Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

25.

Tiếng kẻng, dõng dạc từ nhà Tiểu Công Nghệ đưa lại. Đó là lệnh cho tù được ngả lưng. Từ nãy, tù nhân trong nhà giam thường tội vừa thì thào nói chuyện vừa sửa soạn chỗ nằm. Vừa nghe kẻng là họ nằm xuống suốt lượt. Tiếng chõng tre cót két, tiếng thở phào hoặc vặn xương sống, bẻ các đốt ngón tay, ngón chân. Tất cả xảy ra không quá nửa phút rồi họ yên lặng trong sự chờ đợi.

Thời tiết mới sang Hạ nên đêm mát mẻ dễ chịu. Những tù nhân không được gia đình tiếp tế, chỉ còn chiếc áo cánh xơ xác với chiếc quần xà lỏn rách mừng thầm đã qua những đêm rét cắt da, cắt thịt, những ngày mưa phùn lạnh buốt như kim châm.

Giám thị xách roi mây, kiểm soát tù nhân nằm trên hai dẫy giường tre. Tới cuối phòng, hắn quay mặt lại cửa ra vào, khoanh tay trước ngực, quát:

– Kiểm số!

Tức thì ở tít mãi đầu phòng đằng kia, một giọng yếu ớt cất lên:

– Báo cáo! Xin bắt đầu kiểm số: Một…

Những tiếng khác đều đặn cất lên theo:

– Hai…

– Ba…bốn…

Tiếng hô số lần lượt nhảy từ miệng người ta này qua miệng người tù khác, cho tới người chót. Công việc dễ ợt, vậy mà có nhiều người quýnh quá vì mất tinh thần nên lộn, nhắc lại con số đã hô rồi thay vì hô con số tiếp theo.

– 40…

– 40…a…a…41…

Giám thị quát lớn:

– Ngưng! Thắng nào vừa hô lại 40 đó?

– Thưa…tôi lỡ miệng hô lộn. Xin ông giám thị tha lỗi cho…

Giám thị không thèm phí lời, vụt liền năm roi quắn thịt vào kẻ có gian ý. Người bị đòn chỉ dám nghiến răng xuýt xoa, nằm y nguyên mà chịu trận chứ không được phép ngồi lên.

Sau đó, tiếng hô số lại tiếp tục.

Thanh và Toàn nằm chung một chõng nên khi Thanh hô 83 thì Toàn hô 84 và có ý chờ người nằm kế hô tiếp. Nhưng từ bên trong manh chiếu rách, mãi mới có tiếng động đậy trở mình rồi mãi mới tiếng phều phèo, hụt hơi:

– 85 và…hết.

Chừng như nói xong mấy tiếng như thế, người nọ mệt quá, thở hổn hển một hồi. Mảnh chiếu đắp trên mình người tù tuột xuống giường để lộ mái tóc bạc và hai hố mắt đen thui. May thiệt là may, chỉ chậm chừng hai giây nữa là bị ăn đòn.

Giám thị lừ mắt lườm mái tóc bạc một cái, trở về chỗ tù nhân trực ngồi, viết vài chữ trên cuốn sổ rồi ra ngoài.

Nằm một lúc lâu, Toàn vẫn không dỗ được giấc ngủ tuy rất mỏi mệt. Anh bỗng rợn khắp châu thân một lượt vì sực nhớ đến hình ảnh trận đòn tuốt nứa hồi sáng qua. Thật khủng khiếp và ghê rợn, nhất là khi đang cắt lem lém da thịt, tinh nứa vấp phải khúc xương làm bật lên những tiếng đùng đục ướt đẫm những máu.

Rồi lan man, Toàn nghĩ đến vụ tù 982.

Không biết có thoát không hay anh ta chết trong rừng? Hồi chiều, Toàn có nghe mấy tù nhân thạo tin xì xào với nhau rằng người Mán “xung phong” đi lùng bắt 982 đã chết trong rừng, bị thú dữ cắn nát cả thân thể, không còn dấu vết một mảnh quần áo che thân. Quần áo người Mán may bằng vải tốt và dầy, đâu có bở như quần áo tù mà bị mất hết như vậy, không chừng 982 giết người Mán rồi lột quần áo để ngụy trang. Nếu đúng như vậy, may ra 982 đi thoát về vùng quốc gia cũng nên.

Chỉ ân hận một điều là 982 đã sơ sót để lại dấu vết cưa xiềng khiến Phó Trưởng ban Quản-trị tìm ra manh mối rồi truy ra tòng phạm là Hợi.

Nghĩ đến Hợi, Toàn thương xót vô hạn. Hợi đã được y tá của bệnh xá bôi thuốc đỏ vào hai ngón tay bị cứa lột da cho có hình thức săn sóc, rồi sau đó được lệnh vào nằm chung với những tù nhân đang bị bệnh tả lỵ hoặc những bệnh truyền nhiễm khác.

Toàn, Thanh đều hiểu ác ý của chức quyền Trại giam Đầm Đùn. Họ chủ trương giết Hợi bằng phương pháp khác, kín đáo hơn. Bị nhốt chung với bệnh nhân tả lỵ, trước sau gì cũng lây bệnh mà chết nếu chưa đói, vì mỗi bữa ăn tù bệnh chỉ được một bát cháo loãng. Không sản xuất thì khỏi ăn luôn.

Toàn cố nén tiếng thở dài, hé mắt nhìn Thanh nằm cạnh đang thở đều đặn, tưởng bạn ngủ say. Sự thật, Thanh cũng bị ám ảnh vì những hình ảnh tra tấn 983 với Hợi, và đang miên man suy nghĩ. Kiểm điểm lại những ý định đành chịu chết trong trại giam của anh, của Toàn và một số đồng cảnh khác, Thanh nhận thấy yếu hèn, không được thực tế và hoàn toàn tiêu cực. Đằng nào cũng đến chết là hết, thà cố chiến đấu đến phương tiện chót, tìm cách trốn khỏi nơi đây còn hơn chết mòn trong trại giam.

Thanh vẫn miên man suy nghĩ. Những hơi thở khò khè của những người lao lực, bệnh hoạn, những tiếng rên rỉ đau đớn của các tù nhân đeo đủ các thứ bệnh khiến Thanh càng thấy nung nấu trong lòng. Đây không phải là những con người sống mà là những xác chết chưa chôn. Nhưng khi mặt trời mọc, những xác chưa chôn đó lại tiếp tục cố gắng sản xuất, xung phong làm bất cứ công tác nào cho tới khi mặt trời lặn.

Buổi tối, biết bao nhiêu người âm thầm cầu mong mai sáng khỏi phải thấy mặt trời mọc và khỏi nghe tiếng kẻng.

Trong bóng tối lờ mờ, Thanh thấy hai chấm long lanh trên khuôn mặt Toàn. Anh biết bạn đồng cảnh đang khóc như trước đây anh đã khóc nhiều đêm. Thanh tự nhủ: Phải làm một cái gì chứ chỉ khóc thì làm sao tự giải thoát và giải thoát cho những thế hệ kế tiếp?

Nhưng mắt Toàn thốt mở lớn, đưa qua đưa lại loang loáng rồi ngó Thanh.

Thanh ngạc nhiên, lắng tai nghe để nhận định tình hình.

Trong cái vắng lặng thê thảm của trại giam ban đêm, Thanh nghe vẳng tiếng nói ồn ào từ xa của nhiều người, rồi vài tiếng quát tháo rời rạc đè lên tiếng ồn ào đó. Sau lại yên lặng một lát lâu. Toàn khẽ trở mình, liếc về phía tù nhân trực ngồi. Ánh sáng ngọn bấc dầu chai run rẩy như cũng đang lên cơn rét, chập chờn chiếu vào những thân xác bất thành nhân dạng. Toàn ngạc nhiên khi thấy mấy người tù kế bên nằm theo những dáng vẻ lạ lùng của những xác chết, không chừng họ mới chết cũng nên. Buổi tối đi ngủ họ không có vẻ gì khác, nhưng sáng sớm đã có hai, ba người chết rất bất ngờ.

Tiếng ồn ào lại phảng phất giây lát, tiếp theo là tiếng đánh lộn huỳnh huych, nghe kỹ như từ phía phòng giam tù xiềng đưa lại.

Sau đấy, Toàn thiếp đi trong giấc ngủ mệt nhọc.

Không biết ngủ thiếp bao lâu, Toàn chợt tỉnh giấc, nghe có tiếng móng tay cào cào trên mặt chiếu.

Toàn nhìn sang chõng kế bên. Người tù già tóc bạc trắng nằm cuộn tròn trong manh chiếu rách, hai cẳng chân đen thui và gầy gò như hai ống sậy thò ra ngoài. Toàn đoán: Ông già bịnh đã mấy tuần nay, đau nhức trong xương, buồn chân buồn tay nên cào sột soạt trên mặt chõng chăng?

Rồi Toàn ngủ say liền, không nghe hết bốn hồi mõ của chòi canh cảnh vệ ở bốn góc trại.

Sáng sớm, vừa nghe tiếng kẻng, Toàn hốt hoảng chồm dậy liền.

Cảm giác đầu tiên là cảm giác lạnh. Toàn run rẩy lạnh, đưa bàn tay vào trong ngực, xoa loạn lên một hồi, miệng xuýt xoa. Thanh cũng đã ngồi lên, đưa tay che miệng thì thầm:

– Gần sáng, trời lạnh quá, há?

Hai người cuộn vội dát giường, nhảy xuống đất. Tù nhân trong phòng cũng đã thu dọn giường chiếu, đợi lệnh tập trung ngoài sân, ra ao rửa mặt súc miệng.

Thấy đồng cảnh tóc bạc chưa tỉnh dậy, Toàn bèn với tay đập lên chiếu mấy cái nhè nhẹ và nói:

– Bữa nay ông già đã mạnh chưa? Dậy đi chớ!

Nhưng người nằm đó vẫn im lìm, không lên tiếng trả lời, cũng không tỏ vẻ đã thức giấc. Mái tóc trắng thò ra ngoài mép chiếu không nhúc nhích.

Nghĩ đến cái lạnh vừa rồi đã khiến anh rét run lên cầm cập mà không phải cái lạnh của thời thiết, anh vội vã mở mép chiếu lật xuống giường trong khi Thanh ngây người nhìn. Vài ba người tù ngoái cổ thản nhiên ngó một cảnh tượng đã quen mắt.

Hai mép chiếu lật tung để lộ tênh hên một cái xác gầy gò, chỉ còn da bọc xương, manh áo trước bụng tốc lên ngực, cả một khoảng da bụng vàng ệch như bôi nghệ. Toàn đoán ông già này bị bệnh gan trầm trọng, mật bài tiết quá nhiều vì bệnh nên đã thấm sang bộ phận khác trong cơ thể.

Mấy tuần trước, mắt bệnh nhân đã vàng như nghệ.

Trên đầu giường, một bọc quần áo cột rất cẩn thận. Nhưng chiếc áo cánh và quần xà lỏn người chết đang bận đã rách tét bét hết.

Hiển nhiên, người tù già này cố ý ăn bận xuyềnh xoàng khi “ra bai”.

Toàn nghĩ đến hoàn cảnh của mình. Nhiều đêm mặc quần ướt mà ngủ. Lại nhiều đêm, phải đắp chiếu thay mặc quần sợ ngủ say mê mệt không gượng nhẹ giữ gìn, quần sẽ tơi ra không có cách gì may ríu được nữa.

Đã ba tháng nay, vẫn biệt vô tin tức của gia đình, Toàn chắc mấy lá thư không đến tay người nhà, hy vọng được tiếp tế quần áo cũng tiêu luôn.

Bất giác Toàn ngó lom lom bọc quần áo, rồi lấm lét nhìn Thanh, nửa như sợ Thanh không hiểu ý mình, nửa như xúi dục, Thanh hiểu liền ý định của Toàn, vì anh ta cũng đang thèm có thêm chiếc quần cụt. Trong bọc của người chết phải có hai, ba bộ đồ là ít.

Có lẽ vào giây phút ra đi vĩnh viễn qua bên kia thế giới, người tù già đã mãn nguyện vì trên môi ông lão còn phảng phất nụ cười hé nửa chừng.

Toàn chạy ra báo cáo với giám thị, nhưng giám thị chưa tới nên báo cáo với tù nhân trực để ghi vào sổ có tù chết hồi đêm. Quay lại bên xác chết, Toàn bỗng chăm chú nhìn, ở miệng túi áo người chết có một mép giấy trăng lộ ra. Toàn vội rút ra đọc. Đó là một lá “chúc thư” có mấy giòng như sau viết trên mặt tờ giấy bao thuốc lá Van Niên (1)

Thân gởi đồng cảnh, danh số 271.

Tôi xin để lời chào tất cả anh em trong phòng thường tội và mọi người trong Trại Sản xuất.

Nghiệp báo của tôi đã mãn, tôi xin “đi” trước các anh em.

Để làm kỷ niệm, tôi thành tâm gởi lại tăng đồng cảnh 271: Một áo cánh và một quần đùi.

Tăng đồng cảnh 465 (anh Thanh): Một áo cánh và một quần đùi.

Còn bộ đồ thứ ba tôi tặng một đồng cảnh khác mà tôi quên danh số và quên tên luôn.

Chừng nào người đó biết tin tôi chết, đến hỏi các bạn thời nhờ đồng cảnh 271 trao lại bộ quần áo cho ông ấy.

Nhờ sự hướng dẫn tín ngưỡng và lời an ủi của đồng cảnh đó mà tâm hồn tôi được bình thảm lúc vĩnh biệt cuộc đời.

Phòng giam thường tội, không biết ngày tháng.
Ký tên
Hoàng Văn Đán, danh số 528.

Lời lẽ minh bạch thân ái chứng tỏ người viết “chúc thư” rất tỉnh táo, bình tĩnh, đã xả được hết những ý nghĩ thù hận đối với trại giam. Nhưng người thứ ba được hưởng “tài sản” nói trong chúc thư là ai? Trong trại giam này, một bộ quần áo lành lặn là một tài sản lớn, ít ai dám mong có.

Toàn cầm mảnh giấy bước ra cửa lúc giám thị tới. Y cau mặt đọc xong rồi nhìn Toàn một vẻ không hài lòng, lặng thinh. Theo luật lệ của trại, khi có người chết, trại viên nằm kế bên người chết có trách nhiệm phải báo cáo ngay với giám thị. Toàn, Thanh theo giám thị quay lại bên chõng người chết. Giám thị dùng đầu ngọn roi mây hất mép chiếu mấy cái như đùa nghịch, ngắm nghía sơ qua xác chết cong queo rồi nói:

– Không lao động được để tăng gia sản xuất, mỗi bữa ăn hại một bát cháo, đến “hô số điểm danh” cũng không xong thì chết đi là hợp lý quá rồi. Trại Sản xuất không thừa gạo để nuôi báo cô bọn ký sinh trùng trí, phú, địa hào!

Giám thị chăm chú ngó bọc quần áo, mặt y dần dần hồng hào. Y chỉ ngọn roi vào giữa mặt Thanh như điểm mặt, rồi quất một roi vào bọc đồ, ra lệnh:

– Mở ra coi, giấu giếm những thứ gì trong bọc này?

Thanh hoảng sợ nghĩ thầm: Vô phúc có đồ “quốc cấm” trong bọc thì bỏ mẹ mình rồi. Nhưng rồi anh cũng cúi xuống tháo sợi dây chuối buộc chéo chữ thập, lần lượt mở từng chiếc áo để giám thị chứng kiến. Ngoài ba chiếc áo cánh và ba quần cụt, có năm mảnh vải còn mới lớn bằng trang giấy học trò. Toàn được mảnh vải đó để may đắp lên quần cụt anh đang mặc cũng đủ yên trí mấy tháng trời. Toàn còn đang vẩn vơ ao ước, giám thị đã nghiêm sắc mặt, ra lệnh:

– Buộc lại như cũ để trình lên văn phòng quyết định. Mấy người đâu được phép “sang đoạt” rồi tự ý chia cho nhau?

Toàn, Thanh uất ức và hoàn toàn thất vọng nhưng không dám để lộ ra mặt.

Xếp hàng ra đến ngoài sân, hai người chỉ nhìn nhau không thốt lời nào. Toàn nhớ lại ba bữa trước đây, ông già nằm kế bên bị bịnh nặng về bộ tiêu hóa không đi lao tác được, có năn nỉ anh kiếm dùm một cây bút chì để ông ta viết mấy chữ. May quá, Toàn có sẵn mẫu viết chì bằng ngón tay út mà anh đã phải mua của một tù nhân bằng nửa chén cơm. Nhưng anh vẫn cất kỹ trong bọc vì chưa kiếm được giấy để ghi chép mấy câu thơ đã làm trong khi xay thóc hay gánh nước tưới hoa màu phụ của trại. Để lâu không ghi, Toàn sợ quên.

Không ai ngờ ông già mượn viết chì để làm “chúc thư” cho mấy người đồng cảnh. Có giấy tờ hẳn hoi mà bọn Toàn không nước mẹ gì! Thì ra, dưới chế độ Cộng sản, tù nhân không còn là con người, mất hết dân quyền, về một phương diện khác giá trị người tù lại còn kém cả loài vật, vì thịt xương họ không ăn được như thịt xương con chó, con gà, mà chỉ dùng được vào mỗi việc là làm phân bón như bãi phân trâu.

Toàn còn đang phẫn uất ngấm ngầm, một tên cảnh vệ đã tới dắt bọn tù ra ao. Toàn lẩm bẩm chua chát:

– Uống nước ao tù gần cả năm rồi mà không bị bệnh chết thì thì khó hiểu thật!

Tuy nói thế, nhưng khi đến ao, anh khỏa tay nhè nhẹ ở một góc ao cho tan váng rồi chụm hai lòng bàn tay, vốc lên một vốc nước, thản nhiên uống như mọi người. Sáng sớm, nước ao mát lạnh, uống đến đâu biết đến đó.

Lúc quay lại nhà Tiểu Công Nghệ ăn bữa sáng, anh chợt thấy tên Phó Trưởng ban xăng xái từ trong Trại xiềng đi ra cùng với viên giám thị Mường, người được coi là tương đối ít hung dữ nhất. Trong khi Phó Trưởng ban trở lên văn phòng, giám thị Mường đi theo hai xác chết đặt trong cái võng đan bằng nứa, đặc biệt dùng để khiêng xác chết, nhưng thay vì cho ra bụi chuối, hai xác đó lại được khiêng tới một căn phòng xép, vẫn dùng làm kho tạm chứa những dụng cụ lặt vặt của trại. Tuy có chiếu đậy kín xác, Toàn vẫn thấy cả hai xác còn mang xiềng, sợi xiềng lọt qua khe võng lòng thòng trên mặt đất, lắc lư theo bước chân của người khiêng.

Suốt bữa cơm sáng, Toàn lặng người đi suy nghĩ. Vì anh chợt nhớ đêm vừa rồi thoáng nghe nhiều tiếng la hét ở Trại xiềng rồi tiếng huỳnh huỵch, xô xát như có đánh lộn lớn giữa hai phe tù nhân. Điểm khác đáng lưu ý là Phó Trưởng ban có mặt tại Trại xiềng ngay từ sáng sớm tinh sương. Hai sự kiện đó phải có liên hệ với nhau.

Ngoài ra, không thấy cảnh vệ dắt tù xiềng và cùm ra ngoài như mọi sáng mà chỉ cho từng tốp năm người đi một lần.

Vừa bới lưng cơm thứ hai, Toàn bỗng giật mình vì chợt nghĩ đến Hợi. Không được tiếp tế cơm, Hợi mất máu, mất sức như thế, chắc chắn không sống nổi. Toàn ngước nhìn sau, không thấy giám thị đâu, bèn đổ bát cơm vào lòng bàn tay, bóp thật chặt lại thành một nắm, dắt vào lưng quần.

Thanh chợt hiểu nhưng đã ăn gần hết chén cơm chót. Anh thở dài phàn nàn:

– Tôi quên rằng phải giúp một đồng cảnh nên lỡ ăn hết. Bây giờ làm sao?

– Nếu cần, đồng cảnh hãy dùng chén cơm của tôi đây này. Tôi ăn một chén tạm đủ rồi!

Toàn, Thanh ngạc nhiên nhìn người vừa nói…Trong trại giam, không mấy khi tù nhân dám nhường nhau một miếng cơm hay một thìa canh mặc dù họ rất thương nhau, có khi dám hy sinh mạng sống vì nhau.

Vì vậy, chỉ trong những trường hợp thật hạn hữu, tù nhân mới đành phải hy sinh cho nhau hoặc trao đổi, hoặc cho vay. Nay có người “xung phong” cho không một chén cơm, chẳng đáng kinh ngạc sao?

Thanh, Toàn ngó đăm đăm đồng cảnh đáng kính phục nọ. Toàn nhớ mang máng đã nói chuyện với người này trong trường hợp nào đó, nhất thời anh không nhớ ra. Dáng vẻ từ tốn, lời nói chân thật, nét mặt thuần hậu tuy hơi khắc khổ, người nọ lim dim cặp mắt nhìn xuống mâm, thủng thẳng nhắc lại, giọng trầm trầm như giọng của người thường tụng niệm:

– Đồng cảnh cứ tùy tiện lấy phần cơm của tôi mà giúp người bạn. Tôi ăn đủ rồi, không đói đâu mà đồng cảnh phải băn khoăn.

Nói rồi, người tù nọ cầm chén cơm lên, ý tứ đổ gọn vào trong hai bàn tay Toàn đang xòe ra để đón nhận.

Ít lâu nay, cách thức ăn uống trong trại dễ dãi hơn trước đôi chút. Đến bữa, tù nhân cứ đợi có đủ bốn người cùng một hạng khẩu phần là ngồi xuống ăn một mâm, không phải chờ người cùng toán như trước. Vì nhân số luôn thay đổi, nhiều tù nhân vào rừng làm than một thời gian hoặc bịnh không ăn được cơm mà xin ăn cháo, trường hợp này phải kiến tù nhân điền vào chỗ khuyết cho đủ bốn người, mới bắt đầu được ăn.

Sáng nay, Toàn, Thanh vào nhà Tiểu Công Nghệ hơi trễ, đồng cảnh đã ngồi hết vào mâm rồi. Hai người đứng xớ rớ, đợi mấy người đến chậm cho đủ bốn người. Vì thế, Toàn, Thanh mới ăn cùng với đồng cảnh nọ.

– 464!

Toàn lẩm bẩm danh số 464 của người tù giàu lòng từ ái, định tâm kết thân để dễ có dịp trả lại chén cơm đầy tình nghĩa, có giá trị thực tiễn bằng một mạng sống.

Anh lật đật gói cơm trong mảnh vải nhỏ màu cháo lòng vẫn dùng làm khăn lau mặt, vừa đưa cho Thanh dắt vào cạp quần thì giám thị Phiến tới giao cho công tác khiêng xác chết tập trung ở bụi chuối để kiểm điểm trước khi khiêng ra bãi chôn. Toàn chán ngán nghĩ thầm: không biết xui xẻo làm sao mà mấy bữa nay, cứ phải khiêng xác chết hoài. Không khéo thành chuyên viên chôn người cũng nên!

Toàn không thể nào ngờ rằng trong cuộc đời mình lại có thời gian làm phu đào mồ và chôn người. Anh vừa buồn vừa ghê tởm nhìn Thanh gượng cười. Chừng hiểu tâm sự bạn, Thanh lại khẽ ngâm:

“Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao”

Hai người rảo bước vào kho biên giấy mượn võng nứa và cây đòn dài cho khỏi vướng.

Thanh vừa đi vừa lẩm nhẩm tính. Cho đến tối hôm qua, Toàn và Thanh đã khiêng ra bỏ vườn chuối sáu người chết vì bệnh tả lỵ, cộng với cái xác đen thui của 983 và hai xác nữa là chín, sáng nay sẽ thêm ông già chết về bệnh mật là mười xác. Từ giờ đến trưa khiêng ra bãi và lấp đấy chôn mười hai người sẽ không làm nổi, chắc chắn bị phạt rồi.

Chưa tới vườn chuối, Toàn đã nghe tiếng quát của Phiến. Tuy thế, viên giám thị này có vẻ tươi tỉnh hơn mọi ngày. Đã có hai tù nhân đang lật từng xác chết để giám thị nghi vào kiểm điểm danh số trước khi cho chôn. Có những con số in trên áo tù đọc không được vì áo đã mòn, rách như cuộc đời trong tù. Nhưng chỉ trong mười phút, giám thị cũng đã kiểm xong. Cuộc đời của tù nhân trại giam Cộng sản coi như hết ngay từ khi bắt đầu mang danh số. Nhưng đến phút này họ mới thật sự bị gạch tên trên sổ bộ đời.

Giám thị Phiến ra lệnh cho Thanh và một tù nhân vào Trại thường tội khiêng xác ông già tóc bạc ra, còn Toàn và một tù nhân khác đến Trại tù bệnh, có xác nào khiêng ra bụi chuối gấp.

Hai người bạn chưng hửng nhưng không biết làm sao, đành một người theo một tốp, làm phận sự của mình.

Trong khi Thanh cùng với người tù nọ xuống kho, Toàn rảo bước cùng với người đồng cảnh xuống Trại bệnh tả lỵ. Toàn nghĩ đến Hợi, trong lòng xốn xang vô cùng. Không biết từ trưa hôm qua, Hợi có được ăn gì không và vết thương nơi hai ngón tay cái ra sao, bớt đau hay nặng hơn? Tội nghiệp quá!

Nhưng còn may vì anh dắt theo được nắm cơm cho Hợi ăn lấy sức. Ít còn hơn không! Làm sao lấy lại được nắm cơm Thanh còn giữ để tiếp tế luôn cho Hợi bây giờ? Toàn sực nghĩ ra một điều. Anh đăm đăm quan sát dáng điệu đồng cảnh đi trước và sẽ gọi:

– Này ông bạn!!!

Người kia chậm bước quay nhìn lại, chờ đợi mà không nói. Toàn mừng quá khi nhận ra người đã cho anh chén cơm hồi sáng. Anh mau miệng nói:

– Ban nãy, ông bạn có lòng nhân ái giúp cho nắm cơm mà tôi có mang theo đây, để tiếp tế cho một đồng cảnh bị kiệt sức vì quá đói. Cứu được một mạng người, phúc đức không thể nào kể hết. Thay mặt người nhận, tôi xin chân thành cảm ơn…

Toàn vừa nói vừa nhìn trại viên kia dò xét ý tứ. Anh đã có kinh nghiệm nên luôn luôn đề phòng độc kế của ban Quản-trị. Lỡ để lộ bí mật, tù mật vụ báo cáo là chết cả đám.

Nhưng trước những lời cám ơn nồng nhiệt và văn vẻ của nhà tiểu tư sản Toàn, trại viên nọ chỉ mỉm cười một cách dung dị, chắp tay trước ngực vì thói quen hay vì vô tình, thân mật trả lời:

– Nước mắt của anh em tù nhân còn nhiều hơn nước trong ao kia. Chúng ta làm được việc lành nho nhỏ như vậy, đâu đã đáng kể gì. Mong sao mọi người hiểu được lý nhân quả để tránh những việc hung ác tàn bạo…

Toàn khấp khởi mừng thầm. Người này có vẻ chân phương thật thà, không phải là tù mật vụ, không phải là người có ác tâm, khỏi lo y tố cáo với ban Quản-trị việc mình làm.

Gần tới trại bệnh, Toàn càng thấy lo ngại cho tình cảnh của Hợi. Trước hết, sẽ kiếm cách trao liền nắm cơm đặng Hợi ăn cho hồi sức đã. Cứu đói như cứu hỏa. Có khi thấy cơm mà mà tù không còn sức nuốt vì quá kiệt sức. Rồi sau, mới tính cách chữa trị hai vết thương bằng các thứ lá rừng.

Chưa tới nơi, Toàn đã nge tiếng rên rỉ của tù bệnh.

Không thấy giám thị đâu, Toàn bảo 463 đứng đợi bên ngoài, anh vào trong phòng coi có tù nhân nào chết phải khiêng ra vườn chuối không. Rồi Toàn lẻn vào, hớt hơ hớt hãn dáo dác nhìn.

Mùi hôi thối bốc lên khiến Toàn muốn mửa. Tuy thế, anh cũng rán đi giữa hai hàng chõng, nhìn mặt từng tù nhân để tìm Hợi. Lượt đầu, không thấy Hợi đâu, Toàn vừa hoảng sợ vừa lo, quay ra kiếm lại.

Một bệnh nhân ngồi phệt trên mặt đất, dựa lưng vào thành chõng, hai tay ôm chặt ngang bụng, đầu cúi gục xuống mà rên rỉ, Toàn mừng quá vội lại gần sẽ gọi:

– Hợi! Hợi! Bác Toàn đây, cháu Hợi à!

Nhưng người bệnh không trả lời, Toàn cúi thấp xuống để nhận diện và chưng hửng: Không phải Hợi!

Vậy Hợi đi đâu rồi?

Toàn lật đật quay ra ngoài, kiếm men theo vách trại. Hợi có thể té “bất ngờ” vì kiệt sức, khi trở về chỗ nằm.

Vừa quẹo theo bức vách, đã thấy hai người nằm lăn ra mặt đất. Hắn là tù chết bị liệng tạm ra đây, chờ khiêng ra bụi chuối đem chôn. Một xác nằm ngửa, phanh ngực để lộ làn da xám đen dính sát vào xương lồng ngực. Người này đã trọng tuổi. Cách đó hai bước chân, một xác nữa nằm nghiêng, cánh tay vắt ngang che mặt. Toàn lật đật ngồi thụp xuống, nhìn con số in trên ngực áo bằng thứ mực đặc biệt không phai: 684!!

Đúng rồi!!

Toàn mếu máo, gọi rối rít:

– Hợi ơi! Hợi! Cháu chết rồi sao?

Rồi Toàn nắm lấy cánh tay Hợi, vừa lắc vừa gọi, hai hàng nước mắt lã chã:

– Hợi! Hợi! Cháu chết rồi thật sao? Bác mang cơm cho cháu đây này.

Toàn đặt tay lên ngực Hợi coi tim còn đập không. Trong trại giam, nhiều người chết giấc vì kiệt sức hay quá đói, một lúc lâu, lại tỉnh dậy đi lao tác như thường.

Bỗng Toàn sững sờ, miệng há hốc không nói nên lời.

Trên bộ mặt trắng bệch vì thiếu máu, hai hàng mi của Hợi hơi rung động hé mở. Rồi rõ ràng lòng đen con mắt thoáng đưa qua đưa lại rất nhanh. Toàn sực tỉnh, sợ hãi ngó bên phải, bên trái, không thấy bóng nhân viên, lại cuống quýt gọi nho nhỏ:

– Hợi! Tỉnh lại cháu, bác mang cơm cho cháu đây.

Bất ngờ Hợi hé mắt, mấp máy cặp môi, thì thào:

– Bác Toàn! Cháu vẫn sống chỉ mệt thôi, nhưng cần được khiêng “ra bai” gấp, nội sáng nay…có người chờ sẵn ngoài bãi.

– Cháu có đói không? Sẵn cơm đây, ăn một miếng đã.

– Không, tối hôm qua cháu đã được ăn uống no, tay cũng được băng lại, bôi thuốc sạch sẽ. Có liên lạc của ba cháu là…

Hợi nín bặt. Một người cầm cây đòn dài tiến lại rất mau, trại viên 464. Cả hai bác cháu hết hồn hết vía. Hướng theo ý muốn của Hợi tuy chưa kịp nhận xét nên hay không, Toàn cố lấy giọng tự nhiên bảo 464:

– Chúng ta khiêng xác này ra vườn chuối gấp cho kịp…

Hai người nhấc Hợi nằm trên võng vừa xong, một cảnh vệ lặng lẽ tới đứng sau Toàn lúc nào không biết. May thiệt là may. Tên cảnh vệ rấm rắn hỏi:

– Mang cái xác thối này đi đâu?

Toàn bỏ cây đòn trên vai xuống, lễ phép nhìn tên cảnh vệ:

– Thưa ông cảnh vệ, theo lệnh của ông giám thị Phiến, chúng em khiêng xác chết ra vườn chuối để cấp trên kiểm điểm lại trước khi chôn.

Tên cảnh vệ gườm gườm cặp mắt một cách đểu cáng, gật gù nhìn cái xác, mủm mỉm cười khiến Toàn điếng hồn:

– Thằng này có vẻ chưa chết hẳn. Nhưng cứ đem nó đi chôn sống, chẳng sao. Bọn Việt gian và bọn trí, phú, địa, hào chúng mày, chôn lúc nào chẳng được!

Tên cảnh vệ nói xong, quay đi liền, tay bịt chặt mũi vì mùi hôi thối nồng nặc, vừa đi vừa khạc nhổ, Toàn toát mồ hôi đẫm áo, nghĩ đến thân phận tù nhân mà choáng váng. Đã có bao nhiêu người bị chôn sống trong trại này? Và sẽ còn bao nhiêu người bị chôn sống? Chừng nào đến lượt mình? Nghĩ vậy, Toàn rùng mình, hai bả vai lạnh buốt.

Trại viên 464 vuốt mồ hôi trên mặt, thảN nhiên đưa đòn gánh lên vai. Giây lát, Toàn lại nhìn xuống mặt Hợi, phân vân ngẫm nghĩ, suy luận mấy lời Hợi vừa nói. Theo anh hiểu, Hợi vừa nói, Hợi đã liên lạc được với một tổ chức nào đó bên ngoài, lúc này giả chết để được khiêng ra bãi, ngoài bãi tất sẽ có người giải cứu cho hắn, nhưng giải cứu bằng cách nào. Hợi không nói. Vậy công việc chính là làm sao đem Hợi ra bãi cho lọt mà không bị phát giác thiếu niên bất hạnh này còn sống.

Vườn chuối lố nhố những người. Giám thị Mường đang kiểm soát lại những xác chết. Thanh và đồng cảnh khác cũng vừa khiêng xác ông già tóc bạc tới, đặt nằm cuối hàng. 464 dừng chân, định đặt xác Hợi nằm đầu hàng, Toàn đã đẩy mạnh cây đòn trên vai làm hiệu và khẽ nói:

– Đặt xuống chót hàng để cho ra-bai sau cùng.

Dụng ý của Toàn là kéo dài thời gian. Cho Hợi ra bãi sau cùng, Toàn còn có thì giờ suy nghĩ hoặc bàn tính với Thanh. Đợi lúc thuận tiện, khi thấy sự kiện khác lạ, hoặc không có giám thị ngoài bãi tha ma, anh mới khiêng Hợi ra, đặng giúp cho sự giải cứu Hợi bớt khó khăn trở ngại.

Nhưng sự việc xảy ra khác hẳn với dự liệu của Toàn. Trong lúc còn hoang mang, tâm trí phân tán vì kế hoạch liều lĩnh bất ngờ của Hợi, Toàn không nhận ra rằng, mấy xác nằm đầu hàng đều đeo xiềng. Luật lệ trại giam bắt buộc phải thu hồi xiềng trước khi đem chôn xác. ban Quản-trị trại giam phóng tay hủy diệt những phần tử bị họ buộc là Việt gian, phản động nhưng không thể lãng phí vật dụng. Giám thị Mường ngó những sợi xiềng ở chân xác chết, rồi chỉ vào xác chết nằm cuối hàng ra lệnh:

– Bắt đầu từ xác cuối cùng không xiềng, khiêng ra bãi theo tôi.

Toàn giật mình đến toát một cái. Nhưng khi thấy giám thị quắc mắt đứng đó quan sát, Toàn và 464 hấp tấp nhấc Hợi nằm lên võng nứa ngay ngắn, khiêng đi theo giám thị ra bãi. Toàn liếc nhìn. Mặt Hợi vẫn lạnh lùng, có khi hắn sợ quá chết rồi cũng nên.

Ngoài bãi đã có mươi cái hố đào sẵn thành một dẫy dài. Tới bãi. Toàn đặt Hợi trên một mô đất sạch sẽ cao ráo. Anh nhìn trộm giám thị rồi lật Hợi nằm nghiêng cho khỏi bị ánh sáng mặt trời dọi vào mắt. Toàn lại càng phân vân khi thấy mi mắt Hợi khẽ rung động, môi hơi mấp máy muốn nói. Thấp thỏm không yên nhưng Toàn không dám có một cử chỉ nào khác, sợ giám thị nghi ngờ.

Hai người sắp quay về vườn chuối, giám thị lại dặn:

– Tiếp tục khiêng những xác không có xiềng ra chôn trước cho chóng.

– Dạ, xin tuân lệnh.

Đã đến nước này, Toàn hoang mang rối trí không biết tính sao. Hai người khiêng cái xác thứ nhì, sắp ra khỏi cổng sau của trại bỗng có một người lù lù xuất hiện, giám thị Phiến. Không biết Phiến đứng đợi ở đây từ lúc nào? đang rình rập cái gì mà mặt mũi đỏ gay, dáng điệu hung hăng như vừa tranh chấp với ai. Toàn càng hoảng sợ khi nghe bước chân Phiến theo sau. Theo Toàn dự đoán, chính viên giám thị Mường đã bố trí kế hoạch cho Hợi hành động. Giây phút thập tử nhất sinh, ngờ đâu giám thị Phiến đột ngột xen vào, kế hoạch trốn của Hợi sắp hoàn thành bị phá vỡ. Vì phải đề phòng giám thị Phiến, giám thị Mường sẽ không dám hành động theo kế hoạch hậu quả, Hợi sẽ bị phát giác là giả chết để trốn. Hình phạt dành cho tù nhân trốn lần thứ nhất là 50 hèo do Đầu Trâu thực hiện, sức Hợi chỉ chịu nổi từ 20 đến 25 là chết ngắc.

Hoặc Hợi phải chịu chôn sống nếu không muốn ăn đòn phạt.

Chôn sống thật khủng khiếp, không lời nào tả xiết. Người chịu hình phạt chôn sống bị liệng xuống nằm dưới đáy huyệt, thấy đất cát tới tấp lấp lên mình, ào ào đè lên chân tay, mặt mũi, bụng ngực. Muốn kêu, muốn thét, muốn gào mà đành câm họng vì cát đất tràn vào nút chặt miệng. Đất bịt mắt không cho trông, bịt mũi không cho thở, lấp kín tai không cho nghe, nhất quyết ngăn cách nạn nhân với sự sống trên dương thế. Nạn nhân hồn phi phách tán cuống cuồng há mồm để đớp lấy chút dưỡng khí thì chỉ đớp được đất cát thay cho dưỡng khí, trợn mắt đến rách kẽ để nhìn nhưng chỉ thấy cái tối tăm dầy đặc của âm ty địa ngục. Rồi nạn nhân tắt thở dần dần trong một cơn cuồng loạn tỉnh táo, chết đến đâu biết đến đó.

Hồi nhỏ, Toàn đã bị chết đuối một lần để anh tưởng tượng ra sự khiếp đảm của người ngộp thở vì bị chôn sống. Chết không đáng sợ, nhưng chết cách đó mới thật khủng khiếp.

Tưởng tượng cảnh chôn sống sẽ xảy ra với Hợi, Toàn muốn ngộp thở. Hít một hơi thật dài đầy hai buồng phổi, anh lấy làm mừng thầm còn được tự do hô hấp.

Nhưng bây giờ phải làm sao đây để cứu Hợi khỏi chết? Toàn cuống trí quá không nghĩ ra được kế nào? Hai chân đều đều bước mà Toàn như đi trên lưng chừng mây. Ra đến huyệt lúc nào anh không biết, 464 đưa tay lên nhấc đầu đòn để hạ xác xuống đất, Toàn mới giật mình tỉnh lại.

Cái xác thứ hai đặt nằm bên Hợi. Toàn lợi dụng cơ hội để nhìn mặt Hợi lần cuối. Hợi thảN nhiên không chút nhăn nhó sợ hãi, không ra vẻ còn sống, mà cũng chưa có vẻ người chết.

Giám thị Mường đến bên huyệt xem xét bề sâu, ước lượng khả năng chôn của từng lỗ, thấy lỗ nào cũng lưng nước. Bỗng giám thị Phiến cất tiếng hỏi đồng nghiệp:

– Đồng chí thấy một lỗ chôn được mấy xác?

– Theo tôi, ít ra cũng chôn ba xác.

Phiến lại gần hố nghiêng đầu ngó xuống rồi nghiêm nghị bảo giám thị Mường:

– Tôi vừa thấy đồng chí Phó Trưởng ban đến khám nghiệm hai xác chết quàn ở kho tạm, gần Trại xiềng. Có tôi ở đây coi chôn xác đủ rồi, đồng chí nên về trại phòng hờ đồng chí Phó Trưởng ban có cần hỏi đến đồng chí chăng. Vụ lộn xộn đó xảy ra trong phiên trực của đồng chí mà! Nhân tiện, nếu thượng cấp cho chôn cựu giám thị Tùng thì đồng chí cho khiêng xác hắn ra đây…”làm” luôn cho rồi.

Ý kiến của Phiến xác đáng, giám thị Mường không có cách gì phản đối. Hơn nữa, giám thị Phiến lại là nhân viên thân tín của đồng chí Phó Trưởng ban, cấp bậc cao hơn, thâm niên lâu hơn. Toàn thấy giám thị Mường lộ vẻ suy nghĩ song y cũng gật đầu miễn cưỡng, rảo bước thật nhanh về trại.

Giám thị Phiến thốt nhiên quát:

– Hai trại viên về trại khiêng gấp xác chết ra đây cho kịp giờ, đứng làm gì đây? Muốn nhịn bữa cơm chiều nay hả?

Toàn than thầm:

– Thế là Hợi tận số rồi!

Rồi quay về trại như người không hồn. Đi được khoảng hai trăm thước, Toàn thấy xa xa, trên con đường đồi phía sau trại, có hai người ăn mặc theo lối cán bộ cao cấp, một người cỡi ngựa, một người đi bộ cùng với hai người mang y phục chàm như dân thiểu số địa phương. Thoạt tiên, Toàn đoán Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ tới thanh tra trại, bất giác anh sợ hãi cuống cuồng. Nhưng anh nhớ ra một chi tiết đặc biệt vẫn nghe nói: Lý Bá Sơ đi thanh tra, luôn luôn có bốn vệ sĩ đi xe đạp hộ vệ rầm rộ phía trước phía sau, Sơ cưỡi ngựa tây oai vệ đi giữa. Vậy, chắc đây là cán bộ cao cấp của cơ quan khác công tác ở vùng này.

Toàn quay về với mối lo hiện tại, lật đật bỏ xác chết thứ ba lên võng rồi hối 464 khiêng đi cho mau. Anh thầm tính nếu giám thị Phiến ra lệnh chôn Hợi và hai xác khác vào chung một hố, anh sẽ làm như bất ngờ phát giác Hợi sống lại để cứu Hợi khỏi bị chôn sống trước đã, rồi sẽ tùy cơ ứng biến sau. Không còn cách nào khác.

Phải chi anh hỏi rõ ràng Hợi đã liên lạc được với bên ngoài qua trung gian là giám thị Phiến hay giám thị Mường thì anh hành động dễ dàng biết bao nhiêu không? Thật, không cái ngu nào giống cái ngu nào!

Vừa đặt cái xác thứ ba xuống cỏ, Toàn giật mình, hết hồn hết vía vì không thấy hai xác vừa rồi. Thôi chết rồi có lẽ…

Toàn hốt hoảng, cuống cuồng dáo dác nhìn đây đó trên bãi cỏ, vẫn không thấy xác Hợi đâu. Trong khi đó giám thị Phiến xúc đất đổ hắt xuống hố không hở tay, rõ ràng y đang chôn hai xác đầu tiên. Quên hết nguy hiểm, Toàn lật đật chạy bên hố ngó xuống…

Tức thì hai hàng nước mắt anh trào ra cùng những giọt mồ hôi đầm đìa trên mặt trên cổ, lã chã nhỏ xuống mặt nước dưới huyệt.

Hình ảnh một cánh tay gầy guộc còn thò ra khỏi những tảng đất lấp dở dang dưới hố…mờ dần rồi nhòa hẳn sau mảng nước mắt. Toàn choáng váng mặt mày, muốn gào lên thấu trời xanh mà nghẹn ngào không nổi.

Một ý nghĩ làm anh tán loạn đầu óc: Hợi đã bị chôn sống! Và đương nhiên ngộp thở mà chết rồi.

Gần một phút trôi qua. Toàn lần lần tỉnh lại. Anh quệt nước mắt ngó kỹ.

Giám thị Phiến tiếp tục xúc đất hất xuống huyệt, mặc dầu công việc lấp đất không phải là công việc của giám thị.

Nước mạch dưới hố bị đất lấp dần chỉ còn một ít nơi sát bốn thành. Giữa hố, mấy ngón tay khẳng khiu của xác chết thò ra. Mặt mũi và mình mẩy đã bị lấp gần kín. Nhưng Toàn cũng thấy ngón tay cái của xác chết không phải ngón tay bị thương của Hợi. Như thế, tất nhiên xác Hợi phải nằm bên dưới. Nghĩ đến lúc Hợi bị liệng xuống hố, nước tràn vào miệng vào mũi làm ngộp thở, rồi bị một xác khác đè lên trên mà cậu quá kiệt sức không đứng lên nổi, Toàn vừa xót xa vừa ân hận.

Một tiếng quát làm Toàn giật bắn mình:

– Muốn chôn luôn hay sao mà ngồi đó?

Toàn hoảng kinh lật đật đứng lên, hai mắt ráo hoảnh. Giám thị lại mắng:

– Lấp đất cho mau rồi, chứ đứng đấy, định làm cha người ta hả?

Anh quay nhìn trại viên 464, bỡ ngỡ thấy người này đang đứng yên như pho tượng, cặp mắt lim dim nhìn xuống huyệt, môi mấp máy, mường tượng như một nhà sư đang tụng kinh cầu siêu cho vong giả. Nghe giám thị quát, 464 lăng xăng ôm những tảng đất lớn liệng xuống hố, lấp cho mau đầy…

o O o

Vì cần chôn cho xong cả chục xác chết trước mười giờ sáng đặng còn cho tù nhân đi làm công việc sản xuất, giám thị đã cho tăng cường bốn trại viên nữa. Nên khi Toàn và 464 quay về bụi chuối để tiếp tục công việc thật vô ích đối với ban Quản-trị là khiêng xác chết đi chôn, chỉ còn lại bốn xác, tất cả đều mang xiềng. Vì thế, giám thị Mường đã gọi tù thợ rèn đến làm công việc chuyên môn, tháo xiềng ở chân xác chết ra.

Trong khi chờ đợi có việc làm, Toàn thẫn thờ ngồi nghỉ dưới bóng mát bụi chuối rậm râp. Trồng bên hố phân dài như cái lạch, bụi chuối tốt tươi đặc biệt. Không rộng quá bốn thước nhưng dài hơn hai chục thước, hố phân là nơi sáu, bảy trăm con người trút bỏ những chất tiêu hóa thừa hàng ngày. Mỗi tuần một lần, hơn chục tù nhân vào nhà bếp gánh gio ra đổ xuống hố.

Nhưng trại muốn có phân bón ruộng và hoa màu phụ, phải làm gio làm phân mới dùng được. Công việc này khiếp đảm vô cùng, thường dùng cho những tù nhân phạm lỗi nặng và được coi là hình phạt nhằm áp đảo tinh thần của tù nhân.

Ngoài cái ghê tởm, bẩn thỉu, công việc còn nguy hiểm chết người nữa.

Khi tù nhân lội xuống hố, nhào quậy lung tung, hơi thối như hơi ngạt bốc lên quá nặng nề, tù nhân nào yếu đuối bịnh hoạn chịu không thấu đang làm bỗng chết xỉu luôn dưới hố, đồng cảnh phải hè nhau xốc nách mang lên bờ cứu cấp.

Có nhiều tù nhân già cả hay bịnh hoạn đã chết dưới hố mà không ai biết.

Mùa mưa, dưới hố nước lỏng bỏng, tù nhân bị bịnh dò dẫm ra đi cầu, run rẩy, chóng mặt trượt chân rớt xuống. Đi không được vì quá sâu, bơi không nổi vì không phải là nước, thế là chết chìm luôn không để lại dấu vết.

Nhưng hố phân vĩ đại này còn là nơi phi tang nhiều thứ.

Được giám thị cho biết công tác phải làm gấp, thợ rèn xách đồ nghề đến bụi chuối. Tay xách búa tạ, tay ôm khúc gỗ dùng làm đe và một con dao rựa, thợ rèn xăm xăm đến gần, ngó mấy sợi xiềng ở chân các xác chết rồi mới liệng đồ nghề xuống đất.

Đối với thợ rèn, không có gì chán nản hơn việc tháo xiềng ở chân xác chết ra. Đóng xiềng vào chân tù còn được hối lộ ít nhiều tùy hoàn cảnh tù nhân, nhưng tháo xiềng thì xác chết không cần hối lộ. Trước đây, thợ rèn toa rập với giám thị Tùng còn kiếm chác được kha khá, nay giám thị Tùng bị tù hạ sát rồi thợ rèn như rắn mất đầu, lại còn sợ tù trả thù.

Biết là công tác khẩn, thợ rèn hách dịch hất hàm gọi Toàn lại phụ hắn một tay. Toàn làm việc quần quật từ sáng hai chén cơm đã tiêu mất không còn gì, lại gặp nhiều chuyện bất ngờ, kinh hoàng, thương tâm, nên thần trí mệt mỏi cứ nhắm mắt lại là muốn ngủ gục liền. Thấy thợ rèn gọi, Toàn bực lắm nhưng không đừng được, đành phải đứng nhỏm lên, vừa đi vừa rủa thầm.

Thợ rèn nhấc bàn chân một xác chết, đặt khoen sắt đeo ở cổ chân lên khúc gỗ, dùng một cây đinh sắt đặt trúng lên đầu cây đanh ri-vê (dùng làm chốt nối liền mép khoen sắt) rồi “đột” một cái, cây đanh ri-vê sút ra liền. Sau đấy, y dùng kìm mở rộng thêm đường kính khoen sắt để tháo khoen khỏi cổ chân xác chết. Lần lượt, thợ rèn tháo đến khoen sắt của xác chết thứ tư, tức là xác cuối cùng đeo xiềng.

Mồ hôi ròng róng, thợ rèn đột cho sút cây đinh ri-vê cuối cùng, năm lần bảy lượt mà không được. Cây đanh đã sét rỉ, không dễ gì tháo ra được.

Thợ rèn cau mặt liệng búa xuống đất, ngó quanh quẩn. Một tên cảnh vệ còn đứng vơ vẩn dưới bóng rợp bụi chuối. Giám thị Mường vừa được gọi lên văn phòng để trả lời thêm về vụ lộn xộn ở Trại xiềng đêm hôm trước. Toàn vẫn đứng gần thợ rèn trong khi 464 ngồi đợi bên cây đòn dài và cái võng nứa.

Bỗng có tiếng tu hít ré lên trước cửa văn phòng. Một viên giám thị xuất hiện giữa khoảng sân trống nhìn về các phòng giam dưới trại liên tiếp hất tay ra hiệu, miệng thổi tu hít dồn rập.

Toàn ngơ ngác nhìn trước nhìn sau, không hiểu xẩy ra chuyện gì. Chợt anh thấy bên ngoài cổng trại loáng thoáng mấy chiếc xe đạp và bốn, năm người mà anh đoán là công an viên đứng bao quanh hộ vệ một người mập mạp, đội nón nỉ vành rộng ngồi oai vệ trên một con ngựa tây cao lớn.

Toàn bất giác tái mặt, nghĩ thầm:

– Chết cha! Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ tới thanh tra….

Rồi hốt hoảng ngó thợ rèn. Xem chừng thợ rèn cũng hoảng sợ không kém. Tên cảnh vệ lật đật rảo bước đi “rỏn” khắp sân trại. Trước Trại xiềng, một viên giám thị tất tả chạy vô, chạy ra, dưới nhà bếp, hai ba người ló ra lấm lét ngó về phía văn phòng rồi thụt vô bên trong liền.

Thợ rèn cuống quýt rõ rệt. Y vẫn không “đột” ra được cây đanh ri-vê để tháo khoen sắt và sợi xiềng khỏi cổ chân xác chết. Toàn nóng lòng đợi khiêng cái xác cuối cùng ra bãi chôn. Nhớ đến thành tích giết tù của Lý Bá Sơ, Toàn không giám cho tên ác quỷ này thấy mặt. Nó nhớ mặt thì tù dễ chết lắm.

Thợ rèn đặt ghếch gót chân xác chết lên khúc cây dùng làm đe. Rồi y lạnh lùng nhìn cổ chân khẳng khiu, hai tay nắm chặt cán dao rựa. Mũi dao bỗng loang loáng vẽ thành một đường cánh cung từ cao chém mạnh xuống. Một tiếng “phập” khô khan, toàn thân xác chết nẩy lên nhè nhẹ như giật mình, đồng thời, cái sọ dừa khẽ lắc qua, lắc lại ngật ngưỡng vài cái phản đối lấy lệ rồi ngay đơ ra như trước. Cổ chân đã đứt lìa như cành củi mục bị chặt. Bàn chân văng sang bên, khoen sắt cùng sợi xiềng loẻng xoẻng sút khỏi cổ chân liền.

Thợ rèn trông trước trông sau, đoạn dùng mũi dao rựa hất bàn chân vừa chặt đứt xuống hố phân.

Toàn khiếp đảm ngó theo, ngơ ngác như người mất hồn, xoa xoa cổ chân mình như vừa bị ai đánh. Thoáng cái, bàn chân dưới hố phân chìm liền. Không để lại dấu vết.

Thợ rèn hấp tấp thu dọn đồ nghề quay về lò rèn. Toàn và 464 bỏ xác chết vừa bị chặt cụt chân nằm vào võng cho lẹ rồi không ai bảo ai, hai người vừa khiêng vừa chạy về phía cổng sau trại để ra bãi tha ma.

Chợt nhớ lại trường hợp thiếu niên Hợi bị chôn sống một phần do sự vụng tính của mình, Toàn lại ứa hai hàng nước mắt…

——————-
(1)Chủ nhân hãng thuốc lá Van Niên cũng bị bắt giam tại một trại giam ở Khu Tư, sau vượt trại trốn thoát về Hà Nội, rồi trốn được xuống Hải Phòng để di cư vào Nam.

—>26

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.