Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

19.

Toàn đổi vai gánh luôn luôn mà hai vai vẫn rát như phải bỏng. Ra khỏi Bản Mường một quãng, anh đã moi trong gánh than một búi rơm, quấn chặt rơm trong miếng lá chuối khô làm “độn” lót vai cho bớt rát. Tuy thế, thỉnh thoảng đòn gánh vẫn nghiến vào vai như nhai nát làn da, bắt anh chảy nước mắt, hít hà nhăn nhó hoài. Thanh đi kế bên thấy vậy, chọc tức thêm:

– Ăn ớt hay sao mà chảy nước mắt, nước mũi như thế kia?

Suýt nữa, Toàn buộc miệng văng tục. Anh cố gắng giữ bình tĩnh, gượng cười. Thanh vẫn không tha chế giễu:

– Gớm! Cười tươi quá, cứ như hoa cứt lợn! Có đau vai muốn khóc thì khóc òa lên, không ai bắt lỗi đâu. Quanh đây, chỉ có mấy anh em bọn mình cả.

Toàn giở khóc giở cười, sực nhớ đến câu “khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười”, lặng thinh không đối đáp. Bỗng anh ta chậm bước, điều hòa hơi thở cho bớt hổn hển, rồi cất tiếng ngâm, vẻ khinh mạn lẫn hằn học:

“Ước gì ta có đôi vai sắt…

Anh còn ngập ngừng tìm vẫn chưa nghĩ ra câu dưới, Thanh đã thản nhiên trịnh trọng ngâm tiếp:

Gánh cả sơn hà, khỏi gánh than…”

Cười ha hả lấy làm thú vị, quên cảnh ngộ, hai anh tù thuộc giai cấp tiểu tư sản trong một lúc cảm khái tự trào đã lại để lộ chân tướng thích ngâm vịnh của giai cấp mình. Bộc lộ được phần nào nỗi uất ức, hai người thấy vui vui và khỏe sức được một lúc.

Bữa nay, cùng trong bọn đi gánh than, ngoài Toàn, Thanh còn có Mạnh, 325 và Tuyên. Độc giả còn nhớ, 325 là anh tù bị bệnh nặng lâu quá, nằm nghiêng hoài một bên, tai lở loét và bị ròi “gặm” cụt hết nửa tai lúc nào không biết. Sau một cuộc chiến đấu dai dẳng mấy tháng trời, anh tù này đẩy lui được thần chết mà không ai có thể ngờ nổi, nay đã mạnh khỏe như thường và cũng được “ân huệ” lên làm than!

Xế trưa hôm qua, đoàn tù lên đến trại than giữa cơn mưa lớn, người nào cũng ướt lướt thướt, run cầm cập. Lò than xây trong rừng xa trại đến cây số, dễ gì tù có hoàn cảnh sấy đồ và sưởi ấm. Tù nhân chia nhau chúi vào trong mấy căn trại ngủ, ngồi thu lu cho đỡ lạnh. Hơi người, quần áo ẩm ướt, mồ hôi, những vết thương nặng mùi, tạo nên một không khí quen thuộc. Trong phạm vi nhà tù, tù nhân đổi từ trại này qua trại khác, tựu trung cũng vẫn sống trong một làn không khí tù hãm, hôi thối, lợm giọng, tàn bạo…

May có mấy người bạn cùng toán khi ở Đầm Đùn là Mạnh, Tuyên và Thanh nên Toàn không thấy bỡ ngỡ lạc lõng mấy. Gặp nhau, mấy anh em tay bắt mặt mừng. Thấy Mạnh và Tuyên vẫn gầy gò, lẻo khoẻo nhưng đã bớt tái mét và bụng không trương phình như những người bị chướng khí, Toàn mừng thầm cho bạn và cho mình, tự an ủi:

– Cầu sao được sống sót mà trở về!

Trái với chương trình đã xắp đặt trước, bọn tù lên gánh than sẽ lưu lại lò 24 tiếng đồng hồ, để phụ giúp những công việc cầm kíp. Ngay buổi chiều, họ vào rừng hạ cây, chặt khúc, đục lỗ, những cây lớn cho trâu kéo về lò, những cành nhỏ, tù gánh về để đun nấu trong trại.

Trái với sự phỏng đoán của Toàn và điều này làm anh thích thú nhứt, là trại của tù nhân làm than cất ngay trong bản của dân Mường nhưng riêng biệt một khu. Đây là một sự đề phòng cần thiết, vùng này thường có thú dữ như hổ, gấu, trăn…lợn lòi v.v…tù phải ngủ trong Bản mới có an ninh, không bị thú dữ sát hại.

Toàn ngồi trong nhà chòi, ngó ra những căn nhà sàn xa gần, thấy thấp thoáng những người mặc quần áo chàm. Có những phụ nữ Mường đứng trên sàn, tò mò nhìn về trại tù. Toàn cảm thấy trong lòng êm ái, nhè nhẹ như thời tiết cuối Xuân bữa đó. Dù sao, anh đã may mắn sắp được hưởng một sự tự do tương đối, bớt thấy những hình ảnh chết chóc, khổ cực, xiềng xích. Trên lò than, tù nhân ra vào trại tự nhiên, không lấm lét sợ sệt như ở Trại Đầm Đùn.

Như đã nói, trại của tù làm than là một căn nhà sàn dài đủ chỗ nằm cho dăm chục người…Trước khi bọn Toàn lên, trại than còn có 40 người, một số bị sốt rét liên miên không công tác được, sắp phải tống về Đầm Đùn để chữa bệnh hoặc chờ chết, nên có một số tù khác được đưa lên bổ sung.

Lò than xây dựng ngay trong rừng cách trại chừng cây số, luôn luôn đứng gần giòng suối vì công việc đốt than phải cần đến nước thường xuyên và rất nhiều. Công tác của tù mỗi ngày là vào rừng hạ cây, chặt theo kích thước đã định sẵn cho mỗi toán, mỗi người thích hợp với nhu cầu và kiến trúc của mỗi lò. Cây dài nhất là bốn thước, rồi ba thước tám, ba thước sáu, xuống thấp nhất dần đến 80 phân. Đường kính lớn nhất là ba mươi phân.

Hình dáng lò than như cái bát úp, xây bằng gạch trét với đất sét và bùn vét ở suối lên, đường kính chân lò khoảng sáu thước, có một ống khói thông hơi bên trong lò và một lối ra vào (nhưng không có cửa). Vách lò bằng gạch dầy tới nửa thước, bên ngoài tù nhân còn trét thêm một lớp bùn cho kín, thật kín. Tù nhân phụ trách việc đốt lò luôn luôn săn sóc đến điểm này, giữ lớp bùn bao lò cho kín và ướt vì bùn khô sẽ nứt hoặc rớt xuống, không bọc kín hơi nóng bên trong. Trong trường hợp này than sẽ cháy rạc ra tro hết, hoặc sẽ “sống”, khi đốt, than sẽ nhiều khói và cháy như củi. Bao nhiêu công sức của Trại Sản-xuất và Tiết-kiệm theo khói và hơi nóng bay đi hết, bao nhiêu chén cơm nuôi tù trở thành vô dụng. Những người gây ra “tai họa” bị buộc ngay tội phản động, phá hoại, Việt gian…và có nhiều may mắn được… phong vương hoặc phải chịu nhiều trừng phạt nặng nề khác cho đáng tội!

Sáng dậy, cơm nước xong, tù nhân chia ra từng toán, vào rừng lao tác cách trại ba, bốn cây số. Họ hạ cây xuống, chia theo khích thước đã ấn định cho mỗi người, rồi đục một cái lỗ ở đầu thân cây, luồn dây qua lỗ cho trâu kéo về lò. Lò than có bốn con trâu giúp việc, có thời kỳ chỉ còn hai mà thôi. Trâu cũng bị “tai nạn lao động” và sốt rét như tù nhưng hơn tù ở chỗ trâu chết còn cho tù bữa chén no bụng ngon lành và có giá trị dinh dưỡng như bát yến, mỗi năm may ra chỉ sáng mồng 1 Tết Nguyên Đán, tù mới được đại phúc thưởng thức một lần. Ấy thế mà tù nhớ và mong đợi suốt 12 tháng trời.

Dưới chế độ cộng sản, trâu giá trị gấp mấy mươi ngàn lần bãi phân, và bãi phân có giá trị thực tiễn hơn một người trí thức nên khó có thể tính trâu đích thực trị giá bằng bao nhiên người tù. Chăn trâu, để trâu đói hoặc bịnh mà chết, tù phải đem mạng sống trả nợ…trâu.

Ngoài thời giờ lao tác chia khổ cực với tù, trâu được một hoặc hai người tù chăn cho ăn cỏ trên sườn núi hay dưới thung lũng gần trại. Chăn trâu là một công tác nhẹ nhàng “thú vị” nên chỉ tù nhân “vai vế” hoặc ngoại giao vận động khéo với Trưởng ngành mới được “cắt cử”. Trâu được coi là “anh hùng lao động” cao quý tột bực nên chăn cho trâu ăn cỏ là một việc làm quan trọng, phải tìm cỏ tốt cho trâu no bụng, đặng trâu mạnh khỏe tiếp tục sự nghiệp lao động sản xuất, làm tăng giá trị cho xã hội chủ nghĩa.

Suốt buổi chiều hôm qua, bọn tù vào rừng chặt “cây làm than”, xếp đống lại. Sáng nay, họ lại vào rừng làm cây nữa rồi buộc dây vào lỗ cho các “anh hùng lao động” kéo cây về lò dần dần. Đến trưa, nghỉ ngơi chừng tiếng đồng hồ rồi hơn trăm tù nhân sửa soạn gánh than về Trại Đầm Đùn, cho vơi bớt số than đã ra lò. Sau công tác này, một số tù nhân được làm việc luôn trên lò than.

Khoảng quá trưa một lúc, tù nhân sửa soạn xong, chuẩn bị cân than rồi là lên đường. Lệ thường, mỗi gánh than phải cân được tối thiểu 40 ký 1.

Nhưng lần này Trưởng ngành sản xuất than ra lệnh mỗi người phải gánh 45 ký lô, thể theo đề nghị của một số tù nhân xung phong.

Tù nhân sửng sốt nhìn nhau, hy vọng nghe lầm. Nhưng Trưởng ngành than lạnh lùng nhắc lại: “mỗi người gánh 45 ký lô trở lên”. Cũng có chín, mười người xung phong gánh 50 ký.

Mọi người lẳng lặng chờ kiểm điểm lại. Ai nấy đều cân đúng hết vì nếu gian lận, khi về đến Trại Đầm Đùn, phải cân lại trước khi xếp vào vựa, thiếu cân tù lấy than đâu bù vào cho khỏi bị trừng phạt?

Gánh thêm 5 ký trên vai trên quãng đường 15, 16 cây số là một sự vất vả phi thường. Nhất là trong năm, sáu cây số cuối cùng, 5 ký sẽ thực sự nặng bằng 20 ký đè chĩu vai xuống, lết không nổi…Những người có kinh nghiệm gánh đường trường đã thấy như vậy.

Sau khi hội ý với Trưởng ngành than, giám thị quát lớn, tuyên bố lệnh lên đường. Một tên cảnh vệ hăm hở dẫn đầu. Tiếng ồn ào nổi lên giây lát như chợ họp rồi đòn gánh kĩu kịt, bước chân thình thịch trên mặt đất ẩm, tiếng ho, khạc nhổ, chép miệng thở dài…Đoàn tù gánh than như sợi thun giãn dài ra, dài gấp bốn năm lần khi họ còn xếp hàng đợi lệnh lên đường.

Gánh được dăm cây số, quả nhiên hai “nhà thơ tiểu tư sản” Toàn, Thanh lại tụt xuống gần chót. Hai người cũng muốn đi sau cùng để có dịp bàn tính về vụ 982. Không nói ra, nhưng trong lòng hồi hộp không yên. Toàn rảo bước, đuổi kịp Thanh, khẽ gọi:

– Anh Thanh! Chầm chậm một chút.

Thanh đưa tay vuốt mồ hôi trên mặt, đổi vai không trả lời.

– Nghe tôi bàn đây…

– Chuyện gì!?

– 982…

– Sao, 982…? Bị bắt lại à?

– Không biết! Nhưng tôi thấy khó lòng lắm! Cầu Trời Phật độ trì cho hắn thoát.

Toàn nói giọng buồn rầu:

– Nếu không thoát, thà chết trong rừng còn hơn bị bắt đưa về trại, chịu cực hình.

Thanh nhìn trước nhìn sau, thấy không có người, hỏi:

– Nói dại đổ xuống sông xuống biển, nếu 982 bị bắt đưa về trại thì chúng ta, nghĩa là tôi với anh, phải có thái độ như thế nào?

– Ấy đấy, tôi đang định bàn với anh về điểm đó.

Hai người yên lặng một lúc. Rồi Thanh nói một giọng nghiêm nghị:

– Nếu vì một lẽ gì, chúng ta bị cật vấn và bị buộc là có liên lạc cách này hay cách khác với 982 và Hợi, nhất định khai không dính dáng gì.

Toàn nhắc lại:

– Không dính dáng, không liên lạc gì với 982 và Hợi. Hoàn toàn không. Dù bị tra tấn cũng không nhận, chết thì đành chịu…Nhưng tôi tin…không đến nỗi nào.

– Đồng ý…Nhất định không nhận.

Từ phía sau, một tù nhân đang lặc lè lên dốc đồi, vẻ khó nhọc vô cùng. Toàn và Thanh đã leo đến ngọn dốc, đặt gánh xuống nghỉ mệt, chú ý coi người gánh đi sau chót hết là ai mà dáng quen quen.

Lát sau, chập chững leo lên đến ngọn đồi, người nọ thốt ngửa mặt lên, Toàn bất giác “à” một tiếng:

– 983!

983 là tù nhân từ Việt Bắc về một lượt với 982, bàn tay mặt bị chặt mất một ngón. 982 và 983 bị trói liền một dây với 8 người khác trong khi đi đường đổi trại giam. Nay 982 đã vượt ngục, không biết 983 nghĩ thế nào về vụ này?

Toàn định hỏi nhưng thấy chờn chợn, lại thôi. Trong trại, đã có nhiều người nhận định rằng 983 có “máu” điên.

Nhất là anh vừa thấy sắc mặt 983 tối xầm lại như đang bất mãn uất ức. Đêm hôm kia, rạng ngày hôm qua, lên cơn rét cả giờ, sáng ra lại “bắt buộc” phải xung phong đi gánh than ở lò về, lúc sắp hàng ra khỏi trại, bị giám thị quất cho một roi quắn thịt vì đứng không ngay hàng, 983 bất mãn vô cùng. Từ lúc đó, anh ta cứ hầm hầm như muốn gây sự với bất cứ ai.

Toàn và Thanh ngồi nghỉ chừng dăm phút thấy bớt mệt, hối nhau lên đường đuổi theo bọn người đằng trước đã bỏ xa đến 200 thước. Đặt đón gánh lên vai, trong khi sửa soạn lại để lấy đúng thăng bằng trước, sau, Toàn quay sang thân mật:

– 983! Lên đường với chúng tôi cho vui…!

983 lầm lì:

– Hai anh đi trước đi! Tôi còn mệt lắm. Đi không nổi…không chừng…

Anh ta không nói dứt câu. Toàn đưa mắt cho Thanh rồi thủng thẳng đổ dốc đồi. Được một quãng, Toàn hỏi:

– Thằng cha nói gì, anh có nghe không?

– Không chừng…hắn ta trốn chăng? Vả lại, tù đang bị phong vương còn vượt ngục được, huống hồ…

Toàn lặng thinh, dừng giữa dốc, quay lại nhìn ngược lên ngọn đồi chỉ thấy trời cao vời vợi, mây phơ phất bay như cảnh trong tranh. 983 ngồi nghỉ bên kia dốc nên bị mõm đồi che khuất.

Sự thật, 983 không định trốn nhưng thực hiện một ý định khác. Lượt đi, anh ta đã thấy ở cách xa một con lộ chính vài trăm thước, mấy thửa ruộng trồng mầu, lá đã xanh um. Đó là thửa ruộng trồng khoai lang và khoai mì. Gần đó, còn rải rác nhiều ruộng mầu nhưng không nhận ra trồng gì. 983 đói quá, bải hoải chân tay, đi không muốn nổi nên định bụng khi về sẽ lẩn xuống ruộng, đào trộm ít củ khoai lang ăn sống rồi giấu trong gánh than mang về trại để dành. Không ăn thì “đổi” lấy quần áo cũng được, anh ta hết quần rồi, chiếc quần đang mặc đã rách bươm. 983 đứng trên ngọn dốc cao ngó con đường trước mặt, kiếm giám thị và hai tên cảnh vệ. Thấy thoáng bóng dáng hai tên cảnh vệ mà không thấy giám thị đâu, 983 đoán chừng giám thị đã cùng đi trước với tốp tù đầu tiên. Nhìn lại phía sau, không còn người nào nữa. Anh ta đã biết mình đã “xách đèn đỏ” nên yên trí nhấc gánh lên vai, đổ dốc thật nhanh. Đến ngang bờ ruộng đưa vào đám ruộng mầu, anh ta quẹo ngay vào sâu thêm ít bước nữa rồi đặt gánh, rút trong bó than ra một cành cây vạt nhọn dài bằng cây thước kẻ học trò. 983 xách đòn gánh lom khom chạy thẳng đến thửa ruộng xanh tốt. Cành cây vạt nhọn này, anh ta đã sửa soạn từ lúc chặt cây trong rừng.

Quả nhiên là ruộng khoai lang, 983 mừng rỡ hết chỗ nói.

Khắp bốn phía đều vắng vẻ. Nhìn về con đường cái, đoàn tù gánh than coi lố nhố, nhỏ như hình trong tranh vẽ.

983 ngồi thụp xuống giữa ruộng, lựa luống nào giây khoai “già nhất” nghĩa là là xanh thẫm nhất thọc cây nhọn xuống bới thật lẹ.

Hì hục đào chừng mấy phút, anh ta đã bới lên được dăm củ khoai, củ nào củ nấy lớn bằng bắp tay. 983 bứt hết giây khoai rũ sạch đất, nhìn trước nhìn sau ngó chừng. Trước khi đứng lên chạy về nơi đặt gánh than, không dằn nổi sự thèm muốn anh nhồm nhoàm nhá một củ khoai. Gần đây còn có một ruộng mía. Mía đã cao, bông mía phơ phất, gió thổi lá mía lạt sạt. 983 bỗng thấy khát nước lạ lùng. Anh ta chép miệng nhìn mấy củ khoai ôm trong tay, bụng bảo dạ:

– Chết thì chết! Bẻ một cây mía ăn cho đỡ khát rồi sẽ hay…

983 nghĩ đến chất nước ngọt mát nhừ đường phèn, nuốt nước miếng ừng ực…

Tù nhân Trại giam Đầm Đùn bất kể lúc nào, ngày nào, đêm nào, cũng như sắp chết đói chết khát đến nơi. Chỉ trừ có đất là không cạp được, còn bất kể thứ gì, tù cũng ăn tuốt. Có những tù bị cùm trong xà-lim tối không được ăn đói quá, phát cuồng hay mất trí, xé phăng quần áo đang mặc ra nhai, nuốt cho đỡ đói. Lúc họ nằm chết cong queo rồi, đồng cảnh thấy họ đi tiêu ra toàn giẻ, có mảnh còn lòng thòng nửa trong nửa ngoài. 983 cũng đói cũng khát như các đồng cảnh. Nhưng, nguy hại hơn là anh ta có nhiều sự việc kích thích “chất điên” phát hiện rõ rệt hơn.

Anh ta len lén chui vào giữa ruộng mía, còn đang lơ lơ láo láo bỗng giật mình đứng sững lại, rụng rời hai chân, mấy củ khoai lục tục rơi xuống đất. Trước mặt anh ta, một người đang ngồi ăn mía, đống vỏ mía dưới chân chưa vùi kịp trong cái lỗ ngoáy bằng chân.

Người đó là tên giám thị đã ngược đãi anh ta sáng hôm qua.

Sắc mặt đang tái ngắt bỗng hồng hào hẳn, 983 đột nhiên hết sợ bừng bừng nổi giận, rồi phát lên cười một cách ghê rợn như gặp lại kẻ thù không đợi trời chung mà mình sắp giết. Giám thị không coi tù vào đâu mà nghe tiếng cười của 983, bất giác rợn người. Y cau mặt lại một cách tức tối, nghĩ thầm: “Thằng này muốn nằm lại ở ruộng đây”, rồi đứng phắt lên đặt tay vào bao súng, ngó mặt 983. Thốt nhiên, y quát lớn:

– A! Thằng này ăn trộm khoai của nhân dân?!

Trường hợp này, giám thị bắn chết tù phạm lỗi vô tội vạ. Về trại, chỉ cần báo cáo tù ăn trộm tài sản của nhân dân rồi tẩu thoát là hợp thức hóa vụ giết người. Nhất là bị bắt quả tang xâm phạm tài nguyên của nhân dân một cách ngang nhiên trắng trợn trước mặt giám thị, tên tù lại càng đáng chết. Nhưng giám thị chưa làm vậy ngay, coi thằng tù này định làm gì mà có thái độ như thằng điên. Hoặc nó phát điện thật chăng?

983 lấy lại vẻ bình tĩnh, chịu đựng cái nhìn của giám thị không nao núng, thản nhiên nói móc họng:

– Thì ăn trộm khoai, cũng như ăn trộm mía, cùng là ăn trộm của nhân dân, đều mất lập trường và có lỗi như nhau…

Một tiếng quát lớn khiến 983 nín bặt:

– Câm miệng! Mày có muốn nằm chết ngay tại đây không?

Tù nhân lim dim cặp mắt suy nghĩ vài giây, ôn tồn nói:

– Tôi không thể nằm đây được vì có một sự bí mật vừa khám phá ra, tôi cần trình lên ban Quản-trị chiều nay. Đó là âm mưu phá trại của tù, cùng chủ trương giết hết chức việc trong trại giam, phối hợp với cuộc nhảy dù đổ bộ của quân Pháp đánh chiếm Đầm Đùn…

– Mầy nói cái gì? thằng điên?

Tuy làm ra vẻ cứng cõi nhưng tên giám thị cũng hoảng kinh trước một tin động trời có thể làm sụp đổ uy tín của ban Quản-trị cùng phương hại nghiêm trọng đến chính thể vô sản chuyên chính mà hắn đã góp phần xây dựng từ lúc đảng còn hoạt động trong bóng tối.

– Có lẽ tôi…điên thật. Nhưng tôi đã công khai tuyên bố sẽ tố giác sự việc quan trọng này. Nhiều người đã biết, trong số có trại viên 224.

Giám thị cau mặt suy nghĩ. 224 là tù tay sai của ban Quản-trị vẫn thường dùng khổ nhục kế chịu đòn trừng phạt để dễ dò la đám tù trong trại. Nếu 224 đã biết tin này, hắn không thể giết chết 983 luôn bây giờ. Biết đâu lại chẳng bị nghi ngờ là muốn ngăn chặn sự tố giác vụ nổi loạn trong trại. Có nhiều tòng phạm trong âm mưu đó mới hành động như vậy.

Giám thị hầm hầm nổi giận vì chưa biết xử trí ra sao trong trường hợp tréo cẳng ngỗng, hắn bị tù bắt quả tang xâm phạm tài nguyên của nhân dân. Nếu 983 tố cáo hành động phạm pháp của hắn với ban Quản-trị thì sao? Thật khó nghĩ quá!! 983 nói một cách chắc chắn, minh bạch khiến hắn không thể ngờ bị một tên tù đang nổi cơn loạn trí dối gạt.

– Thôi! Gánh than về trại!

– Chưa được!

983 lạnh lùng chỉ vào đống bả mía giám thị chưa kịp vùi, hỗn xược nói:

– Chú đã ăn mía, ta lại không ăn được sao? Ta cũng là người như chú, đâu ta có phải là con vật?

Giám thị điên đầu lộn tiết. Lần thứ hai, hắn đặt tay lên bao súng, tính “giải quyết” thằng này cách nào cho hả giận mà không gặp trở ngại. Cái khó xử là do hắn không thể phân biệt lời nói của 983 thật hay dối, của người tỉnh táo hay của thằng điên!

Sau một lát ngắn, trong khi 983 đang tước mía nhai ròn gau gáu, giám thị thản nhiên bỏ đi, đuổi theo đoàn tù gánh than. Hắn chỉ vào mặt 983:

– Cho mày ăn cây mía chót trong đời mày!

Sự thật, hắn đã nghĩ ra kế giết 983 một cách tàn ác hơn nhiều cho bỏ hờn chứ nổ một phát súng, cái xác ngã gục xuống chết, đâu có đau đớn gì!

Trong khi 983 vừa nhai mía vừa cười tủm tỉm một mình như thằng…hóa dại, giám thị ba chân, bốn cẳng đi kiếm tù mật vụ 224 trong đoàn gánh than…

Sau khi giải lao với cây mía, 983 lật đật ôm mấy củ khoai giấu vào gánh, xếp than che đậy thật kỹ. Nhưng anh ta vừa đi vừa suy tính. Đầu óc trở lại bình lặng sáng suốt, 983 nhận thấy bịa chuyện tầy trời để “bịp” giám thị như vậy thật nguy hiểm, chết dễ như bỡn. “Không biết khi đó sức mạnh nào đã kích thích khiến ta có những ý nghĩ và hành động lạ lùng, không kiểm soát nổi? Hay ta loạn trí chăng?”

983 tự hỏi vậy rồi phân vân lo sợ, hốt hoảng vừa gánh vừa chạy, chừng 4 cây số sau, đuổi kịp bọn tù thứ hai đang đi một hàng dài. Toàn và Thanh vẫn lẵng đẵng đi chận hậu tốp này. 983 quay sang gọi khẽ:

– 271…!

Toàn vuốt mồ hôi trên mặt, nhìn kỹ 983 rồi hỏi:

– Gì vậy!

– Ăn khoai không?

Đang đói bụng, Toàn mừng quá, kêu Thanh rồi đặt gánh vào mép con lộ, nhìn sững 983. Anh này loay hoay moi trong đống than ra mấy củ khoai, phát cho Toàn, Thanh mỗi người một củ. Nhìn trước nhìn sau, không thấy vũng nước nào để rửa khoai bớt đất, Toàn nhặt một mảnh sành, dùng cạnh sắc cào sơ qua lần vỏ còn dính đầy đất cát rồi đưa lên miệng nhau gau gáu, vội vã đến nỗi nước miếng trắng chất khoai ứa cả ra hai bên mép. Thanh cũng lanh lẹ không kém, chùi khoai qua loa bằng nước mưa đọng trên bụi cỏ rồi nhai liền, khen rối rít là ngọt.

Cả ba ăn hết cùng một lúc. Miếng cuối cùng, họ vừa gánh vừa ăn thủng thẳng cho đã thèm. Còn hai củ, 983 phát luôn cho Toàn và Thanh mỗi người một củ và căn dặn:

– Giấu cẩn thận, nếu để nó bắt được khi xếp than vào vựa thì…rán mà chịu!

Toàn ngẫn nghĩ giây lát, bàn với Thanh:

– Chi bằng cất luôn vào cái túi…da là kín đáo nhất.

Thanh cười đồng ý. Thế là hai người vừa gánh vừa nhai hết hai củ khoai sống nữa. Họ nhớ lại cách đây nửa tháng, một bọn tù đi làm củi trong rừng, bất ngờ kiếm được một trái mít rừng. Mấy người cùng bọn chia nhau ăn lén mít, xong kiếm lửa đốt củi nướng hột mít, ăn hết luôn.

Lượt về, chẳng may trượt chân ngã khi đi ngang mặt giám thị, một anh tù bật đánh trung tiện thối hoăng. Giám thị vốn thính tai, sáng mắt lại thính mũi, bắt được liền hơi hạt mít, buộc anh tù vào tội ăn trộm hoa quả của nhân dân. Tù cố chối kêu oan. Về đến trại, giám thị bắt tù nằm ngửa rồi đạp lên bụng tù cho đến khi bật ra mùi hạt mít, tù hết đường chối cãi! Phạm nhân ngoan cố bị…hai chục hèo và phạt một tuần múc phân cầu tiêu, một hình phạt kinh khủng vì có khi múc phải một mảng da đầu còn tóc bở bùng bục hoặc bàn chân đã bị ròi ăn trơ xương.

Chiều hôm đó, trong lúc ăn cơm tù nhân mật báo cho nhau biết bệnh tả lỵ đang hoành hành trong trại giam và nội từ đêm qua đến trưa nay, đã có chín người chết vì bệnh. Chín cái xác đã được khiêng ra vườn chuối, liệng thành một đống bên hố phân chờ mang ra bãi.

Nghĩ đến chuyện ăn khoai sống, nuốt luôn cả đất cát trong lúc có bệnh thời khí ở trại, Toàn thấy hoảng. Chẳng may bỏ mạng vì mấy củ khoai sống thật là…buồn!

Ăn cùng mâm với Toàn bữa đó, không biết có phải vì sự tình cờ hay không, có tên tù được đồng cảnh đặt cho biệt hiệu “lưỡi dài”. Lưỡi dài đột nhiên có cảm tình rõ rệt với Toàn khiến anh ngạc nhiên…và lo sợ.

Sau bữa ăn, lấy vẻ thân tình, Lưỡi dài nhìn trước nhìn sau rồi thầm thì cho Toàn biết một tin quan trọng: ban Quản-trị đã khám phá được những phương tiện vượt trại của tù phong vương. Phương tiện đó do tù trong trại cung cấp.

Toàn cố lấy vẻ thản nhiên làm như tin đó không liên quan gì đến anh. Lưỡi dài lại tiếp:

– Phong vương 982 bị bắt lại rồi. Hiện đang cung khai đầu đuôi vụ vượt trại với đầy đủ các chi tiết. Làm sao giấu nổi!

Mặc dầu cố trấn tĩnh, Toàn cũng tái mặt như người trúng gió. Bị bắt lại, chắc chắn 982 sẽ phải chết. Và chắc chắn còn nhiều người phải mất mạng.

Tối hôm đó, sau giờ học tập, đợi lúc thuận tiện, Toàn cố giữ cho giọng nói khỏi run, thì thầm cho Thanh biết tin tầy trời. Đến lượt Thanh lặng người đi một lát.

Cả đêm, Toàn hoang mang suy nghĩ, gần sáng mới chợp mắt. Thỉnh thoảng anh lại thấy ánh đèn le lói đi ngang sân và nghe bước chân của cảnh vệ rảo quanh trại ngủ. Kinh nghiệm cho biết chỉ lúc nào tình hình khẩn trương mới có biện pháp canh phòng như vậy.

Sáng sớm hôm sau, sau hồi kẻng lạnh lùng, tù nhân trại thường tội tập họp ngoài sân, sắp hàng ra ao rửa mặt rồi vào ăn cơm trong một nỗi hoang mang lo sợ tập thể.

Toàn hồi hộp quá chừng, ăn vội ăn vàng lo lắng nghĩ ngợi về vụ 982 bị bắt lại, không biết mình có bị liên lụy hay không?

Mới ăn chén cơm thứ hai, Toàn giật nẩy mình khi thấy giám thị Tùng tiến lại, lần lượt nhìn kỹ mặt bốn người trong toán anh, ngó lại số tù từng người, rồi chỉ vào mặt 983 và nói:

– Thằng này lên văn phòng có lệnh của ban Quản-trị.

983 đánh rớt chiếc đũa mà không biết, thốt nhiên đờ đẫn như người lạc hồn. Anh ta nhìn đồng cảnh cùng toán bằng cặp mắt bất thần như người sắp từ giã cõi sống, rồi nói bâng quơ.

– Tớ…no rồi. Anh nào cần ăn thêm, có thể ăn nốt phần ăn của tớ.

Toàn càng tin chắc 983 bị tán loạn tinh thần và chứng bệnh điên khùng đã phát hiện rõ rệt. Đây là lần thứ nhất trong trại giam Toàn nghe rõ ràng ba tiếng “tớ no rồi” từ miệng tù nhân. Trừ những tù nhân bệnh hoạn không nuốt nổi cơm và loại tù đặc biệt khẩu phần hạng A, chưa bao giờ tù được ăn tạm đủ để bù lại sức lao động đã mất, nói chi ăn no bụng. Một hạt cơm vãi dính đất, tù còn nhặt lên đưa vào miệng nhai tóp tép, huống hồ một chén cơm mà lại chịu bỏ? Mặt khác, dù no thật, tù cũng không dám nói như thế trước mặt giám thị.

983 buồn bã đứng lên, cười gượng như mếu trông thiệt thiểu não.

Mấy người tù cùng mâm lấm lét nhìn nhau, thất sắc, hồi hộp nghe ngóng giám thị còn gọi ai nữa không? Toàn sợ đến gần nghẹt thở. Yết hầu anh đưa lên đưa xuống mấy lần vẫn không nuốt trôi nước miếng. Còn Thanh cúi đầu vụng về nhìn mấy cọng rau lang luộc (anh để dành ăn với miếng cơm chót cho ngon miệng) để che dấu sự lo lắng xúc động. Cả hai đều không đoán ra vì sao 983 bị gọi lên văn phòng một cách gay gắt như thế. Theo kinh nghiệm, trong mười lần bị gọi lên văn phòng, tới chín lần gặp nguy hiểm.

Giám thị Tùng hầm hầm không nói. Nhưng mắt y quắc lên và hai cánh mũi phập phồng. Y chợt nhớ đến tên tù phong vương vượt ngục trong cái đêm y vắng mặt ở trại cách nay hơn một tuần. Trong số những đứa giả câm giả điếc này, thế nào cũng có tòng phạm mà chưa tìm ra đích danh tên nào. Thấy mặt Toàn, y nhớ đã có lần sai Toàn mang vật dụng quần áo ra lều phong vương trả cho 982. Y bỗng ngó Toàn làm như định hỏi điều gì song lại nín, đánh đòn gió bằng cách “hừ” một tiếng, quan sát thật kỹ sắc mặt Toàn sau ngón đòn gió, rồi lừ lừ quay sang 983 quát:

– Thằng này! Đi theo lên văn phòng mau!

Ít khi giám thị, nói chung là nhân viên ban Quản-trị, công khai gọi tù nhân là thằng này, thằng nọ hoặc “mầy tao chi tớ” với tù. Vì có lệnh cấm gọi và đối xử như vậy. Giám thị Tùng không cần giữ gìn thì dư biết y căm tức tù đến chừng nào.

983 lõng thõng bước ra sân, giám thị theo liền sau. Toàn có cảm tưởng như nhìn lần cuối cùng một người đang đi thẳng vào cõi chết.

Bỗng anh thấy 983 nghênh ngang ngửa mặt nhìn trời, xong quay phắt lại đảo mắt ngó một vòng trong trại rồi toác miệng ra…cười khanh khách thành tiếng. Toàn nghĩ thầm: 983 phát điên thật sự rồi!

Tuy thế, miếng ăn trong trại giam vẫn là điều quan trọng nhất. Phần cơm còn lại của 983 được chia làm ba phần, mỗi người được ăn thêm khoảng một miếng cơm lớn nên ai nấy đều mừng rỡ như được canh bạc bất ngờ.

Toàn và Thanh ăn xong đứng lên, bắt gặp nhiều đồng cảnh đang quay nhìn về phía hai người thì thầm bàn tán nên càng hồi hộp lo sợ, mong sao mau đến giờ đi gánh than. Ở lại chậm một phút là lo chết người thêm một phút.

Trong lúc Thanh dọn dẹp chén đũa xuống nhà bếp rửa, Toàn lững thững quay vào trong trại ngủ, tính lấy mảnh vải vẫn để dành buộc lên cổ cho đỡ lạnh. Đêm hôm qua, trời bỗng trở rét, anh ho sù sụ, đàm chặn ngang cổ làm anh khó thở muốn lên cơn xuyễn.

Có tiếng thút thít như tiếng nức nở bị chặn lại trong cổ họng khiến anh ngạc nhiên quay lại. Khóc là mất lập trường, sẽ bị phạt. Một ông già râu tóc bạc trắng, đầu cạo nhắn thín, mặt nhăn nhó, mắt đỏ hoe gấp ga gấp gay, đang tập tễnh bước. Chân ông già đeo xiềng, mỗi bước đi, xiềng lách cách chạm vào khoen sắt đeo hai bên cổ chân. Chừng ông già đã được đồng cảnh “mách thuốc” nên biết dùng dây rút quần buộc sợi xiềng treo trước bụng. Thấy một mắt cá chân ông già tím bầm và sưng vù như chiếc bánh dầy nhỏ, Toàn đoán ngay ông già đã nếm đòn “trật búa” của thợ rèn. Mỗi lần đặt cẳng chân bị sưng xuống đất, ông già rên rỉ, muốn khóc mà lại sợ phạm quan điểm của nhân dân!

Hai cẳng chân của tuổi già đã héo quắt lại, thâm sì, chỉ còn da bọc xương, không lớn hơn cánh tay của một người trung bình

Toàn nghe nói ông ta (trước kia có làm Chánh Tổng) bị một tên tá điền nay làm chủ tịch xã, cho bắt giam vào đây để trả nợ nhân dân trong đợt đầu tiên phát động phong trào cải cách ruộng đất tại địa phương.

Một mùi hôi thối nặng nề xông lên vì có hai đồng cảnh vừa đi ngang. Đây là hai tù nhân phạm kỷ luật, bị phạt dọn cầu tiêu công cộng tại trại, múc phân, rải tro, nhào trộn làm phân bón cho ban canh nông sử dụng. Nghĩ đến hố chứa phân, Toàn đã muốn ói mửa. Nhiều tù nhân chết trong hố phân này vì những lý do không thể tưởng tượng nổi.

Sự kinh tởm còn lởn vởn trong đầu óc Toàn cho đến khi anh quay lại nhà Tiểu Công Nghệ, chờ lệnh đi lao tác trên lò than.

Thanh làm xong phần việc sau bữa ăn, cũng đã có mặt tại đây. Từ ngoài sân, một tên giám thị xăm xăm bước lại trước mặt Thanh ra lệnh chi không rõ, chỉ thấy Thanh lễ phép gật đầu. Rồi giám thị quay về phía Toàn ngoắc tay, như gọi chó. Toàn hốt hoảng chạy lại, nhận lệnh: Bữa nay anh được chỉ định xay thóc ở nhà Tiểu Công Nghệ.

Toàn linh cảm tai biến đã khởi sự đến với anh. “Không biết ra sao đây”? Câu đó luẩn quẩn ám ảnh Toàn cho đến khi bóng nắng hiên lùi ra quá bực thềm nhà. Khoảng 10 giờ, một giám thị Mường cầm mảnh giấy có ghi số danh, gọi Toàn và Thanh lên văn phòng. Tuy đã đoán trước phần nào tai biến mà khi thấy giám thị lại gần, Toàn cũng run lên cầm cập. Anh ta than thầm như một người sắp rời bỏ cõi đời:

– Thế là chết!!

——————-
(1)vì than cồng kềnh và nhẹ hơn củi, tù chỉ phải gánh 40 ký lô thôi (LTG)

—>20

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.