Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

17.

Vượt trại giam được ba đêm hai ngày, 982 lâm vào một tình trạng thập phần nguy nan, không thể nào tả xiết. Cơn đói phát hiện cấp bách từng phút từng giây đến nỗi anh tù vượt ngục không lo bị bắt bằng lo gục xuống chết bất ngờ giữa rừng vì đói.

Cả ngày hôm qua, 982 chỉ kiếm được một nắm lá và ít rau vớ vẩn bỏ miệng. Trên mép suối sát mặt nước, có mấy cây rau dền và một búi nhỏ cây càng cua. 982 lật đật vặt hết, nhúng xuống suối rửa sạch rồi vẩy mạnh cho ráo nước, cuộn lại từng miếng nhỏ, cho vào miệng, nhai ròn rã. Rau mày ăn sống không có gia vị, ngai ngái tanh tanh rất khó nuốt. 982 xuýt xoa tiếng: Phải chi có mấy hạt muối thì đỡ quá.

Ngốn rau xong, 982 mở bao tải lấy mấy trái ổi xanh, nhá luôn, bất kể rắn như đá và chát lè. Tuy đói phát run người, 982 cũng chỉ nhá hết ba trái ổi là bứ họng.

Chiều hôm qua đi ngang một sườn đồi, 982 gặp một rẫy trồng khoai mì nhưng chưa cây nào cao quá một thước thì làm gì đã có củ! Vừa tiếc vừa bực, anh ta hái hai nắm ngọn và là non khoai mì bỏ vào bao bố, tuy chưa biết có ăn được không?

Ngày thứ hai qua trong một cơn đói liên tục, rấm rứt liên miên. Sáng sớm ngày thứ ba, khi thái dương vừa mọc, 982 ngồi trên một tảng đá, ngó ngọn đồi ở bìa rừng. Lưng chừng đồi, mấy căn nhà sàn cao lênh khênh của dân thiểu số lờ mờ trong sương như cảnh trong tranh.

Những cảnh vật trước mắt mờ dần rồi nhòe hẳn. 982 hoảng sợ trừng mắt trầm tĩnh tinh thần nhìn cho kỹ nhưng vô hiệu, anh vẫn thấy chập chờn, những hình thù không rõ rệt rung rinh lúc biến lúc hiện. Đúng vậy, 982 lại bị hoa mắt vì quá đói. Anh co hai đầu gối vào sát bụng vòng tay ôm thật chặt, cố nén chặt bao tử lép xẹp. Đó là cử chỉ bóp bụng tù nhân thường làm khi bị cơn đói hành hạ.

Nhưng không lý nào chịu chết đói! Nếu không kiếm được thức ăn trong rừng thì kiếm trong Bản, chung quanh Bản, sợ gì? Chỉ sợ đói chớ không sợ người, khỏi sợ bất cứ thứ gì!

Trong cơn đói, 982 trở nên bất cần, hết sợ bị bắt lại.

Anh ta vụt đứng lên, xăm xăm băng ngang cửa rừng tới ngọn đồi. Được một quãng, anh chợt đứng sững nhìn xuống cổ chân. Những vết trầy trụa đã tấy lên, đang làm mủ. Nếu không giữ gìn, rất dễ bị sâu quảng. Mà sâu quảng thì què, thì chết! Khỏi có lết được nữa!

982 bừng bừng nổi giận. Họa vô đơn chí là như vậy.

– Nhưng ta phải sống bằng bất cứ giá nào!

Anh ta tự nhủ sẽ làm bất cứ điều gì để giành sự sống. Nhưng đi được một thôi đường, khi gần tới Bản, 982 cũng ngập ngừng, vòng ra những bãi đất dưới thung lũng. Gần Bản phải có rẫy. Trước khi vào Bản ta hãy ra rẫy, may ra kiếm được củ khoai, củ sắn chăng?

Lát sau, 982 men theo mấy lùm cây đến gần một ruộng mía. Gió rừng thổi, lá khô chạy xào xạc như người chạy. 982 ngồi thụp xuống dưới bụi rậm, hồi hộp lạ thường. Trước mắt là ruộng mía tươi tốt. Những ngọn lá mía bị làn gió thổi rạp, mềm mại như những giải lụa. Anh ta mừng quá đỗi là mừng, bất giác rãi ứ đầy miệng. Nghe ngóng giây lát, 982 chép miệng rồi nôn nả lom khom chui vào giữa ruộng mía, ngó từng gốc cây để lựa.

Là vì mía hãy còn non quá, mới có khoảng hai, ba đốt nhô lên khỏi mặt đất.

– Thây kệ, non cũng nhá liền…

982 lựa hai, ba cây lớn nhất, nhổ phắt lên, đập gốc mía cho rớt hết rồi xách ra khỏi ruộng, cuống cuồng chạy vào rừng. Tới đây, anh nấp sau bụi rậm, rút dao chặt cụt ngọn định đưa lên miệng nhai bỗng nghe có tiếng la ở phía nhà sàn xa rồi thấp thoáng có những người mặc quần áo chàm vác gậy và dao chạy lại nơi anh ta nấp.

982 hoảng sợ cắm cổ chạy, vừa ngó phương hướng vừa ngó chừng bọn người rượt theo. Chạy được khoảng cây số thì kiệt sức, anh ta bèn ngồi thu mình sau một gốc cây lớn ngó dáo dác tìm những bóng người đuổi theo. Không thấy gì, anh ta đưa mía lên miệng nhai cho đỡ thèm.

Mặc dầu mía còn non, nhưng chất nước mía đã ngọt, mát, thấm đến đâu, 982 tỉnh người đến đấy, chẳng khác chi người bệnh nặng gặp được thuốc tiên.

Anh ta còn đang nghĩ bụng sẽ quay trở lại ruộng mía vào lúc xâm xẩm tối chợt thấy bốn năm người mặc quần áo chàm đang sục sạo trong bụi cây ở đàng xa. Hết hồn hết vía, 982 xách bao bố, dắt nhanh con dao rồi bất kể gai góc sình lầy, đâm đầu chạy thẳng một thôi dài mới dám dừng lại thở. Chất nước ngọt bổ dưỡng của mấy khúc mía coi như tiêu tan hết vì cuộc chạy tốn sức vừa rồi. Hai chân tóe máu lênh láng lúc nào không biết. Hèn gì trong khi chạy 982 có cảm giác nhột nhột ở hai mu bàn chân!

Đêm xuống, trời bỗng lạnh khác thường! Gió rừng thổi ào ào. Ngồi trên cây, 982 run bần bật. Anh ta chụp bao bố qua đầu xuống đến vai, quấn chặt lại cho ấm, chỉ để thò đầu ra ngoài, rồi lấy chiếc áo cánh rách trùm lên đầu, hai tay áo buộc dưới cằm. Đêm đó, 982 nghe thấy tiếng nói mớ và rên hừ hừ của anh nên hốt hoảng tỉnh dậy mấy lần.

Sáng ngày thứ năm, 982 thức thật sớm. Trong rừng, còn tối thui. Đến tiếng đồng hồ sau mới nghe tiếng gà rừng gáy rồi trời sáng rõ. 982 vừa lộ vẻ nhọc mệt vừa lộ vẻ tàn nhẫn, dữ tợn. Hôm nay, anh quyết định làm hai việc phi thường. Nếu không, sẽ bỏ mạng trong rừng.

Trước tiên, anh sẽ đường hoàng đi trên đường mòn. Gặp người, sẽ xin ăn, không cho thì cướp, nếu cần, dùng dao. Không lẽ bó tay chịu chết.

Thứ hai, vào trong Bản ăn trộm. Trộm thức ăn, quần áo và đồ vật khác nếu được, nhất là cái “bùi nhùi” đánh lửa và con dao rừng. Đi rừng mà thiếu dao sắc, khỏe, có cán dài, là không được.

Ăn trộm được ngũ cốc sống vào rừng đốt lửa nướng chín làm lương thực ăn đường rồi đi một mạch về Chi Nê, Nho Quan. Chứ vượt ngục đi trốn trong rừng mà cứ lẩn quẩn, ngơ ngác mất hồn mất vía vì đói, trước sau gì cũng đến hậu quả thảm khốc là chết gục, hoặc bị bắt lại.

Chi bằng, liều trong hoàn cảnh nguy nan thập phần này.

982 hăng hái mở hầu bao bốc một dúm gạo sống nhai từng miếng nhỏ. Cần có chất gạo cho cơ thể mới đủ sức thực hiện ý định. Đây là lần đầu tiên, 982 đành ăn gạo sống sau mấy ngày nhịn đói trong rừng.

Nhai gạo xong, tìm một vũng nước mưa đọng trong hõm đá 982 ngắt lá làm môi, múc nước bốn năm hơi. Rồi xách bao bố lững thững ra con đường mòn. Có chất ngũ cốc trong bao tử, 982 tỉnh táo đôi chút.

Mặt trời đã lên cao, chim chóc ríu rít hót rộn rã trong rừng.

982 nhìn mặt trời để định hướng phương hướng như anh có thói quen mỗi lần lên đường sau chặng nghỉ. Rồi lầm lũi đi về khoảng rừng thưa cây, đoán thế nào cũng gặp đường mòn, tay xách chiếc bao tải đã buộc gọn thành một gói nhỏ, tay kia chống gậy cho khỏi trơn, con dao găm gài ngang thắt lưng lẩn sau vạt áo cánh, sẵn sàng…

982 hầm hầm tức giận. Giờ phút này nước đến chân, anh mới thấy rõ mấy ngày qua không có ngay kế hoạch phấn đấu để giành sự sống mà chỉ trông chờ ở sự may rủi tìm được thực vật, hoa quả trong rừng, thật là ngu dại! Tất nhiên, không tìm được là bị lả, bị kiệt sức. So với lúc mới ra đi, sức chịu đựng của 982 đã giảm sút rõ rệt.

– Ta chết đói trong rừng, chết nhục nhã, có đứa nào thương ta đâu? Thế tại sao ta không thí mạng để cướp mà có, giết mà sống?

Trước kia, ta tranh đấu cho “thiên hạ” nên mới khổ, mới bị tù tội như thế này. Giây phút này, ta chiến đấu cho sự sống còn của chính bản thân, cho khỏi chết đói như con chó hoang. Sao không được?!

Chuẩn bị tinh thần bằng những ý nghĩ trên, 982 vững bụng hơn rất nhiều.

Giờ phút chót, 982 chủ trương dùng sức mạnh giành sự sống. Nghĩa là để vượt qua cơn đói khổ cực. Rừng, thiên nhiên không cho thức ăn bỏ vào cái bụng lép xẹp, buộc lòng cướp của đồng loại vậy.

Đang suy nghĩ, tự biện luận với mình, anh ta giật mình đến thót một cái, ngồi xuống nấp sau một bụi rậm. Từ phía lùm cây trước mặt, lố nhố có ba người đàn ông tiến lại gần đi hàng một. Cả ba đều đội nón lá, mặc quần áo ka ki kiểu cán bộ cao cấp, lưng đeo ba lô giầy cộm.

Tới trước bụi cây 982 đang nấp, tình cờ làm sao, người đi giữa dừng lại đốt thuốc lá. Hai người kia cũng dừng theo và khi người nọ đưa cho mỗi người một điếu, hai người kia lễ phép cám ơn rồi xin lửa mồi thuốc, 982 tái mặt vì sợ. Nếu họ đi vòng ra sau bụi cây chừng năm thước thôi, thế nào 982 cũng lộ nguyên hình là tên tù vượt ngục đang bị săn đuổi. May thay, họ chỉ dừng lại nói chuyện vài giây. Cả hai người cùng võ trang súng lục, một người rõ ràng là cấp chỉ huy của hai người kia, dắt hai khẩu súng lục, một khẩu rất lớn.

982 ngạc nhiên hết sức khi chợt nhận ra “người chỉ huy” có bộ mặt rất quen, nhất thời vì hoảng hốt anh không nhớ ra là ai.

Người nọ lạnh lùng hỏi:

– Còn chừng bao nhiêu cây số?

Một người lễ phép trả lời:

– Thưa đồng chí, chừng 13, 14 cây số nữa.

– Gần đây, có “căn cứ” nào của ta không?

– Dạ có…trong làng Mán, cách trại 3 cây số.

Người chỉ huy ngẫm nghĩ rồi hỏi:

– Ở khu này, ta có “tiểu tổ” nào không?

– Dạ, có…cách đây chừng hai cây số, trong một xóm nhỏ…gần làng Mường X…

– Vẫn liên lạc điều hòa chứ?

– Vẫn điều hòa…

Người chỉ huy ngẫm nghĩ giây lát, rồi nói:

– Nhân đi qua, ta vào liên lạc trước, báo tin vài hôm nữa ta sẽ đưa về đây nghỉ ngơi ít ngày, những anh em bịnh tật, ốm đau. Rồi mới đưa đi sau. Cho họ bố trí trước. Giấy tờ, chứng minh thư hợp lệ ta đã có đủ hết.

– Dạ…

Bàn tính xong, họ tiếp tục đi hàng một như trước, 982 chưa dám ló đầu ra vội, ngồi một lúc thật lâu cho hoàn hồn. Anh ta băn khoăn quá, cố bới trong trí mà vẫn chưa nhớ ra “người có bộ mặt rất quen” đó là ai? Hắn là giám đốc một trại giam nào chăng? Câu chuyện họ nói có ý nghĩa như thế nào?

982 bỗng buốt đến nhói một cái ở chân, lật đật cúi xuống coi. Có mấy con vắt bám vào những vết thương ở chân anh ta hút máu. Cau có, 982 nắm chặt ngang mình con vắt, nhưng mình nó trơn quá, đành phải nhổ nước miếng vào mới bứt ra được. Nước miếng anh khô đặc như cơ thể anh thiếu cả nước. Tư tưởng giành sống lại dồn dập trong đầu. Gần đấy có một tảng đá cao, anh ta thụt xuống ngồi nấp, mắt lom lom nhìn ngược, nhìn xuôi trên đường mòn.

Từ xa, một người đàn bà thiểu số gánh một gánh thóc hay gạo gì đó. Khi thiếu phụ tới gần, 982 thấy mụ còn “địu” một đứa nhỏ sau lưng. Đầu đứa nhỏ nghiêng về một bên, lắc lư theo nhịp bước. Anh ta cuống cuống nhìn phía trên, phía dưới. Đường vắng tanh không một bóng người! Chỉ có lá cây xào xạc. 982 tự hối thúc: “tấn công luôn đi, không thì chết đói”.

Nghĩ vậy, 982 bật lên như chiếc lò xo, nhẩy phắt xuống đường dữ tợn như tên cướp thực thụ, chắn ngang lối đi, vung cây gậy trong tay ra hiệu ngừng lại. Thiếu phụ Mường thất kinh, la lên một tiếng, đứng sững nhìn 982, lắp bắp không thành tiếng:

– Cái gì? Cái gì?

Thiếu phụ nói tiếng Việt khá rõ ràng. 982 quát lớn, để tự trấn tĩnh hơn là dọa nạt đối phương:

– Đứng lại, tôi hỏi…

Thiếu phụ ngó sững kẻ cướp đường, chừng như thấy bộ vó của y không đáng sợ, liền đặt gánh xuống thật lẹ, rút ngay con dao rừng đặt trên đòn gánh mà lúc đầu 982 không thấy, lăm lăm cầm tay. Coi bộ thiếu phụ sẵn sàng đối phó bằng khí giới. 982 phân vân khó nghĩ, nhìn thẳng vào mặt thiếu phụ. Mụ ta cũng nhìn vào mắt anh, cặp mắt mụ sếch, sáng quắc, dữ tợn. Khi thấy kẻ lạ gầy còm, mặt mày lơ láo như đang có bịnh, râu ria lởm chởm, thiếu phụ đoán chừng không phải kẻ cướp nên tỏ ra bớt hung hăng. Tuy thế, mụ ta vẫn gắt gỏng, lăm lăm con dao rừng:

– Muốn cái gì?

Lạ thay, trong phút giây, bao quyết tâm hung hãn biến đâu hết. Giọng nói bỗng trở nên nhọc mệt, 982 chậm rãi gần như phân trần:

– Tôi đi làm rừng xa, bị bệnh, phải trở về quê gần Nho Quan, Vì lạc đường, không tìm được nhà bà con. Tôi…đói quá. Xin cho tôi một miếng ăn, làm phúc…Tôi đói quá, cô ơi!!

982 không nói sai, anh đang đói thắt ruột thắt gan. Nhưng anh ta muốn nói những lời tử tế trước khi đi đến chỗ quyết liệt. Hai tay ôm bụng, thoáng trong một giây, mồ hôi anh vã ra đầm đìa trên mặt, trên cổ, khiến anh ta đưa ngón tay gạt mồ hôi, vẩy xuống đất. Thiếu phụ nhìn 982 từ đầu đến chân rồi hỏi:

– Đói…hả? Tôi không…

Chưa nói hết câu, thiếu phụ chừng nhớ ra, cúi xuống giở mẹt đậy thúng. Thúng đựng toàn thóc…thóc! 982 thất vọng quá, thở dài. Thiếu phụ quay lại thúng sau, giở mẹt, 982 sáng mắt lên khi thấy một củ khoai lang luộc nằm giữa thùng thóc. Thiếu phụ chìa củ khoai cho 982, rấm rắn nói:

– Có một củ khoai để dành cho thằng nhỏ này ăn khỏi đói. Nó chưa ăn. Thôi, ông ăn đi. Tôi gần về đến nhà rồi.

982 run run đưa tay ra chụp lấy củ khoai lang, miệng lí nhí “cám ơn” rồi bẻ luôn củ khoai bỏ nào miệng nuốt. Hai hàng nước mắt 982 bỗng trào ra. Không biết anh ta khóc vì tủi thân, vì đẩy lùi được thần đói một ngày, hay thoát nhúng tay vào máu một cách vô ích? Củ khoai ngọt lừ như mật ong, chưa kịp nhai đã nuốt hết, chỉ nhấp nháy là 982 lại vẫn tay không!

982 mút tay chùn chụt như để “ăn” hết cái hơi khoai còn dính rồi ngẩn ra nhìn thiếu phụ, quên phắt vai trò cướp đường đang đóng. Củ khoai tuy lớn nhưng không thấm đâu với một người ba, bốn ngày nhịn đói. Bất giác, 982 lại chìa tay như người ăn xin:

– Làm phúc cho tôi xin một củ nữa, khoai sống cũng được.

Thiếu phụ nhăn mặt, lắc đầu:

– Không có! Hết rồi!

Ngừng giây lát để quan sát, thiếu phụ lại nói:

– Đi theo tôi về Bản, tôi cho ăn no…

Chưa kịp quyết định ra sao, 982 lại hết hồn hết vía. Một bọn chừng mười người có vẻ là du kích quân địa phương đang đi tới, chỉ còn cách chừng 300 thước. 982 thoáng thấy những thanh mã tấu và những ngọn súng trường chỉa ngang chỉa dọc. Anh ta hoảng hốt ngó thiếu phụ, như năn nỉ:

– Tôi xin gánh đỡ cô về Bản…

982 nhặt lẹ đòn gánh, luồn vào quai quang, đặt gánh lên vai bước đi thoăn thoắt. Hơn năm trời làm tù trong các trại giam cộng sản, 982 gánh thạo như một nông phu thực thụ, và cũng vì thói quen ở trại giam vừa gánh vừa chạy. Thiếu phụ lẽo đẽo theo sau, không nói năng. Tới một bụi rậm, anh kín đáo quay lại ngó chừng bọn du kích quân. Chúng vẫn nhấp nhô ở đàng xa, như đang theo dõi anh.

982 bước mau hơn nữa. Nhưng có tiếng thiếu phụ Mường gọi, chỉ có anh đi vào con đường ngoằn ngoèo khác. Đi được một thôi đường, ngó lại thấy đám dân quân đã sang đường khác, 982 giả đò loạng choạng rồi đặt gánh xuống. Vết thương làm mủ ở hai cổ chân bật chảy máu chan hòa. Anh ngồi xuống xuýt xoa, bóp chân. Thiếu phụ Mường ngó thấy, thương hại:

– Kiếm lá mà đắp cho mau lành.

– Lá gì?

Thiếu phụ không nói, lại bên một bụi cây, kiếm loanh quanh rồi hái một nắm lá đầy chét tay, đưa cho 982 và nói:

– Giã nát ra rồi đắp vào vết thương.

982 lẳng lặng cầm, thấy hình dáng lá giống như là “nhọ nồi” ở miền quê, anh lại hỏi:

– Cô ơi, từ đây về Nho Quan Chi Nê còn bao đường đất?

Thiếu phụ ngẫm nghĩ, lắc đầu tỏ vẻ xa lắm rồi trả lời:

– Sáu, bẩy…ngày đường!! Xa lắm!

– Đi về phía nào?

Thiếu phụ nhận định, chỉ tay về hướng Tây Bắc và nói:

– Đó…Chi Nê, Nho Quan ở mạn đó.

982 nhìn thiếu phụ Mường, nhìn đứa bé “địu” trên lưng, đột ngột chắp tay nói:

– Cám ơn cô đã cho ăn. Thôi, tôi xin đi…

Rồi vội vã đi thẳng vào khoảng rừng phía tay phải, trong khi thiếu phụ Mường còn ngạc nhiên, không hiểu tại sao anh ta bất ngờ bỏ đi. Thật ra, 982 đã suy tính, tù vượt ngục, không có giấy tờ, chứng minh thư gì trong người lại dấn thân vào làng Mường một cách công khai, khác chi nộp mạng cho nhân dân, cho ủy ban địa phương đó.

Khi nẫy, anh phải gánh thóc cho thiếu phụ mà anh đã chặn đường “đòi tiền mãi lộ” vì sợ tụi dân quân thấy anh đi một mình nghi ngờ, đuổi theo xét giấy tờ chăng. Có làm bộ gánh như thế mới có thể đánh lừa họ mà thoát thân.

Được một quãng, không thấy bóng người, 982 quặt sang mé rừng bên trái, vừa đi vừa chạy đến hơn cây số mới ngồi nghỉ bên gốc cây đa cổ thụ. Anh ta sợ cả thiếu phụ Mường lẫn bọn du kích quân.

982 kiểm điểm lại kế hoạch giành sống, điểm hai: vào trong Bản, ăn trộm cơm hoặc bánh đúc ngô hay bất kể thứ gì, thịt thà cá mú, rau cỏ, thức vật gì nuốt cho khỏi chết đói là được.

Ngẫm nghĩ xong, anh nhìn những căn nhà sàn ở lưng chừng núi, tính nhẩm xa, gần rồi tự nhủ:

– Ta chờ vào khoảng 2, 3 giờ chiều, giờ đó dân thiểu số thường làm việc ngoài nương, rẫy. Nhà họ không có người, thuận tiện nhất cho ta hành động.

Bấy giờ mới khoảng 10 giờ sáng, 982 tính leo lên cây đa um tùm nghỉ ngơi một lúc cho tỉnh táo, khỏe sức. Anh vừa thấy trong mình có triệu chứng sắp lên cơn sốt.

982 định bụng lấy trộm được ít nhiều gì cũng phải rời vùng ngay, cao chạy xa bay là thượng sách. Càng sớm về tới Chi Nê, càng tránh bớt được rủi ro.

Trên cao, cây đa cổ thụ chỉa ra làm mấy thân lớn, xung quanh thân cây chi chít cành lá, rễ rủ chằng chịt, đứng bên dưới không thể thấy người nấp trên cây, thật tiện cho anh vô cùng. Từ hôm trốn lủi trong rừng, chưa gặp cây nào có đủ “tiện nghi” như cây đa cổ thụ này.

Ánh nắng buổi trưa nhấp nhánh trên vòm cây, 982 lót bao bố làm gối rồi đưa tay lên che mặt, thiu thiu một lát. Chốc nữa, anh phải dùng đến sức mạnh và sự lanh lẹ để sống còn…

Sực nhớ đến chét lá “nhọ nồi” thiếu phụ Mường ngắt cho lúc nãy, 982 moi trong bao tải ra một nắm, dùng dao băm nát rồi đắp vào vết thương, lấy chiếc quần “không đũng” bao kín chân lại. Xong, anh ta nằm ngửa trên thân cây, cố nhắm mắt nhưng không sao ngủ được, phần vì ruột gan cồn cào, phần hồi họp vì sắp làm một việc chưa bao giờ dám làm.

982 tự an ủi:

– Trong hoàn cảnh hiện thời, nếu vạn bất đắc dĩ ta có ăn trộm, ăn cắp cũng không phải là điều xấu xa, đáng chê trách. Có đáng chê trách chăng, là khi thấy một kẻ trộm, ta không độ lượng mà xét cho hoàn cảnh bĩ cực cùng đường, đã xô đẩy hẳn đến hành động này. Thế thôi!

Vả lại, sau này, thiếu gì cách cho ta chuộc…lỗi!!

982 cứ lẩn quẩn biện luận như vậy để tự bào chữa và thêm can đảm. Mãi đến lúc đứng bóng, mới chợp mắt trong một giấc ngủ chập chờn, mệt nhọc.

Đang ngủ anh ta bỗng hốt hoảng, liệng bọc đồ, cây gậy xuống đất rồi tụt xuống. Thấy hình ảnh chung quanh chập chờn không rõ, 982 biết mình lại bị hoa mắt vì đói nên nhắm mắt ngồi dựa gốc cây để tự trấn tĩnh.

Được một lát, 982 xách bọc đồ, cầm gậy lại bên giòng suối cách đấy một khoảng ngắn, rửa mặt và vết thương ở chân cho sạch sẽ. Anh giặt luôn bộ quần áo rách, hôm vừa rồi bị ướt nước mưa nên hôi quá. Ngồi lên tảng đá nằm sát ven suối, 982 vừa giặt vừa suy nghĩ. Nhân dịp này, ngoài việc quan trọng nhất lấy trộm thức ăn, sẽ cố lấy trộm được “cái bùi nhùi đánh lửa” của dân thiểu số. Nếu có quẹt lửa thì hay quá nhưng người thiểu số ít dùng quẹt mà vẫn dùng lối đánh lửa bằng bùi nhùi như thời thượng cổ. Đó là một vật dụng bằng gang, hình dáng giống như cối giã trầu, lớn bằng cái hột vịt, trong lòng cối có để bông gòn hay sơ tre, sơ nứa thiệt khô. Muốn đánh lửa, người thiểu số cầm một mẫu sắt vuông cạnh như cây thước kẻ của học trò nhưng sứt sẹo lồi lõm, siết mạnh vào thành cối liên tiếp mười cái. Tia lửa tóe ra bén vào bùi nhùi, thổi mạnh mấy cái cho lửa phừng lên, mồi sang đóm là có lửa.

Trong rừng, nhiều trường hợp rất cần đến lửa như nướng khoai, nướng sắn, nướng hạt mít, nướng thịt chim chóc, thú rừng v.v…

Ngoài ra, sẽ lấy trộm luôn một con dao rừng để tự vệ cho chắc chắn.

982 giặt xong, đặt đồ trên tảng đá, chụm tay múc nước rửa mặt lần nữa, khi đó mới thấy râu tóc mọc dài quá, rõ là tù vượt ngục. Bỗng 982 nẩy ra ý tưởng muốn coi mặt mũi mình ra sao, đã bốn năm tháng nay không có dịp soi gương ngắm nghía “nhan sắc” Khờ quá! Những dấu vết lộ liễu nhất lại không tìm cách che dấu!

982 đợi cho mặt suối phẳng lặng lại mới vươn cổ ra ngó xuống nước, soi bóng. Anh quay mặt nhìn nghiêng bên trái, bên phải rồi thốt nhiên thở dài: Không dè mặt anh vêu vao đến thế! Nhìn mãi bóng mới nhận ra là bóng mình! Hai mắt trũng sâu, gò má sát tận xương, vành môi như quằn teo lại để lộ cả răng. Trông mà phát kinh người.

982 ngẫm nghĩ, thừ người một lát rồi lại nhô đầu ra ngắm bóng lần nữa. Anh lẩn mẩn tự hỏi không hiểu sao lúc này còn có can đảm, bình tĩnh ngồi đây soi bóng. Thật lạ lùng, không hiểu tâm trạng mình ra sao nữa…

Bóng 982 vừa rung rinh tan vỡ đã ráp lại nguyên vẹn, in lên nền trời phản chiếu dưới nước. 982 bỗng nghiêm nét mặt, hoảng sợ đến lặng người. Dưới nước, anh ta thấy bóng một người mặt rất nhỏ đứng trên cây nhìn anh rồi biến mất trong chớp mắt.

982 hoảng hốt đứng phắt lên ngó dáo dạc rồi ngẩn nhìn đám cành lá trên cây kế cận. Quả nhiên cành lá vẫn còn đang lay động một cách khác lạ. 982 nhìn kỹ, phát giác một con khỉ đang ngồi yên trên cành tò mò nhìn anh. Gần đấy, còn hai ba con khỉ nữa. Thở phào một cái để trút hết nỗi sợ, 982 mang dép vào chân, nhặt bộ đồ vừa giặt, nhẩy qua một cái vũng nước. Mấy con khỉ bỗng chí chóe báo hiệu cho nhau. Giá bắn được một con mà nướng thịt thì ngon biết chừng nào! Nhìn kỹ thấy mấy con khỉ đang ăn chuối, 982 lặng người đi vì thèm, rãi rớt đầy miệng. Sực nhớ qua một kế, anh ta bèn nhặt hòn đá liệng nhẹ vào đám khỉ.

Vẫn không có kết quả, anh nhặt mấy hòn đá nữa tung lên nhè nhẹ vừa tầm gần tới chỗ đàn khỉ nấp trên cây. Tức thì có hai quả chuối nguyên vẹn và một quả ăn dở dang còn một nửa, liệng tới tấp xuống. Thì ra, bọn khỉ vốn có tánh hay bắt chước, đã mắc mưu 982 và liệng thức ăn xuống cho anh ta 1.

Không thể kể hết nỗi mừng của 982. Anh ta lượm chuối nhanh hơn khỉ, bỏ lọt vào miệng nhai cả vỏ. Sự tình cờ may mắn đã cho hai trái chuối rưỡi với ba cái vỏ, 982 hấp tấp nhai nuốt hết ngay, làm như sợ đàn khỉ đòi lại.

Mặt 982 đã tươi tỉnh phần nào. Anh tính quay về cây đa cổ thụ ngồi nghỉ chừng nửa giờ, giấu bọc đồ trên cây. Được thua gì anh cũng trở về đây, ngủ qua đêm, sáng mai sẽ lên đường thiệt sớm! Khi hành tích bị lộ và vụ trộm bị phát giác, phải xa lánh ngay vùng này.

Gần cây đa có một cây gỗ dầu cao vút, vượt khỏi góc rừng, đứng xa cũng thấy. Hành động xong, 982 cứ ngó ngọn cây dầu làm đích sẽ tìm được ngay “sào huyệt”.

Ăn được mấy trái chuối, 982 hết nôn nao trong bao tử. Chuối ngon ngọt đã đành nhưng vỏ chuối cũng bùi bùi, chan chát có một hương vị đặc biệt, lâu lắm 982 mới gặp lại hương vị thích thú như thế.

– Thôi, giờ ta vào Bản…

982 cầm cây gậy, dắt con dao vào thắt lưng, len lõi nhắm hướng những căn nhà sàn ở lưng chừng núi. Nhưng càng tới gần càng thấy trong lòng xôn xao hồi hộp lạ thường.

——————-
(1) Đây là một phương kế tù nhân thường làm rất có hiểu quả để chiếm thức ăn của khỉ.

—>18

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.