nên sáng hôm nay em mới về được. Xin đồng chí trưởng ban tha lỗi cho.

Phó trưởng ban lạnh lùng, mặt lạnh như tiền:

– Đồng chí có biết trong khi đồng chí vắng mặt không có lý do chính đáng, đã xẩy ra việc gì trong trại không?

– Thưa, em vừa nghe nói ở trên văn phòng, có một tên tù phong vương vượt ngục.

– Vượt bằng gì đồng chí giám thị biết không?

– Dạ…Em chưa được biết.

Phó trưởng ban lạnh lùng “hừ” một tiếng:

– Lần cuối cùng, đồng chí đến đây kiểm soát tù phong vương vào lúc nào, ngày nào?

Cảm thấy việc rắc rối nguy hiểm hơn hắn tưởng lúc đầu, giám thị lắp bắp không ra tiếng:

– Dạ, sáng sớm hôm kia…

Phó trưởng ban cau mặt dằn từng tiếng:

– H…a…i n…g…à…y?!! Hôm nay là mồng 10, vậy kể từ sáng sớm mồng 8, đồng chí không đích thân tới lều kiểm soát tù phong vương lần nào?

– Dạ, thưa đồng chí, em không tới tận lều, nhưng em có đi rẻo gần đấy và vẫn ngó thấy tù 982, lúc hắn ngồi, khi hắn nằm, không có thái độ hay hành động gì khác thường cả.

– Lần cuối cùng, đồng chí “thấy hắn” vào ngày giờ nào?

Giám thị tái mặt, lẩm bẩm tính rồi thưa:

– Dạ…Vào hồi 2 giờ trưa hôm qua, lúc cho các trại viên đi lao động sản xuất.

– Chắc không?

– Dạ, chắc.

– Đồng chí thấy thái độ, cử chỉ của trại viên 982 như thế nào? Hãy nói lại nghe.

– Dạ, hắn ngồi dựa vào cột lều xây lưng lại nhà Tiểu Công Nghệ, có vẻ rất mệt mỏi.

– Vậy, đồng chí có biết hắn ăn hết khẩu phần gạo sống hàng ngày không? Tình trạng sức khỏe của hắn ra sao?

– Dạ…Dạ…Em…

Giám thị lại càng luống cuống, nín thinh, cấp trên lại hỏi:

– Lần cuối cùng, đồng chí phát gạo sống cho hắn vào ngày nào, giờ nào?

Giám thị lẩm nhẩm tính nhưng lúng túng chưa trả lời được, phó trưởng ban lại hỏi:

– Chính đồng chí đích thân mang gạo ra cho hắn hay sai người khác?

– Dạ, em có sai thằng nhỏ giúp việc ở lò rèn mang ra.

Phó trưởng ban hơi sững sờ khi nghe hai tiếng “lò rèn”. Nhưng chỉ thoáng một cái như hơi gió, vẻ mặt và giọng nói của hắn đã trở lại thản nhiên, không sai khác mảy may.

– Tên thằng nhỏ? Danh số?

– Dạ, tên Hợi, danh số 684.

– Thằng Hợi mang gạo trước sau mấy lần?

Ngẫm nghĩ giây lát, giám thị khẽ thưa:

– Dạ…ba lần.

– Ba lần. Ba ngày?

– Dạ, phải.

– Đồng chí có biết tù nhân 982 trốn thoát vào rừng bằng cách nào không?

Giám thị cúi nhìn xuống đất vừa ngượng vừa sợ:

– Thưa không…

– Giám thị coi tù mà không hay tù trốn và trốn bằng cách nào? Vậy đồng chí làm gì? Có nhiệm vụ gì?

Giám thị không biết trả lời sao nên lại cúi gằm xuống đất, mặt nhợt nhạt, chẳng bù những lúc hành hạ tù nhân, đánh, đấm, đá, quất, bất kể trúng đâu, vào đâu trên mình tù nhân!

Phó trưởng ban lạnh lùng ra lệnh:

– Nửa giờ nữa, đồng chí lên trình diện tôi tại văn phòng.

Giám thị đứng nghiêm nói “xin tuân lệnh”, chào rồi đi luôn. Hắn đi rồi, phó trưởng ban bảo tiểu đội trưởng cảnh vệ cho gọi chú cảnh vệ gác hồi đêm đến, lấy lời khai luôn cho tiện. Nghe tiểu đội trưởng gọi, chú lính cảnh vệ chạy tới, đứng nghiêm trước mặt hai người. Phó trưởng ban hỏi:

– Đồng chí cảnh vệ gác đêm hôm qua và đã phát giác vụ tù trốn trước tiên?

– Dạ…thưa đồng chí phó trưởng ban, chính em

– Đồng chí phát giác vụ trốn vào lúc mấy giờ?

– Dạ, em không có đồng hồ nên không biết. Em ước chừng khoảng hơn 12 giờ đêm.

– Tại sao phát giác được?

– Lúc đó trăng mọc cũng đã khá cao. Tôi đi tuần, bất ngờ phát giác lỗ đào dưới hàng rào bên ngoài rồi tìm ra luôn lỗ đào ở hàng rào trong. Tôi chạy đến lều phong vương gọi, không thấy tù nhân đâu. Tôi thổi còi báo động liền rồi chạy lên cấp báo.

– Nếu 10 giờ trăng bắt đầu mọc thì lúc đó trăng mọc đến đâu, vào khoảng mấy giờ?

Chú cảnh vệ ngước nhìn trời, ngẫm nghĩ rồi thưa:

– Dạ, khoảng 12 giờ đêm. Tôi lên văn phòng, lúc đó là 12 giờ rưỡi.

– Từ tối, đồng chí có nghe tiếng động gì khác ở lều không? Có lần nào thấy người mang gạo phát cho tù phong vương không?

– Thưa không.

– Tiếng giũa xiềng cũng không nghe? Tiếng dao đào lỗ cũng không nghe thấy luôn?

– Thưa không!

– Trước buổi tối, chú em thấy tù nhân ở lều phong vương có hành động hay thái độ gì khác không?

– Dạ…không!

Phó trưởng ban cười nhạt rồi nói:

– Chú em làm tờ khai, kể lại đầu đuôi vụ phát giác rồi trình lên văn phòng.

– Tuân lệnh.

Chú cảnh vệ chào rất hùng dũng rồi quay về chòi canh. Phó trưởng ban thong thả trở lên văn phòng…Đi ngang nhà bếp, hắn tạt vào coi qua loa, rồi ghé lò rèn, hỏi kỹ càng về công tác của hai thiếu niên phụ việc, và được biết một người bị sốt rét nặng, mới vào bệnh xá bữa nay. Hắn lẩn mẩn hỏi Hợi vài câu vớ vẩn không đâu rồi chắp tay sau đít đi ra. Được mấy bước, hắn bỗng quay trở vào, đăm đăm nhìn thẳng vào mặt Hợi như muốn “hớp hồn” Hợi rồi ngọt ngào hỏi:

– Chú em được may mắn giúp việc tại ban lò rèn bao lâu rồi?

– Dạ, thưa ông phó trưởng ban, được gần 6 tháng.

Phó trưởng ban thản nhiên hỏi tiếp:

– Có cây giũa nào dư, không dùng tới, cho văn phòng mượn một cây?

Hợi muốn choáng váng mặt mày vì chợt nghĩ đến cây giũa đưa cho 982, cố gắng bình tĩnh trả lời:

– Dạ…cháu…không có cây giũa nào hết. Nhưng lò rèn…thì có lẽ có…

Phó trưởng ban lạnh lùng cười nhạt rồi buông thõng hai tiếng:

– Thế à?

Hợi cố chịu đựng cái nhìn soi mói của hắn cho tới khi hắn lững thững bước ra ngoài lò rèn. Nhưng hắn chợt quay lại quan sát vẻ mặt của Hợi rất kỹ càng rồi đột ngột hỏi thợ rèn:

– Trong lò rèn này có mấy cây giũa?

Thợ rèn ngẫm nghĩ, trả lời lúng túng:

– Thưa ông phó trưởng ban, có năm cây giũa lớn, nhỏ.

– Hiện giờ có đủ không?

Thợ rèn mở rương đếm rồi trả lời:

– Dạ, đủ năm cây.

– Sổ ghi vật dụng lò rèn đâu? Đưa coi.

Thợ rèn lấy cuốn sổ nghi vật dụng. Phó trưởng ban đọc ở hàng cột ghi số giũa:

– 5 cây (lớn, nhỏ).

Trong khi đó, thợ rèn nhặt hết 5 cây giũa trong rương cầm ở tay cho phó trưởng ban kiểm điểm. Nhưng hắn chỉ liếc sơ qua rồi lững thững đi ra không hỏi gì thêm nữa.

Chờ cho y đi được một quãng, thợ rèn mới lộ vẻ mặt băn khoăn khó hiểu, nhìn Hợi. Không biết vụ tù phong vương trốn có liên hệ gì đến ban lò rèn mà phó trưởng ban Quản-trị lại hỏi như vậy?

– Tại sao ông phó lại hỏi mượn mày cây giũa? Bộ mày có hả?

– Dạ, cháu đâu có biết. Ông ấy muốn hỏi thế nào chẳng được?!

Thợ rèn không nói, lặng người đi suy nghĩ, tay vẫn lăm lăm cán búa, giây lát lại nhìn trộm Hợi. Nhưng thiếu niên này đang để hết tâm trí vào việc nắn những cây sắt tròn rồi chặt ra từng đoạn để thợ rèn có vật liệu làm xiềng gấp cho nhu cầu của trại. Trông nó nghiêm nghị như người lớn.

Sáng nay, trong lò rèn không nóng lắm mà chiếc áo rách của Hợi đẫm mồ hôi như mắc mưa…

—>16

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.