Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

1.

Lúc bấy giờ vào khoảng sáu giờ chiều, một chiều cuối Thu.

Gió núi từ tứ phía thổi lại, tạt qua Trại giam Đầm Đùn, liên tiếp đem đến những cơn rùng mình cho các tù nhân trong trại. Và đem những nỗi nhớ quê nhà, nhớ vợ, con cho những tù còn những kẻ thân yêu mà nhớ. Dưới chế độ cộng sản, những người thân yêu còn lại thật là hiếm hoi. Khi người ta ít có thì giờ nghĩ đến chính mình thì hơi sức đâu nghĩ đến kẻ khác để tạo nên những kẻ thân yêu!

Nhất là tù nhân trong Trại giam Đầm Đùn lại càng có ít thì giờ hơn nữa.

Một bọn tù mười người do Trưởng toán dẫn về trại sau khi rửa mặt mũi chân tay tại cái ao đục ngầu ở cuối vườn. Họ đi không có thứ tự cho lắm vì sau công tác này họ được nghỉ xả hơi năm, mười phút đợi giờ ăn cơm. Có ba người trong toán đi chậm hơn cả, lùi mãi về cuối: hai người bị xiềng một chân và một người trung niên chừng như bị đau chân nên đi khập khiễng. Dáng điệu vụng về, chậm chạp, nét mặt nhăn nhó ủ dột, người trung niên tò mò ngó cảnh tượng chung trong trại. Mấy người đàn bà gánh nước tưới rau trong vườn đang cất thùng vào kho và bà già quét lá ngoài sân cũng đã cất chổi đi rửa mặt, rửa tay để về trại phụ nữ ăn cơm. Người trung niên dáo dác kiếm Trưởng toán và khi nhận ra người này đứng ở mé đầu hồi đằng kia, anh ta lật đật bước những bước thật dài tới gần.

Trưởng toán đếm đầu người của Toán mình rồi khẽ gọi, giọng hơi gắt:

– 271! Lại đây, ăn cơm.

271 là số tù của người trung niên nọ. Trong trại, người ta thường gọi người tù bằng con số, bạn thân với nhau mới gọi tên mà thôi.

271 lừ lừ tiến lại bên một mâm cơm, ngồi xổm xuống như các bạn đồng trại. Trưởng toán cũng ngồi xuống với bốn người kia, thành năm người một mâm. Những tiếng rì rào nói chuyện nổi lên từ đầu hồi đằng này đến đầu hồi đằng kia. Tuy nhiên, chưa ai cầm đũa như còn đợi hiệu lệnh. 271 ngó xuống mâm cơm mà thấy chán ngấy đến cổ họng. Anh ta biết trước không thể nuốt hết được nửa chén cơm. Trái lại, những tù nhân khác lại như nôn nao chờ được ăn vì họ có vẻ đói quá sức. Mâm cơm là một cái mẹt đan bằng những thanh tre dày dặn. Trên mâm, có một đĩa rau muống, một tô nước rau trong vắt như nước mưa, một dúm muối đựng trong một chén đàn miệng chén mẻ gần hết, và một đĩa muối mè, vì ướt nên mè trở nên sẫm màu. Giữa hai mâm có đặt nồi cơm gạo hẩm đầy tới miệng. Một vài người lộ vẻ nóng ruột ngoái cổ lại phía sau, như để nhìn vật gì mà 271 nhất thời không đoán ra.

Bỗng ba tiếng kẻng vang lên.

Tiếng đũa chén lao xao chạm vào nhau cùng với tiếng nói thì thào, tuy nhỏ nhưng vì số người đông bảy tám trăm nên cũng thành ồn ào như phiên chợ nhỏ. Thì ra tiếng kẻng là lệnh cho khởi sự ăn cơm. Trưởng toán lần lượt sới cơm vào các chén. Y sới cơm như máy, vục chén vào nồi xúc mạnh một cái. Cầm ngay ngắn chén cơm, rồi bằng hai chiếc đũa, y gạt ngang miệng chén một lượt. Thế là đã sới xong. Coi kỹ lại, không chén nào nhiều hơn chén nào một miếng, tưởng chừng có lấy cân mà cân, cũng chỉ đúng đến thế là cùng. Đó là một nghệ thuật và đó cũng là một việc làm thận trọng để tránh những sự phiền phức đôi khi gây nên hậu quả tai hại. Tù nhân có thể giết nhau vì chén cơm nặng nhẹ không đồng đều, hơn kém nhau tới một miếng như đã có nhiều lần xẩy ra tại Trại giam này.

Chén cơm liền được phân chia cho mỗi người. Khi nhận, người nào cũng liếc nhìn chén cơm của người bên cạnh để so sánh với chén cơm của mình. Cử chỉ đó trở thành một cái tật chung của những người quanh năm ăn đói.

– Anh Toàn! Ăn đi chứ ngồi nhìn à? Cứ ăn đi rồi cũng thấy ngon miệng.

Tù nhân 271 tên là Toàn. Và người gọi anh ta là Mạnh. Buổi trưa, trong sau mươi phút nghỉ ngơi, Toàn làm quen với người bạn tù cùng giường – tù nhân nằm hai người cùng một giường, có khi ba người vì số tù quá nhiều mà giường ít. Toàn được biết Mạnh bị giam ở Trại Đầm Đùn đã hai tháng. Theo Mạnh nói thì anh ta đã phạm tội với nhân dân vì đã tiếp xúc với viên chỉ huy đội quân Pháp khi đội quân này vào khám xét làng anh để bắt Việt Minh và buộc làng anh vào Tề.

Nghe Mạnh khuyên, Toàn gượng mỉm cười đáp:

– Mời các anh xơi cơm đi. Tôi không đói nên không muốn ăn.

Mấy người cùng mâm nhìn Toàn với vẻ mặt khó hiểu. Toàn không hiểu họ muốn gì, có ý định gì? Toàn có ngờ đâu các bạn tù mong ước được Toàn chia phần cơm còn lại của anh cho họ được ăn thêm vài miếng đỡ đói và đỡ thèm. Tại Trại giam Đầm Đùn, tù nhân luôn luôn ăn đói. Từ ngày bị giam, bất kể lúc nào, họ cũng như những kẻ chết đói, luôn luôn thèm cơm hay thèm bất kể thức ăn gì khác, miễn có thể bỏ được vào miệng, nuốt được xuống bao tử cho bớt trống rỗng là tốt rồi.

Trong chế độ Trại giam, khẩu phần được chia ra nhiều hạng khác nhau: A-B-C-D v.v… Tùy theo sự xếp hạng, căn cứ vào thành phần và tội trạng nặng nhẹ, tù nhân được ăn theo khẩu phần dành cho mỗi hạng. Hạng A được 4 miệng chén cơm một bữa. Hạng B, 3 miệng chén. Hạng C, 2 miệng chén và hạng D, hạng đói khổ nhất, được một miệng chén (tức là một nắm cơm) với mấy hột muối, không có thức ăn. Nếu phạm lỗi nặng trong Trại giam, phạm nhân lập tức bị cùm cả hai chân, mỗi bữa một nắm cơm ăn với muối và không được uống cho tới khi gần chết khát. Có người khát quá, cơ thể khô hết nước, phải tiểu tiện vào tay mà uống. Nhưng ác thay, đã khát thì tiểu tiện lại chỉ được mấy giọt mà thôi, tù nhân đành phải liếm láp bàn tay cho đỡ khát vậy.

Với Toàn, bữa cơm này là bữa cơm thứ hai theo khẩu phần hạng C, được 2 miệng chén một bữa. Còn cầm chén cơm ngần ngừ chưa ăn miếng nào, anh ta đã thấy mấy người cùng mâm nhất loạt cho một tay vào cạp quần, móc ra mỗi người hai, ba trái ớt rừng đỏ chót. Sau này, Toàn mới biết tù nhân nào cũng ăn rất nhiều ớt mỗi bữa cơm. Thứ nhất là vì ớt có nhiều sinh tố, bù cho cơ thể thêm chút sinh tố nào hay chút ấy. Thứ hai, vì tù nhân tin tưởng ăn được nhiều ớt có thể ngăn chận được phần nào bệnh sốt rét và bệnh báng nước! Tù đi đẵn củi ở rừng thường có dịp kiếm được ớt.

Chỉ thoáng cái, sau hai ba lần lùa cơm vào miệng, chén của mỗi người đã sạch trơn, họ không dám nhai để chậm tiêu hóa, lâu đói. Dường như đối với tù nhân của trại, hạt cơm chín ngon ngọt quá nên họ ít ăn rau lẫn với cơm, mà nhai cơm riêng, rau riêng. Ăn hết nửa bữa – một miệng chén cơm- trên mâm chỉ còn có chén muối mè: Không ai bảo ai mà họ đồng ý ngầm dành đĩa muối mè cho chén cơm thứ hai mà cũng là chén chót. Trưởng toán lại sới lượt thứ hai cho năm chén mâm này và năm chén mâm kia. Bữa nay đặc biệt làm sao, còn một lượt mỏng cơm cháy. Trưởng toán bèn vét hết cơm trên mặt cháy, chia đều cho mười chén, mỗi chén may mắn được thêm một miếng “lớn” bằng miếng cơm của đứa bé mới tập ăn cơm hột. Rồi lột miếng cháy ra khỏi đáy nồi, sẻ ra làm mười miếng nhỏ bằng nhau, đặt lên mỗi chén một miếng. Có tiếng người xuýt xoa khen, vì trước khi ăn bằng miệng, họ đã cân nhắc và ăn bằng…mắt:

– Chà! Cháy ngon quá, chia miếng cháy đúng như chia phần việc làng. Không ai hơn kém!

Một người bẻ:

– Sao phần việc làng lại không hơn không kém? Tụi cường hào ác bá chẳng được phần lớn hơn những người khác là gì?

Nhưng rồi họ cũng nhồm nhoàm ăn luôn, bỏ dở câu chuyện. Mỗi người sớt vào chén một ít muối mè để ăn với cháy. Có người đã quay nhìn ra ngoài chứ không chăm chú nhìn vào mâm và dòm chừng như lúc nãy vì một lẽ rất giản dị là mâm đã sạch nhẵn và nồi cũng sạch nhẵn, không còn gì để có thể gây ra tranh chấp nữa.

Cố ăn hết chén cơm thứ nhất, Toàn không nuốt thêm được nữa. Anh ta thoáng nhớ đến những bữa cơm ở nhà và những bữa tiệc linh đình ở quận, nơi anh ta giúp việc ông Quận Trưởng với tư cách Thư ký hành chánh. Một người cùng mâm nhìn anh rồi hỏi:

– Ủa, không ăn nữa à? Ăn mau kẻo hết giờ rồi!

Toàn buồn bã trả lời:

– Tôi no rồi.

Hai, ba tiếng cùng cất lên:

– Thôi, chia cho chúng tôi ăn kẻo phí.

Toàn vừa gật đầu đồng ý, một người đã chia chén cơm thừa, sẻ ra cho mỗi người một phần. Ăn cùng mâm, có một người gầy gò, ốm yếu, chừng như mới khỏi bệnh ăn trả bữa, sắc mặt còn xanh mét như tàu lá. Anh ta chỉ lùa hai miếng là bát sạch trơn, vừa nhai, anh ta vừa lết lại gần nồi lặt hết những hạt cơm còn dính lại quanh sườn nồi mà bỏ vào miệng rất hùng… hồn! Sau cùng, anh ta đưa hai đầu đũa vào miệng định ngậm sạch những chất cơm tưởng tượng còn dính vào đũa thì có tiếng người nói: “Coi chừng, phạm quan điểm của nhân dân, nghe không?” khiến anh ta sợ hãi lật đật bỏ đũa, đứng lên.

Nhờ có người nhà mới tiếp tế, Trưởng toán rút trong cạp quần ra một món ăn rất quý: Một quả chuối. Anh ta nhai chuối tóp tép khiến mấy người kia thèm nhỏ rãi. Chao ôi! Ăn cơm xong mà có một trái chuối tráng miệng, còn hạnh phúc nào bằng. Toàn thấy anh ta liệng vỏ chuối trên mâm. Vừa nhìn chỗ khác, khi quay lại. Toàn không thấy vỏ chuối đâu nữa. Ngẫm nghĩ vài giây, anh ta phát giác một sự thật: Không có chuối, tù giành nhau ăn vỏ chuối cũng được no bụng thêm một chút. Sự sống trong Trại Đầm Đùn thật gay go phải giành sự sống từng chút một, khiến người tù bước dần tới mức độ loài vật mà không hề bận tâm.

Toàn bất giác nén một tiếng thở dài. Có thể một ngày kia nếu cần, anh cũng ăn vỏ chuối một cách thản nhiên như mọi đồng cảnh trong trại. Trong một giây, anh bỗng nhận thấy rằng tranh đấu chống cộng sản đã ghê gớm nhưng tranh đấu, vật lộn để giành lại sự sống còn trong một trại giam cộng sản còn ghê gớm, khó nhọc, tủi cực gấp bao nhiêu lần! Sự thật đã hiển nhiên trước mắt!

Ý nghĩ trên làm lóe trong óc anh một chân lý, đồng thời bác bỏ hết những quan niệm, những tư tưởng của anh trước đó về sự sống, về cuộc đời: Miễn sao chịu đựng nổi những ngày bị giam cầm để mà sống sót trở về. Bất giác anh thấy tiếc chén cơm vừa bỏ, tiếc vô cùng. Ngu quá! Trong tù, hạt cơm là hạt ngọc, một hạt ngọc ăn được, nuôi sống con người chứ không vô dụng như hạt ngọc dùng để trang sức! Vậy mà anh đã bỏ một bát đầy ngọc thực!

Bài học đầu tiên trong tù có một tác động mạnh trong đầu óc Toàn đến nỗi khi mọi người đứng lên, bưng mâm chén đi rửa, anh còn bâng khuâng suy nghĩ.

– Cám ơn anh! Thêm được một miếng cơm anh nhường cho, tôi thấy khỏe lên nhiều lắm. Cần phải khỏe hơn, mai mới xay lúa được.

Toàn nhìn người vừa thốt ra với anh mấy lời cám ơn. Đó là một người gầy ốm, mặt sáng sủa có vẻ học thức. Anh mỉm cười:

– Anh em bớt cho nhau miếng cơm, có gì đáng kể. Vả lại tôi cũng không đói.

Toàn liếc nhìn con số 782 trên ngực người bạn ốm yếu nọ rồi hỏi:

– Anh “được” vào đây bao lâu rồi?

– Năm tháng. Tôi tên Tuyên, người Nam Định. Ngày mai, tôi khỏi bệnh và được cắt vào việc xay lúa với anh em…

Rồi hỏi Toàn:

– Anh mới vào hả? Ở đâu đưa đến đây?

– Vào chiều hôm qua. Bị bắt ở Hải Dương.

Mấy người trong toán, dọn dẹp rửa chén xong, đã quay về ngồi túm năm tụm ba nói chuyện. Toàn mới vào còn bỡ ngỡ nên được anh em cùng toán đặc biệt miễn cho rửa chén. Toán của Toàn ngồi chung lại một góc nói chuyện phiếm, chờ đến giờ học tập. Có toán ra ngồi ngoài sân, có toán ngồi mãi gần góc vườn. Không có lệnh bắt buộc ngồi trong nhà nên họ có thể ngồi tản mát nhiều chỗ trong trại.

Mạnh cũng lại ngồi bên Toàn và Tuyên nói chuyện phiếm rồi rút ra gói lá chuối trong có dúm thuốc lào. Anh ta móc trong túi một ống tre khô, dài một gang tay và lớn bằng cây bút chì, đặt một mồi thuốc lào nhỏ vào “nõ”, bật quẹt châm vào đóm rồi trịnh trọng kéo một hơi dài, lim dim cặp mắt thả khói lên không. Lúc đó Mạnh có cái vẻ mơ màng quên hết cuộc đời tù ngục nhưng không quên cất ngay gói thuốc lào vào trong người.

Toàn thèm quá, nhưng không còn điếu thuốc nào đành xin Mạnh một điếu, kéo một hơi tàn hết bã. Mới vào tù được 24 giờ đồng hồ, Toàn đã bắt đầu biết quý vật dụng một cách đặc biệt, kể từ điếu thuốc lào.

Hỏi anh em, Toàn được biết, mỗi ngày ăn cơm chiều xong nửa giờ là mọi người phải học tập một giờ về một vấn đề chính trị hay một vấn đề nào đó liên quan đến sự sinh hoạt và bổn phận của tù nhân trong cộng đồng trại giam. Nhưng có một điều cán bộ học tập không nói ra, đó là trại bắt học tập để biết rõ lập trường và tư tưởng của tù nhân, căn cứ vào đó, người có trách nhiệm quản trị trại sẽ áp dụng những biện pháp thích nghi: Trừng phạt, khoan hồng hay cho “ra bai”.

Toàn biết rõ điều đó lắm nhưng lại chưa biết điều khác. Trong mỗi toán, có tù nhân xin được báo cáo với ban Quản-trị những điều mà ban Quản-trị cần biết về tư tưởng, thành phần cũng như hành động và lý lịch của mỗi trại viên, tù nhân đó làm công việc của mật vụ.

Học tập xong, mọi người được “giải trí” một giờ trước khi ngủ. Nhưng dù mệt nhọc vì công việc lao tác ban ngày đến thế nào chăng nữa, dễ gì vào giường tù nhân ngủ ngay được. Đó là lúc họ kiểm điểm lại công việc trong ngày, coi có sơ suất gì không, về phương diện lao tác cũng như về phương diện phát biểu tư tưởng, trình bầy ý nghĩ với Trưởng toán, với nhân viên ban Quản-trị là hạng người có toàn quyền bắt họ chết hay ban sự sống cho họ. Rồi nghĩ đến gia đình, vợ con, tương lai v.v…Có người, có nhiều người chẩy nước mắt trong bóng tối. Họ khóc mà tuyệt nhiên không có tiếng thút thít vì họ phải nuốt những tiếng thút thít đó vào trong ruột trong gan họ.

Trong Trại thường tội, mỗi giường, một cái chõng tre đúng hơn, có ba tù nhân nằm. Giường chót mới chỉ có hai người nằm là Toàn và Mạnh vì người tù thứ ba chưa…gửi tới trại giam.

Mỗi tù nhân được một manh chiếu mỏng để đắp, mùa nóng cũng như mùa rét, một gối đầu bằng mấy thanh tre đóng trên hai mẩu gỗ vuông, hình dáng như viên gạch thẻ. Sáng dậy, tù nhân có bổn phận gấp chiếu, đặt đúng chỗ mình nằm cho gọn ghẽ. Tất cả tài sản của tù gói trong manh chiếu này.

Trại thường tội chia làm nhiều căn, có vách tre ngăn, mỗi căn kê chừng 30 giường, nghĩa là trên nguyên tắc có chín mươi tù nhân một căn. Mỗi căn và mỗi ngày – 24 tiếng đồng hồ- có tù nhân được luân phiên cử ra làm nhân viên trực để coi đồng cảnh. Ngoài ra, ban Quản-trị còn chính thức cử một giám thị, người của ban Quản-trị, coi tù nhân ban đêm có tù nhân trực phụ tá.

Luật lệ trại giam là phải kiểm soát lại tù nhân trước khi cho ngủ. Người nào người nấy đều nằm ngửa trên giường chờ làm xong thủ tục. Hai ngọn đèn dầu nhỏ đặt trên kệ đóng sát vách, chiếu sáng xuống một dẫy giường, mỗi dẫy giường có ba người nằm, ngoại trừ hai, ba giường khuyết một hoặc hai người. Đó là những tù nhân vắng mặt tạm thời hay vĩnh viễn mà chưa có người thay thế. Ốm nặng sẽ được nằm ngay trên bệnh xá để điều trị, hoặc phạm tội nặng bị nhốt trong xà lim tối, nằm trên sàn xi măng, còn vắng mặt vĩnh viễn là những người đã bỏ Trại giam Đầm Đùn đi “chuyến tàu suốt” để sang bên kia thế giới. Thường họ được giải thoát bằng hai cách:

Mang bệnh mà chết hay bị “ra bai” 1.

Cách thứ ba ít khi xẩy ra, là vượt ngục. Trên thực tế, ít tù nhân vượt trại giam này mà thoát. Có nhiều tù nhân thắt cổ tự tử trong rừng để khỏi bị đưa ra “hành quyết” khi biết rằng không thể nào trốn thoát được màng lưới của nhân dân. Dưới chế độ cộng sản, nhân dân bắt buộc phải làm tai mắt cho chính quyền.

Trong cái yên lặng nặng nề của trại giam, viên giám thị leo lên đứng sừng sững trên ghế, ngó vào đám tù nhân nằm, rồi quát vang:

– Kiểm điểm.

Ngừng một giây để mọi người đủ thì giờ chuẩn bị, y lại quát:

– Bắt đầu.

Tức thì từ số một đến số sau chót, mỗi tù nhân hô to con số thứ tự nằm của mình. Người đầu tiên hố lớn “Một”, người kế tiếp hô “Hai”. Cứ thế, lần lượt cho đến số chót. Người nào hô lầm số sẽ bị phạt truất nửa hay cả phần cơm hôm sau, nặng hơn nữa thì bị vụt thêm năm hay mười roi song rừng đau quắn thịt, hoàn toàn tùy quyết định của giám thị. Những người hô chậm vì luống cuống cũng bị coi như có ý “bất lương” định trốn hay che chở cho người khác trốn. Miệng giám thị có gang có thép, họ buộc tội như thế nào là đúng lý lẽ như thế, không chối cãi vào đâu được!

Bữa nay, không có ai hô lầm hay hô chậm số thứ tự của mình, tiếng hô đều đặn nhẩy từng bước, từ miệng tù nhân này đến miệng tù nhân kia cho đến số 85 là hết. Tuy lắng hết tinh thần chờ đến lượt mình mà khi Mạnh hô “84”, Toàn cũng cứng lưỡi mất một giây mới hô được “85 chót”. May mà giám thị không lưu ý đến sự luống cuống của anh tù mới.

giám thị lại gần đèn sáng ghi sổ rồi ra lệnh cho tù nhân trực tắt đèn dầu thay bằng hai đĩa đèn dầu chai thắp bằng sợi bấc rút ở cây bấc ra, phơi khô.

——————-
(1) Tiếng lóng trong trại giam. Ra-bai: ra bãi để nhận viên đạn tử hình. Việt cộng không cần một tiểu đội hành quyết mà chỉ cần một người với một viên đạn là đủ. Nhiều trường hợp giản dị chỉ cần một cây búa.

Với xác chết, đem “ra-bai” có nghĩa là đem ra bãi, lấp đất.

—>2

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.