Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

22.

Trước đó nửa tiếng đồng hồ, có một sự việc quan trọng xẩy ra, liên hệ đến giám thị Tùng. Cái nhân hắn đã gây, nay cái quả phải đến.

Ông già Mán thân phụ Noọng Slao đút đơn thưa giám thị Tùng đã cưỡng hiếp con gái ngay tại nhà ông. Đơn được trình gấp lên Phó Trưởng ban. Y cho mời lập tức ông già vào phòng riêng, yêu cầu ông già khai rõ đầu đuôi câu chuyện. Vừa nghe, y vừa ghi trên giấy những chi tiết cần thiết.

Một lúc lâu, ông già mới khai xong. Lúc ông ta ra về, Phó Trưởng ban còn đưa ra tận cổng trại và căn dặn ông không sợ áp lực nào hết, luật pháp sẽ bảo vệ cho ông, cho con gái ông và sẽ trừng trị xứng đáng kẻ phạm tội!

Ông già Mán vừa đi khỏi được một lúc, có công văn hỏa cấp tốc giao liên đưa tới trại cho biết chiều hôm sau hay sáng hôm sau nữa, sẽ có nhân viên cao cấp của chính quyền đến thanh tra Trại Sản-xuất và Tiết-kiệm Đầm Đùn.

Nhắc lại, Trại Đầm Đùn là một trong những trại giam tù nhân ở Khu Tư đặt dưới quyền kiểm soát của một viên Tổng Giám-đốc được gọi bằng danh từ “Chánh giám thị”, và trao phó cho một người có tên họ kỳ cục và đặc biệt phong kiến: Lý Bá Sơ. là tên, là Lý Trưởng, là Bá Hộ. Nguyên trước kia, dưới thời Thực dân, tên Sơ đã có lần tranh được chức Lý Trưởng dốc lòng phục vụ cho Phong kiến và Thực dân, được Phong kiến phong cho phẩm hàm Bá Hộ. Lâu dần, thành tên. Mặc dù chính thể “dân chủ cộng hòa” cầm quyền chính, Sơ vẫn không chịu mất những phẩm hàm nhờ ơn “mưa móc” mà có.

Lý Bá Sơ là con hùm xám nên các ban Quản-trị những Trại Sản-xuất và Tiết-kiệm ở Liên Khu Ba và Tư sợ y như sợ cọp. Không ưng ý người nào trong ban Quản-trị, y tống đi liền bằng cách giao hoàn về Trung ương hay hoán chuyển đi nơi khác. Thời thế đổi thay nghĩ cũng tức cười, nhiều tay trí thức, bằng cấp cao lại run sợ trước một tên vô học, bị khiển trách và mắng như tát nước vào mặt, tống đi vì tội dốt, không biết làm việc hoặc vì nhiều lỗi lầm kỹ thuật khác. Đó là một chủ trương giai đoạn của đảng Cộng sản nhằm hạ uy tín trí thức và đề cao vô sản hầu hết là i-tờ.

Nói cho ngay, tên Sơ có cái sở trường độc đáo rất thích hợp với sự đòi hỏi của chế độ. Hắn không có tim, bản chất lại lưu manh tàn ác nên không hề rung động trước cảnh đau khổ của những người bị giam cầm, thản nhiên hạ sát hàng loạt những người vô tội hoặc không có tội trạng rõ rệt. Vì thế, hắn được chính quyền vô sản đề cao và nuông chiều để sử dụng hết khả năng và ưu điểm của hắn.

Từ lâu nay, Sơ vẫn có thành kiến không hay đối với ban Quản-trị Trại Đầm Đùn. Có lẽ vì thế, Trưởng ban Quản-trị đã phải lợi dụng lý do công vụ về Khu từ mấy tuần nay, vận động củng cố địa vị cho vững vàng. Hiện chỉ có Phó Trưởng ban xử lý thường vụ, điều hành công việc trong trại…

Phó Trưởng ban cau trán, nghĩ ngợi.

Ít lâu nay trong trại đã xảy ra nhiều sự việc bất thường, tù phong vương vượt ngục với kế hoạch hẳn hoi, có tin tù âm mưu phá hoại trại giam liên kết với quân viễn chinh Pháp, nào tổ chức phản động “Liên Tôn Diệt Cộng” bắt liên lạc với tù nhân, đặt cơ sở tại địa phương để giải cứu những tù nhân đảng viên của các đảng phái quốc gia v.v…Hoạt động của đoàn viên Liên Tôn Diệt Cộng đã tỏ ra hữu hiệu ở địa phương Thanh Hóa, nơi đặt nhiều trại giam nấp dưới hình thức Trại Sản-xuất và Tiết-kiệm. Và gần đây, tin tình báo cho biết đoàn viên của tổ chức này mạo trang làm nhân viên chính quyền, đã hạ sát người Mán đi săn bắt tên tù vượt ngục trốn trong rừng và cứu thoát tên tù này.

Nay xẩy ra vụ “hủ hóa”, không phải tù mà chính nhân viên của ban Quản-trị vi phạm. Tên giám thị này là tay chân thân tín của Trưởng ban Quản-trị nên mới dám làm bậy, tự cho là “bất khả xâm phạm”!! Phó Trưởng ban lẩm bẩm:

– Thầy mi đã chạy về Khu vận động, còn mi nằm trong tay ta!…

Phó Trưởng ban ngẫm nghĩ, tươi tỉnh vui vẻ vì đã tìm được cách giải quyết. Dù “Chánh giám thị” Lý Bá Sơ có tới thanh tra trại cũng không sao. Mà Sơ không tới lại càng tốt.

Nguyên trước đây, Phó Trưởng ban có gian lận trong việc phân phối than và củi cho các hợp tác xã tiêu thụ, chỉ có một mình giám thị Tùng biết nhưng không dám tố giác, vì còn sợ phe phái của Phó Trưởng ban trên Khu. Trong khi đó, hắn nấn ná định tâm tìm thêm chứng cớ để đâm Phó Trưởng ban một nhát chí mạng, đỡ không nổi…

Phó Trưởng ban rõ thâm ý của Tùng, nay gặp dịp bèn ra tay trước.

Lúc hắn quay lên văn phòng hỏi cung, mọi người vẫn còn ngơ ngác, chờ đợi trong sự thấp thỏm. Hắn bèn lấy vẻ trịnh trọng quan sát tổng quát một lượt, tỏ ý không hài lòng, lừng lững lại bên xác chết 983, hỏi trống không:

– Còn sống hay đã chết rồi đây?

Đầu Trâu hoảng sợ, lại trước mặt Phó Trưởng ban, đứng nghiêm, trả lời:

– Thưa, trại viên 983 ngoan cố không khai nên bắt buộc phải áp dụng biện pháp mạnh, hắn không chịu nổi, nên đã chết…

– Ai ra lệnh cho mấy chú giết trại viên bằng biện pháp mạnh?

Đầu Trâu luống cuống:

– Dạ, thưa ông Phó Trưởng ban, đồng chí giám thị ra lệnh và điều khiển cuộc tra tấn để lấy cung của trại viên 983.

– Hừ! Tôi ra lệnh lấy lời khai chứ không ra lệnh…dùng đòn đánh chết người hay giết người! Mấy người đã tự ý làm trái lệnh thượng cấp. Hay là…Hừ, có lẽ…

– Thưa ông Phó Trưởng ban, em không dám tự ý…

Phó Trưởng ban nạt ngang:

– Mấy người dụng ý thủ tiêu để bịt miệng một nhân chứng?

Đầu Trâu và tù thợ rèn xanh mặt, hồn vía muốn bay lên mây. Phó Trưởng ban cúi lom khom nhìn hai bên bắp vế xác chết rồi lắc đầu bất mãn! Hắn lừ lừ lại ngó Hợi, ngó hai ngón tay bị lột da máu đỏ lòm rồi hỏi:

– Đã lấy lời khai bổ túc của thằng nhỏ này chưa?

Đầu Trâu không biết trả lời cách nào, nín thinh. Lấy lời khai của tù nhân là phận sự của Tùng. Nhưng hắn không dám nói thẳng ra như vậy. Phó Trưởng ban tức giận về lề lối làm việc của nhân viên, nhìn Đầu Trâu “hứ” một tiếng nữa. Đầu Trâu run cầm cập.

Phó Trưởng ban ngước lên xà nhà nhìn con “rò rẹt” nhìn sợi dây thừng, nhìn một xác đã chết và một xác gần chết, hầm hầm nhìn mấy người tù như nhận diện kỹ từng tên một. Rồi chỉ vào xác chết, ra lệnh trống không:

– Nếu đã tra tấn chết rồi thì để đây làm “mắm” à? Làm thủ tục lên văn phòng rồi khiêng ra vườn chuối. Đợi thủ tục xong, cho ra bai.

Hai tiếng “tuân lệnh” cùng cất lên một lúc.

Phó Trưởng ban lại hất hàm về phía thiếu niên Hợi, hạ giọng:

– Cho thằng nhỏ này xuống bệnh xá săn sóc rồi cho nó về nằm Trại Bệnh.

Đầu Trâu băn khoăn không hiểu, đánh bạo hỏi lại:

– Thưa ông Phó Trưởng ban, cho nó xuống Trại Bệnh?

– Cho nó xuống trại nhốt riêng những người bệnh, những người bị tả lỵ…!

– Tuân lệnh.

Phó Trưởng ban lại lạnh lùng:

– Dọn dẹp sạch sẽ trong phòng. Chùi hết vết máu…vết bẩn. Tháo dây thừng…

Đầu Trâu cúi đầu nhận lệnh. Xong Phó Trưởng ban lững thững bước, hai con mắt gườm gườm khiến bọn tù khiếp đảm, khoanh tay trước ngực như con nít, cúi nhìn xuống đất suốt lượt. Lúc này, chẳng may hắn chỉ vào người nào, người ấy tận mạng.

Nhưng Phó Trưởng ban chưa thèm đếm xỉa đến mấy tên tù hiện có mặt và đã chứng kiến cảnh rùng rợn. Hắn đang nghĩ đến vấn đề quan trọng hơn.

Ra quá bên ngoài, Phó Trưởng ban mới nhếch mép cười. Hắn đã đặt xong kế hoạch thanh toán một đồng chí đã phạm hai tội không thể tha thứ được, biết một vài bí mật của hắn và đứng về phe tranh chấp quyền hành với hắn.

– Còn cái thằng “bé con” không chịu khai sự thật, cũng cho chết luôn!

Trong trại giam Cộng sản, kẻ cầm quyền sinh sát có cả trăm cách giết người khác nhau mà nạn nhân của chế độ không thể nào tránh được. Và dưới chế độ vô sản chuyên chính, đồng chí thanh toán lẫn nhau vì danh vọng, quyền lợi, vì chủ trương đường lối, là sự việc thường thấy. Nhẹ tay thì cho vào cải-hối-thất, hạ tầng công tác, nặng tay thì cho qua bên kia cõi sống, để đi kiếm thiên đường Cộng sản.

Đầu Trâu len lén nhìn theo Phó Trưởng ban cho tới khi hắn vào khuất trong văn phòng mới quay lại, hách dịch phân phối công tác cho bọn tù. Y còn ngẩn ngơ chưa ý niệm được sự việc quan trọng đã khiến giám thị Tùng phải lên văn phòng để làm tờ tự thú.

Hai người tù được cắt công tác tháo dây thừng mang ra ao cọ sạch và quét dọn những vết máu trên sàn nhà. Họ ra sân xúc một thúng cát đổ vào bãi máu rồi hốt hết cát đổ ra gần gốc chuối. Toàn và Thanh xuống kho mượn đòn gánh và quang, gánh xác 983 ra ngoài vườn chuối.

983 mới chết một lát mà mùi tanh tưởi từ xác hắn bay ra khiến Toàn và Thanh muốn lộn mửa nhiều lần. Toàn bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn mê sảng khủng khiếp nhất trần đời. Người bạn đồng cảnh mới chiều hôm qua đây còn gánh than ở lò về trại, còn chia với nhau củ khoai sống, nay đã trả lại trại giam hết các nỗi đoạn trường để ra đi vĩnh viễn với một căm hờn không biết bao giờ nguôi. Cũng may hắn nửa điên nửa tỉnh, cũng bớt phần nào đau đớn. Nói cho đúng, chính sự suy nhược tinh thần và thể chất đã tạo nên trạng thái điên khùng. 983 đã nhờ trạng thái điên khùng phát hiện từng lúc mà bớt khổ đau, nhưng cũng bởi mất trí đã đặt dựng đứng một câu chuyện khiến anh ta phải chết.

Lúc khiêng xác 983 đến vườn chuối. Toàn đã thấy ba xác chết nữa nằm ngổn ngang, kiến bò đầy trên mặt. Thanh nhìn Toàn trợn mắt vì ngạc nhiên và kinh sợ:

– Mới có mấy tiếng đồng hồ mà đã 3 người chết! Không biết vì bệnh gì?

– Lại còn bệnh gì nữa! Mà phải hỏi!

– Tả lỵ?

– Cứ trông các đầu ngón tay nhăn nheo dăn dúm như ngâm nước và da mặt xám xịt lại, mắt trũng sâu thế kia, đủ biết!

Toàn lại hỏi ngớ ngẩn:

– Vậy làm thế nào phòng bệnh được đây?

– Ăn khoai sống, uống nước ao tù là…tránh được bệnh…mãi mãi! Mà chẳng bao giờ còn đói, còn khổ nữa!!

Toàn lườm Thanh, hoàn toàn thất vọng trước căn bệnh hiểm nghèo đang đe dọa trầm trọng cả trại bẩy, tám trăm tù nhân. Nghĩ đến cái ao tù hàng ngày gần ngàn tù nhân “đại lý” đủ các chứng bệnh, các loại vi trùng ra tắm rửa, súc miệng rồi uống luôn sau khi giặt quần áo, có cả quần áo của những người tù đang mắc bệnh tả lỵ “bậy” luôn ra quần, Toàn nhăn mặt lại, rồi rùng mình liên tiếp.

Lúc quay trở lại, nhân đi ven bờ ao, Toàn sực nhớ tới Hợi, bèn ngó trước ngó sau nhúng vội mảnh vải rách tháo ở cổ ra thấm ướt nước ao, giấu giếm cầm theo vào trong phòng. Hợi vẫn nằm gục trên sàn nhà. Đầu Trâu và tù thợ rèn không có mặt. Toàn vội vàng nhấc Hợi ngồi lên, vắt nước ở mảnh vải nhỏ vào miệng Hợi từng giọt. Hợi đang mê man không biết gì nhưng khi cảm thấy có nước thấm vào miệng, cũng “chép chép” cái lưỡi và há miệng đớp từng giọt nước cam lồ.

Mảnh khăn đã vắt ráo nước chỉ còn âm ẩm mà Hợi vẫn ngáp ngáp như con cá ngáp chết rồi thè dài lưỡi để liếm cái hơi ẩm ướt. Toàn phải bỏ một góc khăn vào trong miệng cho Hợi hít lấy cái hơi ẩm, thêm chút nào hay chút nấy.

Sau đấy, sợ Hợi mê man nhai nuốt luôn mảnh vải có thể chết nghẹt, Toàn rút khăn ra, khẽ gọi:

– Hợi! Hợi! Tỉnh dậy, cháu! Chú sẽ kiếm nước cho cháu.

Hợi mở mắt nhìn Toàn và Thanh, không biết có nhận ra không, chỉ nói:

– Cho tôi xin một hớp nước. Khát quá…chết mất!

Toàn nhờ Thanh nhấc Hợi lên rồi anh đưa lưng cõng Hợi xuống trại bệnh, áo quần Hợi đầm đìa những máu từ vết thương chẩy ra tong tỏng.

Trời đã về chiều. Ánh nắng vàng hoe một ngày đầu Hạ tưng bừng đầy sân trại, trên các luống khoai lang, các luống cà chua đỏ ối mọng những nước. Toàn nghĩ thầm: Ước gì hái trộm được một trái cà chua, mình cắn một nửa, cho Hợi một nửa, tỉnh người biết mấy.

Ý nghĩ thèm thuồng đó ám ảnh đầu óc Toàn cho đến khi anh cõng Hợi xuống đến trại bệnh, chờ giấy của văn phòng cho vào nằm chung với những người đang chiến đấu chống một kẻ thù nguy hiểm không kém Cộng sản: vi trùng tả lỵ!

Vì Phó Trưởng ban muốn giết Hợi bằng vi trùng tả lỵ!

Trong khi Toàn và Thanh ngó quanh kiếm giám thị để xin phép ra ao rửa mặt mũi tay chân cho sạch những vết máu, Hợi ngồi dựa lưng vào vách trại bệnh, đợi giấy phép của Văn phòng. Rửa xong, quay về phòng hỏi cung dọn tiếp, hai người thấy một bọn tù nhân Pháp ở trại bên kia gánh củi trở về, đi thành một hàng dài trong nắng chiều. Tù Pháp gánh thành thạo không kém chi tù Việt. Trời chiều thoang thoảng gió lạnh mà nhiều chú ở trần, áo dắt vào thắt lưng hoặc phơi trên gánh củi. Toàn đoán mấy chú chặt củi xong, được phép xuống suối tắm rửa, nhân tiện giặt luôn quần áo.

Toàn nẩy ra một nhận định: trong cảnh tù đầy, trong một mức sống hạn chế giống nhau, con người đều giống nhau về tư tưởng và ý nghĩ, thói quen và thèm muốn.

Nhưng bỗng anh trố mắt hồi hộp. Đằng kia giám thị Tùng lầm lũi, cúi gằm mặt đi xuống lò rèn, đi sau hắn là tên giám thị Mường và một tên cảnh vệ võ trang súng đàng hoàng. Lát sau, anh nghe có tiếng búa đập trên đe…Hèn chi, vừa rồi không thấy tù thợ rèn trong phòng hỏi cung.

Toàn ngạc nghiên băn khoăn tự hỏi:

– Không biết trại viên nào mới bị phạt đeo xiềng? Chẳng lẽ…

Một ý nghĩ thoáng trong đầu, Toàn tự cho là mình nhận xét nông nỗi, vô lý hết sức, không thể có được “điều đó”

Ở tù đã hơn nửa năm mà anh chàng công chức tiểu tư sản vẫn còn quá “chậm tiến”, không theo kịp những sự biến chuyển của tình thế và không hiểu nổi tâm địa của con người Cộng sản. Vì những việc tưởng lạ lùng, những hình phạt óc con người có thể tưởng ra được, dầu kinh tởm, khủng khiếp hay vô lý hết sức, đều có thể xẩy ra hoặc đem áp dụng tại trại gian Cộng sản, đặc biệt là Trại giam Đầm Đùn. Và cũng vì những lý do đó, hai tiếng “đồng chí” biến thành hai tiếng “tử thù” chẳng mấy hồi.

Còn đang miên man suy nghĩ, Toàn đã quay vào phòng tra tấn lúc nào. Hai đồng cảnh kia đã quét sạch cát trên sàn nhà lần nữa đặng xóa hết các vết giết tù, mặt còn thoáng vẻ hoảng hốt, sợ hãi chưa hoàn hồn.

Đúng lúc đó, một hồi kẻng vang lên ở nhà Tiểu Công Nghệ, lanh lảnh hối hả…

Đó là lệnh tập họp tù nhân khẩn cấp trong những trường hợp nghiêm trọng hoặc bất thường.

Không tới một phút đồng hồ, các tù nhân trong trại thẩy đều lật đật bỏ ngang công tác chạy đến xếp hàng nghiêm chỉnh trước sân cờ, sẵn sàng nghe lệnh khẩn. Họ đưa mắt ngầm hỏi nhau.

Nhưng họ không thấp thỏm lâu. Phó Trưởng ban nhẩy lên đứng trên mặt bàn, ra lệnh cho tất cả các trại viên tạm thời ngưng công tác hiện hành để chuyển hết sang làm công tác vệ sinh chung, dọn dẹp, quét tước sửa sang sân trại cho sạch sẽ gọn gàng.

Phó Trưởng ban không cho biết lý do nhưng trại viên đều đoán là có nhân viên chánh phủ đến thanh tra hoặc có các phái đoàn nhân dân đến thăm trại. Lát sau, chừng tám chục trại viên chia ra làm mấy nhóm, mỗi nhóm phụ trách một việc. Nhóm rẫy cỏ trên hai bên vệ đường đi trong trại, nhóm quét sân, nhặt lá, nhóm làm vệ sinh cầu tiêu, sửa lại cầu tắm giặt ngoài ao, hoặc xuống kho xếp gọn hay sửa lại vựa than, vựa củi cho sạch sẽ gọn gàng v.v… Cả mười viên giám thị, bốn thư ký, năm cảnh vệ đều được động viên xuống hết dưới trại để trông coi và đôn đốc tù nhân.

Phó Trưởng ban súng đeo bên sườn, đi từ chỗ nọ đến chỗ kia, luôn miệng quát tháo. Y lăm lăm ngọn roi mây rừng trong tay, trông phát khiếp.

Thỉnh thoảng, tù nhân mới dám liếc trộm. Liếc trộm mà vô phúc bị hắn bắt gặp, ngoắc đầu ngọn roi gọi lại thì tù “ríu cả lưỡi” không biết trả lời sao cho xuôi! Nhìn trộm, liếc trộm nguy hiểm như thế mà không hiểu sao nhiều tù nhân không thể dằn lòng nổi!

Bữa cơm chiều hôm đó tù ăn trễ cả tiếng đồng hồ. Nhiều anh quá đói run rẩy cả hai cẳng chân, nói không ra hơi mà vẫn làm việc rất hăng.

Tù vừa buông đũa, buông bát, trời đã chập choạng tối, đom đóm bay lập lòe ngoài bãi cỏ trong trại.

Theo tờ trình khẩn của Trưởng trại Bệnh, từ trưa đến chiều có thêm sáu tù nhân chết vì bệnh tả lỵ nữa. Chưa thu dọn xong chén đũa, Toàn và Thanh “được” chỉ định khiêng sáu cái xác ra bụi chuối, đợi lệnh cho “ra bai” sáng hôm sau. Hai người lại vào kho mượn đòn gánh và quang, hối hả xuống trại bệnh Toàn cảm thấy chán ngán quá, nhìn trước nhìn sau không có ai, bảo Thanh:

– Thôi! Tội nằm mẹ nó xuống đây để anh khiêng luôn tôi ra bụi chuối cho được… việc…Trước sau gì, thì…

Anh tủi thân không nói được hết câu. Nhưng Thanh không để ý đến lời Toàn, ngó lom lom về phía lều phong vương, thì thầm:

– Này! Lều phong vương có “chủ nhân” mới…không biết ai đấy?

Sực nhớ đến 982, Toàn giật mình đến thót một cái, chăm chú nhìn.

Trên sàn lều phong vương, một bóng người đen thui đang lom khom bước, hai cánh tay khum khum đưa về phía trước như sẵn sàng chống đỡ nếu bị té…

Nhìn trước nhìn sau, hình ảnh nào cũng là hình ảnh của sự chết chóc, đói khổ, nhọc nhằn. Lần đầu tiên trong đời tù đầy, óc Toàn lóe lên ý nghĩ đi trốn. Anh quay sang nhìn Thanh. Mặt mũi Thanh đã nhòe nhoẹt trong bóng tối, chỉ còn phảng phất cái hình bóng thường nhật.

Toàn chưa đoán ra Thanh đang nghĩ gì nên khẽ hỏi:

– Mãi không được tin gì về 982 nhỉ? Không biết có thoát nổi không?

Thanh gắt:

– Thoát thì sống, không thoát thì “ngỏm”. Mình đây cũng thế, khác gì!

Từ lúc đó, hai người đều lặng thinh, lầm lũi khiêng các xác chết liệng đống ở bụi chuối. Khiêng đến cái xác thứ năm, cả hai thở hổn hển. Hai lưng chén cơm vừa ăn đã tiêu hết.

Toàn bỗng lặng người vì tiếc. Từ nãy đến giờ, khiêng bốn, năm xác mà quên không rờ lại cạp quần chúng coi có đồ vật hay thuốc men gì dùng tạm được không. Biết đâu chẳng có mấy điếu thuốc lào, một hai đầu mẫu thuốc lá hoặc viên ký ninh, thuốc đi tiêu chảy hay lọ dầu gió?

Toàn đang ngẩn ngơ tiếc chợt thấy bóng một giám thị đứng lấp ló sau bức vách nhà Tiểu Công Nghệ theo dõi từng hành động của hai người. Toàn nắm cổ một xác chết, kéo lọt vào nằm trong lòng hai chiếc quang dùng thay “băng ca”, đút đòn gánh vào quai quang, ghé vai khiêng cùng lúc với Thanh, thì thầm:

– Giám thị đang theo dõi việc mình làm đấy.

Thanh gắt lí nhí trong miệng:

– Kệ cha nó!

Rồi cả hai lại lầm lũi khiêng. Đường đi gồ ghề, trời bắt đầu tối, cả hai người tù mệt gần chết, bước thấp bước cao khiêng một đồng cảnh vừa chết xong. Mùi tanh tưởi hôi thúi từ xác chết bốc lên. Toàn đi sau bị hơi thối táp vào mặt vào mũi, muốn chết luôn. Khiêng đi được mấy bước, hai cánh tay của xác chết lần lượt tuột khỏi dây quang, kéo lê trên mặt đất, đôi lúc vấp phải những chỗ lồi lõm lại nẩy lên rớt xuống, có những cử động tức cười như còn muốn đùa cợt với người khiêng.

Toàn bước chậm lại, đổi vai cho bớt đau, phàn nàn:

– Thằng cha nặng quá. Còn nhiều thịt như thế mà chết, há?

Thanh quá mệt và chán ngán, không thèm trả lời. Bỗng đâu một giọng khàn khàn run rẩy, nghe không rõ tiếng người hay tiếng ma, từ nơi gần khoeo chân Thanh cất lên:

– Các ông ơi! Cứu tôi với! Tôi chưa chết. Làm phúc bỏ tôi xuống, các ông ơi…

Toàn và Thanh rợn người lên một lượt, không ai bảo ai mà trong cùng một lúc hai người bật lùi xa vài ba bước, thất kinh nhìn cái đống đen thui, đen hơn cả bóng tối lúc đó, vừa bị bỏ rớt phịch xuống đất. Toàn vốn nhát nên lăm lăm chiếc đòn gánh thủ thế một cách tức cười. Rồi anh ta khạc nước miếng cho thông cuống họng, gượng hỏi:

– Người hay ma? Coi chừng cho một gậy nghe không? Đừng có nhát, tụi này không sợ đâu?

Một giọng nói van lơn từ dưới đất đưa lên, cùng với mùi hôi thối:

– Không, không…Tôi là người sống hẳn hoi đây mà, danh số…439. Tôi chỉ bất tỉnh vì mệt và đói, chứ có chết đâu mà khiêng…tôi đi chôn…Trời ơi! Các ông định chôn sống tôi hay sao? Tôi van các ông.

Nói xong, cái xác hốt hoảng lổm ngổm ngồi lên, thở không ra hơi như người hen. Thanh bạo hơn, bước lại gần bảo cái xác:

– Nếu anh còn…sống thì quay trở về trại Bệnh đi. Chúng tôi sẽ báo cáo với giám thị rằng anh đã sống lại, không chết…nữa!

Cái xác đảo đảo đứng lên, nhìn quanh quất tứ phía nhưng chưa đủ tinh thần tìm ra vị trí của trại Bệnh. Toàn đứng lặng người, thêm một lần nhận thấy cái sống và cái chết đều vô nghĩa như nhau trong một trại giam Cộng sản. Nếu bây giờ đây, anh ngưng được hô hấp, nằm lọt vào trong quang để hai người tù khác khiêng anh ra bụi chuối hay ra bãi luôn, cũng chẳng có nghĩa gì hơn anh sống để khiêng tù chết và chưa chết đi chôn.

Người tù bị bệnh tả lỵ thốt nhiên lảo đảo quay vòng tròn rồi ngã huỵch xuống. Toàn hốt hoảng xáp lại gần định giúp hắn ngồi lên, đã nghe những tiếng vật vã rên rỉ. Rồi tứ chi người tù co giật tứ tung như con gà giẫy chết. Giây lát, cái xác nằm bất động sau khi co quắp như con tôm.

Thanh nói như cho riêng mình nghe, giọng đều đều, không buồn không vui:

– Lần này, may ra chết thiệt…!

Toàn rụt rè nắm bàn tay người tù bệnh lật qua lật lại, kéo ra đưa vào, thấy ngay đơ và lạnh toát. Hai gan bàn chân cũng lạnh như ngân nước đã lâu. Toàn thầm thì:

– Chết rồi…! Thật sự chết rồi…Đỡ khổ!

– Đỡ khổ cho ai?

Toàn lạnh lùng:

– Cho cả thằng chết lẫn thằng khiêng!

Rồi hai người hì hục kéo cái xác đặt vào trong lòng quang, vội vã khiêng ra vườn chuối, vừa khiêng vừa chạy để bù lại thời giờ đã mất. Chưa tới nơi đã thấy tù nhân từ trong nhà Tiểu Công Nghệ lũ lượt kéo ra sân chuẩn bị học tập.

Toàn và Thanh lại hốt hoảng không kịp ra ao rửa mặt mũi tay chân cho bớt hôi hám, cất vội đòn gánh và quang, lật đật kiếm giám thị báo cáo vắn tắt công tác thực hiện rồi nhớn nhác tìm đồng cảnh trong tổ của mình.

Một tiếng kẻng vang lên, hối hả.

Buổi học tập kiểm thảo bắt đầu liền. Toàn cố trấn tĩnh cho khỏi lợm giọng, mùi hôi thối ở quần áo và tay chân anh nồng nặc. Anh lấy hết tinh thần chăm chú tham gia ý kiến với các học viên trong tổ cho buổi học tập thêm…hào hứng và nhất là cho ra cái vẻ anh đã giác ngộ và tiến bộ nhờ sự giáo dục của nhà nước Cộng sản.

—>23

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.