Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

26.

Trong khi Toàn vẫn còn bị giao động hoang mang vì vụ Hợi bị chôn sống, thêm nhiều sự việc xảy ra gây sóng gió cho ban Quản-trị và nhất là cho các tù nhân đã ngoắc ngoải của trại này.

Như đã nói, từ hơn tuần nay, trại giam xôn xao vì tin Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ đến thanh tra. Trưởng ban về khu công tác nên Phó Trưởng ban phải đứng mũi chịu sào.

Phó Trưởng ban vẫn làm ra vẻ bình tĩnh nhưng trong lòng rất hoảng kinh. Từ sáng sớm, y đã cho một cán bộ học tập đến trụ sở Ủy-ban Hành Chánh Xã hỏi tin tức. Trước khi đến trại giam, Sơ có thói quen đến thăm xã giao những cơ quan hành chánh địa phương để dò hỏi về những vụ tai tiếng lỗi lầm của trại và tác phong của từng nhân viên cao cấp. Đi thanh tra trại giam nào, Sơ bắt buộc phải có những yếu tố sinh sát nhân viên trong tay mới thấy tự thỏa mãn.

Khoảng 8 giờ sáng bữa đó, sau khi xem xét tờ trình về vụ cựu giám thị Tùng nhốt trong trại xiềng, gây sự với tù và bị tù đánh chết, Phó Trưởng ban cho dấu tạm hai xác vào một nơi kín đáo là cái kho phụ, sẽ giải quyết sau.

Được tin Lý Bá Sơ cùng đoàn tùy tùng tới xã từ hồi hôm trước, và hiện Sơ đã lên ngựa ra Trại giam Đầm Đùn, chú cán bộ hốt hoảng quay về, vừa đi vừa chạy cho kịp cấp báo. Từ trại vào làng, chú đi đường tắt, phái đoàn Lý Bá Sơ tới trại bằng đường cái quan nên hai bên không gặp nhau.

Đứng trên lầu, Phó Trưởng ban luôn luôn ngó ngược ngó xuôi hai ngã đường lớn đưa tới trại giam, trong lòng hồi hộp lo ngại. Uy danh và thành tích của Lý Bá Sơ rất lớn, tạo cho y một thế đứng đặc biệt, tên tuổi vang rền không trại nào không biết.

Văn phòng ban Quản-trị có một từng lầu để Trưởng ban đặt bàn giấy của riêng hắn, nhân khi hắn vắng mặt, Phó Trưởng ban sẽ dùng làm nơi tiếp Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ.

Trên vách phòng giấy, có treo nhiều bản sơ đồ, sơ đồ tổ chức trại giam, bản thống kê các loại tù nhân, khả năng sản xuất của trại, sự phát triển của trại qua những con số v.v… Đồng chí Tổng Giám-đốc chỉ liếc mắt là có đủ những con số và chi tiết cần thiết.

Tên cán bộ đi lấy tin vẫn chưa về tới.

Bỗng Phó Trưởng ban đứng lặng người cau mặt nhìn, từ đằng xa, một đám người đang tiến nhanh về phía trại. Trong đám, có một người cưỡi ngựa và mấy người đi xe đạp bận đồng phục bao quanh người cỡi ngựa. Nguy rồi, Tổng Giám-đốc đã đến rất đột ngột.

Phó Trưởng ban hốt hoảng xuống cầu thang, ra lệnh:

– Chuẩn bị đón tiếp! Đồng chí Tổng Giám-đốc sắp tới.

Nhiều tiếng còi tu hít ré lên. Đó là hiệu lệnh của Phó Trưởng ban. Sau hồi còi, mười tên cảnh vệ súng ống đàng hoàng do một tiểu đội trưởng chỉ huy tiến ra bên ngoài cổng, dàn thành hai hàng đứng chào. Bốn, năm viên giám thị đứng vào những vị trí đã được định trước theo sự sắp đặt của Phó Trưởng ban, còn Phó Trưởng ban, y phục chỉnh tề, đi đi lại lại ngay bên cổng trại, cố tạo ra vẻ mặt tươi tắn và trang trọng.

Trong khi đó, một viên giám thị khác chạy ra khoảng đất trống, quay về phía các phòng giam thổi một hồi tu hít báo động cho các nhân viên làm việc dưới trại hoặc đang coi tù nhân lao tác. Màn kịch đã bắt đầu…

Phó Trưởng ban cố rít một hơi thuốc chót trước khi liệng điếu thuốc Cô Tiên 1 mới cháy gần một phần tư xuống đất, đạp đế dép Bình-Trị-Thiên lên trên thật kỹ cho điếu thuốc nát bấy lẫn với đất. Cán bộ của chế độ vô sản phải theo gương cần kiệm, không thèm xài những loại xa xỉ phẩm của thực dân như họ vẫn giáo dục tù nhân trong những giờ học tập.

Đâu vào đó rồi, Phó Trưởng ban lững thững một cách…vội vàng trịnh trọng đi ra chỗ trống phẳng phiu trước trại, đợi những phút nghiêm trọng sắp tới. Tuy yên trí đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Phó Trưởng ban vẫn không giữ nổi sắc mặt cho khỏi tái.

Vó ngựa phi nước kiệu nhỏ đã rõ từng tiếng, rồi sau cùng cùng dừng lại trước cổng lớn trại. Bốn tên công an răm rắp nhảy xuống xe đạp như những người máy đứng thành đội hình phòng vệ sau người cỡi ngựa, nhất loạt đưa bàn tay lên cò súng tiểu liên đeo lủng lẳng ngang bụng.

Từ bên trong trại, Phó Trưởng ban đon đả chạy lại, cúi đầu chào thượng cấp và khi còn cách đầu ngực chừng ba thước, y đứng nghiêm, vung quả đấm lên ngang đuôi con mắt chào. Đúng lúc đó con ngựa Tây cao lớn đặc biệt có một vết trắng dài từ trán xuống đến chót mũi, nổi tiếng ở Liên-khu Ba và Tư, chồm hai chân trước lên cao, hí vang lừng rồi bổ móng xuống đất cồm cộp. Sau mấy lần chồm lên như thế, móng ngựa chỉ cách mũi dép Bình-Trị-Thiên của Phó Trưởng ban không tới một thước.

Đó là một đòn thử giây thần kinh Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ vẫn thường dùng.

Phó Trưởng ban hết hồn nhưng vẫn phải đứng nghiêm như trời trồng, không dám lùi một bước cho đến khi chào xong.

Thượng cấp Lý Bá Sơ vẫn ngồi nhấp nhỏm trên mình ngựa, tay ghì cương lấy điệu, lạnh lùng nhìn cấp dưới không thèm chào lại. Trong khi đó, theo tiếng hô của viên tiểu đội trưởng, mười tên cảnh vệ răm rắp bồng súng chào theo quân cách.

Phó Trưởng ban vẫn giữ được nét mặt hòa nhã tuy uất ức. Hắn ngước nhìn người ngồi trên mình ngựa rồi tiến lại gần, trịnh trọng cất tiếng:

– Kính chào đồng chí Tổng Giám-đốc.

Một giọng nói khàn khàn, hách dịch, uể oải đáp:

– Chào đồng chí Phó Trưởng ban.

Chỉ thoáng qua thời gian hai câu chào, Phó Trưởng ban đã thấy đồng chí Tổng Giám-đốc hồi này mập mạp, oai vệ hơn hồi năm ngoái nhiều. Mặt vuông như chiếc bánh chưng, lá mỡ dưới cằm chảy xệ xuống, hai bên bả vai dầy u như đắp thêm thịt, Sơ có vẻ một phú nông quê kệch nếu mặt hắn bớt sát khí đằng đằng. Nhất là cặp mắt gian xảo tàn bạo hơn nhiều so với hồi còn làm lái đò ở bến đò Khuê. Hắn đeo kiếng trắng, giọng mạ vàng loại đắt tiền, nhưng vật trang sức này chỉ làm tăng thêm vẻ ngây ngô thô kệch của bộ mặt.

Sơ đội mũ nỉ màu xám còn mới, vành rộng và mép cuốn cong lên như loại mũ đặc biệt bọn chăn bò bên Mỹ thường dùng. Trước bụng, một khẩu súng Colt to tướng, ngang sườn bên trái hắn đeo một con dao găm lớn, quanh bụng là một thắt lưng da to bản, gài đầy đạn đầu đồng sáng loáng.

Con ngựa Tây cuồng cẳng còn muốn chạy nữa, không ngớt đập móng cồm cộp, nhưng Sơ ghìm chặt cương khiến con vật ngoẹo đầu về một bên, nhe hàm răng ra, vẻ mặt dữ tợn không kém gì chủ.

Bốn tên công an theo Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ từ khu vào, vẫn đứng bao quanh phía sau ngựa, lầm lì hung hãn.

Phó Trưởng ban nghiêng một bên mặt, ngần ra hiệu cho thuộc cấp.

Một cán bộ học tập của trại vội tiến lại trước đầu ngựa lễ phép chào rồi chìa tay sẵn sàng giữ cương cho ông Tổng Giám-đốc xuống ngựa. Một viên giám thị cũng lại gần đợi đỡ chiếc ba lô đeo bên mình ngựa đựng giấy tờ sổ sách và vật dụng riêng mà ông Tổng Giám-đốc luôn luôn mang theo khi đi thanh tra.

Vừa lúc tên cán bộ nắm dây cương, con ngựa cao lớn bỗng hung hăng hất đầu mạnh liên tiếp một hồi, tên cán bộ lùi lại nửa bước nhưng tay hắn vẫn nắm chặt đoạn cương sát mép, ghìm cứng hàm thiếc, liên tay tát bôm bốp vào nơi gần hai mắt khiến con ngựa “tá hỏa”, sợ hãi đứng yên. Tên cán bộ này trước kia làm nài ngựa đua nên biết cách trị những con ngựa dữ. Nhân dịp, hắn cũng muốn tỏ ra tháo vát lanh lẹ trước mặt thượng cấp.

Phó Trưởng ban hoảng sợ, định quát thuộc hạ về cử chỉ kém lễ phép tế nhị thì Lý Bá Sơ đã lanh lẹ nhẩy xuống đất, khẽ trừng mắt tỏ vẻ không hài lòng. Hắn tung sợi dây cương lên cổ ngựa rồi lừng lững qua cổng, tiến về phía văn phòng ban Quản-trị. Tên cán bộ học tập đỡ lấy sợi dây cương và dắt ngựa đi theo khi viên giám thị đã tháo ba lô khệ nệ cắp vào bên nách.

Đi bên Lý Bá Sơ, Phó Trưởng ban lấy giọng vui vẻ kính cẩn hỏi:

– Thưa đồng chí Tổng Giám-đốc, đồng chí phải dùng ngựa đi công tác có mệt không?

Tổng Giám-đốc khẽ nhếch hàm răng đen cải mả, rấm rắn trả lời:

– Đi cả tháng cũng không mệt. Vả lại, trong khi bộ đội và toàn dân nỗ lực chuyển sang giai đoạn tổng phản công giành thắng lợi sau cùng, ta phải có tinh thần làm việc không biết mệt. Một cán bộ phải có tác phong như vậy.

Ngưng một giây, Sơ quay nhìn Phó Trưởng ban lạnh lùng nói tiếp:

– Chỉ khi nào đi thanh tra mà gặp những phần tử ăn hại, không có tinh thần làm việc tiến bộ, kém tác phong gương mẫu, chỉ khi đó mới “mệt” thôi. Vì phải có “biện pháp”.

Phó Trưởng ban không biết nói gì thêm, “dạ…dạ” mấy tiếng.

Lý Bá Sơ lừng lững lên lầu, chắp tay sau đít, đến gần những bản sơ đồ treo trên tường, gật gà gật gù không thèm nói một tiếng. Phó Trưởng ban trình bày sơ qua những hoạt động của Trại Sản-xuất và Tiết-kiệm Đầm Đùn, rồi đưa sổ sách ra cho Tổng Giám-đốc xem xét.

Khám xong quỹ của trại và xem đi xem lại những con số về dịch vụ than, củi, Lý Bá Sơ vẫn không nói một tiếng, đi liền xuống trại coi một lượt các phòng giam, nhà Tiểu Công Nghệ, nhà bếp, lò rèn, lều phong vương, ao thả rau muống, trại chăn nuôi, hố phân, trại phụ nữ (tại một nơi riêng biệt) rồi quay về văn phòng, xem lại sổ sách phân phối than củi cho các cơ quan mãi dịch lần nữa.

Buổi chiều, y thanh tra khắp trong trại lần thứ hai, đi đến đâu giở sổ tay ngi đến đó, thỉnh thoảng lại lắc đầu. Y không hài lòng về nhiều chuyện.

o O o

Ngay từ lúc Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ mới tới, cảnh tượng trong trại nhộn nhịp hoạt động hơn nhiều. Số tù nhân làm việc trong trại được tăng lên gấp ba, bốn lần. Có tới bốn chục tù gánh nước chạy rầm rập tưới các ruộng rau, dưa, cà…bên ngoài trại. Ban canh nông hoạt động rất hăng, ngoài công tác cuốc đất, còn năm sáu bọn tù đeo dây, biểu diễn kéo cày thay trâu tại các thửa ruộng gần nhất. Gần hai trăm tù đã được chỉ định ra sông khiêng nứa và tre đẵn ở trên rừng thả sông về, để sửa soạn làm lại hàng rào bao quanh trại và cất thêm nhiều căn nhà mới. Số Việt gian và phản động ngày một đông thêm, các trại giam ở Khu Tư chật ních hết.

Trong nhà Tiểu Công Nghệ, gần hai chục cối xay thóc xay vù vù như phong ba bão táp. Người gánh thóc ra xay, người gánh gạo vào trả trong kho nhộn nhịp. Bữa nay, lại có gần mười phụ nữ từ trại phụ nữ đưa qua để làm công việc sàng, sẩy gạo, một công việc cần đến sự quen tay và vén khéo của phụ nữ. Khổ sở nhọc nhằn đến như thế nhưng có nhiều anh tù vì lâu quá không được gần gũi thấy mặt đàn bà con gái, quên phắt hiện cảnh, liếc mắt đưa tình cười duyên mà nhăn nhó như mếu.

Toàn và Thanh bị cắt vào công việc xay thóc ngay từ buổi trưa, sau giờ nghỉ. Hai người cùng nôn nả từ sáng sớm đợi có lệnh là xin xung phong vào lò than nhưng giám thị chỉ tập họp tù để đưa ra sông khiêng nứa về trại, còn bao nhiêu vào rừng chặt củi, gánh về.

Toàn hoảng sợ, phàn nàn với Thanh:

– Chết rồi, anh ơi! Xay thóc ở nhà Tiểu Công Nghệ, tránh sao khỏi gặp ông Lý. Chẳng may ông ấy đứng lại, quan sát anh em làm rồi hỏi tội trạng, lý lịch từng người thì nguy quá.

Mức xay thóc trung bình là năm thúng cái một buổi, tức là mười thúng một ngày. Lúa xấu nên hai thóc mới được một gạo. Nhưng bữa nay có ông Tổng Giám-đốc đến thanh tra, trại viên phải nêu tinh thần làm việc cố gắng vượt mức nên tiêu chuẩn được nâng lên là 7 thúng thóc nửa ngày. Trước khi tan hàng tù vào kho gánh lúa ra xay, giám thị Mường đã đặt tiêu chuẩn mới cho mọi người. Nghe vậy, anh nào cũng hoảng, buồn thối ruột thối gan đi được. Còn Thanh và Toàn, cả buổi sáng quần quật khiêng xác chết ra bãi chôn lại gặp nhiều chuyện xúc động kinh sợ nên muốn bịnh. Tinh thần lẫn thể chất rã rời, mệt mỏi, hai người càng lo sợ hơn nữa.

Tuy thế, hai người không dám phí một giây, hăm hở bắt tay vào việc luôn, cuống quýt vào kho đong thóc đầy thúng đội về nhà Tiểu Công Nghệ, đổ thóc vào cối, xay rất đều tay. Cũng như nhiều đồng cảnh, cả hai đã có kinh nghiệm xương máu về công tác xay thóc.

Xay 10 thúng cái thóc cũng như đi bộ một quãng đường xa. Đi đường trường mà đi thật nhanh, đi hấp tấp, chẳng mấy lúc hai bắp chân cứng ngắc, ngay đơ, không cất bước nổi. Nếu dừng lại ngồi nghỉ, sẽ không thể nào đứng lên được. Xay thóc mà tận lực xay vù vù như chạy đua tốc độ, chừng hai thúng là bắp tay, bả vai rời rã mắt hoa đầu váng, hết xay nổi những thúng kế tiếp…

Vậy, điều quan trọng là xay đều tay, không vội vã nhưng không chậm và biết lợi dụng đà cối xay để nghỉ từng giây ngắn ngủi. Mỗi vòng cối được nghỉ một giây nhưng giây đó thật quan trọng vô cùng.

Nhờ láu vặt với kinh nghiệm, Toàn và Thanh lựa được hai thớt cối dưới cùng, giáp vách, như thế, chỉ cần ngó chừng mặt trước mà không phải đề phòng nhân viên của trại có thể tới bất ngờ từ phía sau.

Mười tám thớt cối ào ào xay một lúc, nghe như tiếng thác đổ, đứng kế nhau mà không gọi lớn tiếng cũng không nghe thấy.

Xay được chừng tiếng đồng hồ, chưa hết quá nửa thúng thóc thứ hai, Toàn cảm thấy bắt đầu thấm mệt, thoảng ớn lạnh nơi xương sống, hai mắt hỏa bốc lên bừng bừng. Anh nhủ thầm:

– Muốn nóng, muốn bịnh cũng mặc kệ. Phải xay cho xong 7 thúng trước giờ nghỉ không thì…chết…Chết mất xác!

Thoáng nghĩ đến Lý Bá Sơ, Toàn bỗng tỉnh hẳn người, quay nhìn phía sau, thấy Thanh đang nhíu lông mày mà đẩy cần cối đều đặn, khóe hằn hai bên mép lộ ra rõ rệt như anh ta đang nổi giận. Toàn nhăn nhó cười một mình, tiếp tục đẩy cần cối than thầm: Không còn gì bạc phước bằng thân phận thằng tù dưới chế độ Cộng sản.

Xay hết thúng thóc thứ tư, Toàn đã mệt thật sự.

Ngoài bãi cỏ, ánh nắng gay gắt một ngày mùa Hạ đã dịu, từng ngọn gió trong rừng thổi ra mát mẻ. Ở một góc sân, bọn tù khiêng nứa nhộn nhịp xếp nứa thành đống cao. Thấy nứa, nhớ đến đến đòn trừng phạt 983, Toàn lại ớn xương sống, rùng mình liên tiếp.

Đang vét gạo ở lòng máng cối xuống thúng, Toàn bỗng sững sờ nhìn. Về bên tay phải, gần cửa ra vào, một tù nhân đã già, thân hình khẳng khiu nhưng bụng chương phình vì bệnh, vừa xay thóc vừa ngủ gật. Thật đáng lo cho người đồng cảnh vô cùng. Xay đều tay còn không chắc kịp giờ xay uể oải như thế kia, làm sao thoát bị trừng phạt. Trại viên nào cũng biết điều đó nhưng không sao điều khiển nổi bắp thịt của mình, tay chân cứ rã rời, bụng lại đói thắt ruột thắt gan, đầu óc bàng hoàng như người bịnh. Toàn biết trại viên nọ bị rơi vào tình trạng gần như hôn mê, nhưng vì sợ quá mà thân hình vẫn ưỡn ẹo nhấp nhô, hai tay nắm chặt cần cối mà đẩy đi kéo lại.

Bỗng Toàn trố mắt, phác họa một cử chỉ sợ hãi.

Người đồng cảnh nọ tuột tay té nhào về phía trước, vập mặt vào cần cối, la lên một tiếng nho nhỏ, bò lổm ngổm bên cối xay, nhỏm dậy té xuống rồi nhổm dậy rồi lại té xuống, sau cùng cố gắng đứng lên chụp vội lấy cần cối, tiếp tục xay nhanh hơn như không có chuyện gì xảy ra. Cái đó mới thật lạ lùng!

Ông già gầy gò, duy có cái bụng chương phình dưới lần áo như người mang bầu năm tháng. Đồng cảnh gọi đùa là “ông già Chướng”, lâu ngày quen miệng thành tên chính thức, gọi đến “ngụy danh” này, ai cũng biết ngay.

Tuần trước, đồng cảnh thấy ông già vắng mặt, hỏi thăm nhau mới biết ông già xin nằm bệnh xá, mấy hôm sau, lại thấy ông lão xuống trại, bệnh tình không thuyên giảm nên vẫn hổn hển trả lời nhưng câu thăm hỏi! Có đồng cảnh biết qua về y lý, nói ông ta sưng lá lách vì bị sốt rét rừng quá nặng, chỉ đẩy nhẹ khuỷu tay vào mạng mỡ, bệnh nhân có thể dập lá lách chết ngay. Sức khỏe như thế, làm sao lão Chướng đạt được năng xuất mới? Lại nữa, mỗi tháng luật lệ bắt buộc tù nhân phải xung phong tối thiểu mười lần, dưới mức xung phong này, mặc nhiên tù nhân tỏ ra không giác ngộ, phải chịu biện pháp kỷ luật. Lần thứ nhất: Xiềng, lần thứ hai: Cùm. lấn thứ ba: Thưởng thức thêm 50 hèo của Đầu Trâu, chịu đến biện pháp cuối cùng này, dù sống sót cũng trở thành con người tàn phế, tội nhân chỉ mong mau được “giải thoát” kiếp sống.

Anh em đồng cảnh biết, trong thâm tâm ông già Chướng chỉ muốn chết sớm đặng rút ngắn thời gian đau đớn, bệnh hoạn, nhục nhã thời gian làm thân trâu ngựa, song chưa tìm được cách chết nên còn đợi. Cách thường dùng là thắt cổ tự vẫn trong rừng nhân dịp đi làm củi. Chặt một sợi dây mây, làm một thòng lọng cho chắc, choàng vào cổ, trèo lên cây buộc chặt đầu sợi mây vào một cành cây chắc chắn. Rồi nhắm mắt nhẩy vào…hư vô.

Và chấm dứt cuộc đời như ông già tóc bạc người làng Văn Lâm (Phủ Lý) mà tác giả đã nói đến hồi đầu. Cũng có người vừa chảy nước mắt vừa trèo lên cây tìm sự giải thoát, rồi trước khi buông tay nhảy không dù vào cõi chết còn than van dài giòng văn tự để giã từ cuộc đời khố nạn. Lại có người văng tục nhảm nhí, chửi những tên đồ tể khát máu tay sai chế độ cho sướng miệng rồi mới kết liễu cuộc đời.

Nhưng lại có nhiều trường hợp, đến giây phút chót, kẻ tuyệt vọng hốt nhiên sợ hãi, mất hết can đảm, khóc sướt mướt nhìn khoảng trống sâu thăm thẳm trước mặt mà run lên cầm cập, rồi hốt hoảng tháo vội nút thòng lọng ra khỏi cổ tụt xuống đất, mặt tái xanh như tàu lá, len lén về nơi đang chặt củi, tiếp tục làm việc thật hăng chỉ sợ hành động của mình bị phát giác!

Lão Chướng khó lòng thực hiện được cách giải thoát như trên vì không còn đủ sức leo cây.

Nhân bữa nay, Trại cần một số tù nhân xay thóc – một công tác tương đối nhẹ – lão Chướng được ban giám thị chấp thuận cho công tác cùng 17 người khác. Nhưng bưng thúng thóc (vì không đội nổi) từ kho ra đến nhà Tiểu Công Nghệ, ông già nhận ra mình kiệt sức rồi, bên trong mạng mỡ lại luôn luôn có một mũi dùi vô hình xiên vào khiến ông thốn người lên, chịu không thấu. Ông cố trấn tĩnh qua cơn đau, nắm cần cối xay như các đồng cảnh, nhưng chỉ rán nhấp nhô xay được gần hai thúng là cánh tay rời rả, ruột gan bị kim chân rấm rứt, hai chân run rẩy đứng không vững, ông lão rơi vào tình trạng nửa mê nửa tỉnh.

Sau khi té khuỵu, vập mặt vào tay cối, ông già tỉnh lại dần. Vừa đúng lúc Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ tới cùng Phó Trưởng ban và đoàn tùy tùng. Hai công an viên theo sát hộ vệ Sơ, còn hai tên lảng vảng ngoài hiên coi chừng…

Với cặp mắt thành thạo, Sơ chỉ liếc qua số lượng gạo trong thúng đặt cạnh cối là y ước lượng đúng “thiện chí giác ngộ” của từng người.

Hai tay chắp đít, Sơ lừng lững đến gần lão Chướng, nhìn ông già từ đầu đến chân một cách khinh khỉnh, rồi quắc mắt hỏi:

– Ê! Anh kia!

Lão Chướng ngừng tay, thản nhiên nhìn Sơ không nói.

– Xay được bao nhiêu thúng rồi?

– Thưa, sắp hết hai thúng! Tôi già lại mang bịnh…

Tiếng thớt cối xay vù vù, Sơ không nghe rõ. Y quắc mắt giơ bàn tay lên cao phẩy xuống một cái, ra hiệu “im lặng”. Phó Trưởng ban lật đật quát lớn:

– Ngưng xay!!

Tức thì các cối xay ngưng liền rồi tù nhân lấm lét ngó hết về phía Tổng Giám-đốc Sơ. Phưỡn bụng ra như ông Bang Bạnh, Sơ ngạo nghễ hỏi ông già Chướng:

– Trại viên được quy vào thành phần nào?

– Dạ…dạ ngày trước tôi có làm Lý Trưởng một thời gian…

Sơ thốt mừng rỡ như tình cờ túm được kẻ thù:

– A! A! Cường hào ác bá hả? Việt gian phản quốc hả?

Ông lão bị bệnh chướng thản nhiên trả lời:

– Tôi có làm lý trưởng nhưng không làm cường hào ác bá như một số lý trưởng khác.

Sơ thoắt nổi giận đùng đùng:

– Mày làm lý trưởng mà nói không đàn áp dân, không bóc lột dân, không làm tay sai cho bọn quan lại phong kiến, cho thực dân cướp nước, phải không?

– Dạ…phải!

Sơ cố giữ bình tĩnh, mặt y đỏ gay lên một cách dễ sợ:

– Thằng này ngoan cố, không chịu thành khẩn cải tạo tư tưởng, không chịu giác ngộ.

Người tù già xem chừng không biết sợ nữa, thản nhiên kể:

– Hồi nạn đói năm Ất Dậu, tôi mang thóc gạo ra phát hết cho đồng bào nghèo trong làng. Đến nỗi sau đó, chính gia đình tôi và tôi cũng ăn ngô, ăn rau nấu với cám như mọi người, rồi cũng suýt chết đói như mọi người.

Sơ nạt ngang:

– Chẳng qua mày sợ anh em bần cố nông, những người bị mày bóc lột trước kia, cướp lại thóc gạo của họ bị lọt trong tay mày nên mày phải buộc lòng trả lại anh em nông dân bằng hình thức phát chẩn cho khỏi bị giết chết, chứ gì?

Ông già vẫn không sợ hãi, hổn hển nói:

– Bữa nay, tôi xin nói hết rồi chết cũng hả. Để cái phẩn uất căm hờn này mãi trong bụng, nó sẽ làm cho ruột gan ung thối mà chết.

Giọng ông già trở nên trang trọng:

– Tôi đã giúp nhiều cho cách mạng từ hồi còn hoạt động trong bóng tối.

Tôi đã giúp cho anh Cả tức đồng chí Đặng Xuân Khu, nhiều món tiền, nhiều tài liệu, tin tức. Tôi đã cho đồng chí Khu trú ẩn ở nhà tôi thời gian bị truy nã và dùng nhà tôi làm địa điểm liên lạc…Còn nhiều sự ủng hộ cho mặt trận, cho cách mạng tôi không sao kể xiết…

Sơ quát vang:

– Câm miệng lại, thằng kia! Tao bẻ hết răng này bây giờ…Đồng chí Tổng Bí-thư Đảng không bao giờ thèm nhờ những hạng người như mày! Mày phải đưa ra bằng chứng, nếu không sẽ bị trừng trị xứng đáng về tội lường gạt chính phủ, nhân dân và xúc phạm đến uy tín đồng chí Tổng Bí-thư Đảng.

Nghe Sơ mắng, ông lão dậm chân xuống đất hổn hển nói không ra hơi:

– Hạng người như tôi làm Lý trưởng cũng như ông là Lý trưởng hồi đó ở Tiên Lãng 1, đâu có khác gì! Duy tôi không khéo nịnh quan trên nên không được phẩm hàm bá hộ như ai, tôi không là “cường hào ác bá” như các người…buộc tội.

Có thể nói từ ngày làm Tổng Giám-đốc các trại giam, giết tù một cách thích thú như giết gà nhắm rượu, chưa bao giờ Lý Bá Sơ bị một trận mạ lỵ công khai dữ dội đến như thế. Y định rút súng bắn chết lão già hỗn xược ngay tại chỗ nhưng làm như thế sẽ bất lợi cho y sau này. Tiếng đồn sẽ lan xa, về đến Trung-ương, và cái dĩ vãng bất lương cường hào ác bá của y, dư luận sẽ phanh phui phê bình khắc nghiệt. Vậy tốt hơn hết là cứ để nó đấy, dùng luật lệ nhà giam giết nó cho có chính nghĩa. 2

Phó Trưởng ban Quản-trị làm ra vẻ tực giận điên tiết, tuy trong thâm tâm lấy làm hả hê. Hắn sừng sộ bảo bọn thuộc hạ:

– Giám thị! Bẻ hết răng thằng già ngoan cố đi, để nó nói tầm bậy tầm bạ, xúc phạn đến chính sách của chính phủ và uy tín của đồng chí Tổng Giám-đốc. Mau! Nhốt xuống nhà cùm.

Được lệnh, mấy tên cán bộ hung hăng xông đến. Ông già Chướng bất giác lùi lại, phác một cử chỉ phản đối quyết liệt, nhìn Sơ và Phó Trưởng ban nói lớn:

– Nếu mấy người có can đảm nghe sự thật, như vẫn thường huênh hoang tuyên bố, xin cho tôi được nói. Nếu không dám vì sợ sự thật, sợ dư luận của nhân dân thì xin…giết tôi đi… ám sát tôi đi…

Phó Trưởng ban quát:

– Câm mồm!! Tên ngoan cố cường hào ác bá.

Mấy tên cán bộ xông tới định thi hành lệnh của Phó Trưởng ban, Sơ đã cười nhạt xua tay, rồi trầm giọng:

– Mày muốn gì? Nói cho đúng.

Trong thâm tâm, Sơ nghĩ rằng ông già sẽ tố cáo những lỗi lầm đáng tội của Phó Trưởng ban và nhân viên ban Quản-trị, dựa vào đó, Sơ sẽ áp dụng những biện pháp quyết liệt để thực hiện những mưu định riêng tư bè phái.

Ông già suy nghĩ giây lát rồi dõng dạc đáp:

– Tôi có đem phát chẩn hết của cải thóc lúa của tôi cho dân nghèo trong làng hồi nạn đói Ất Dậu…

Sơ nóng nảy, gạt ngang:

– Bằng chứng đâu? Nếu không cần đưa ra bằng chứng thì tất cả trại viên đều làm như mày, tự nhận là những người có công với nhân dân, với cách mạng ráo.

Ông già gân cỗ cãi:

– Những làm chuyện làm tốt lành, cả làng biết, cả huyện biết, không cần tuyên truyền mà dân chúng đều biết, trong trại giam này cũng có người đã được tôi cứu khỏi chết đói cùng gia đình hồi đó. Đó là trại viên Lợi, danh số 537…

Phó Trưởng ban cau mặt suy nghĩ. 537 là tên tù cùm bị cựu giám thị Tùng kẹp cổ chết trong vụ xung đột đêm qua tại nhà xiềng. Nếu không gạt phắt câu chuyện này đi, vụ cựu giám thị Tùng bị tù nhân đánh bể đầu chết bị phanh phui, sẽ đưa đến vụ tù phong vương vượt ngục, vụ nhân viên của ban Quản-trị hãm hiếp đàn bà con gái, ức hiếp dân chúng địa phương v.v…! Phó Trưởng ban nhếch mép một cách nham hiểm, mắng át:

– Thằng già gian manh! Mầy nại ra một nhân chứng nhưng nhân chứng đó đã chết toi rồi. Rõ ràng là mày cố ý đặt điều để lừa thượng cấp, lừa gạt vị đại diện cao cấp của chính quyền đến đây thanh tra. Thiếu thiện chí, lại ngoan cố, vô lễ với thượng cấp…

Ông già cau mặt, vẻ suy nghĩ rất lung, giây lâu, ông nói:

– Tôi không biết 537 đã chết. Tôi xin nại ra một nhân chứng khác: Trại viên 586…

Sơ thản nhiên ra lệnh:

– Đồng chí Phó Trưởng ban, cho dẫn trại viên 586 tới đây nếu y có mặt ở trại.

Phó Trưởng ban lễ phép cúi đầu:

– Xin tuân lệnh đồng chí Tổng Giám-đốc.

Y móc túi lấy ra cuốn sổ tay, lật năm, ba trang kiếm giữa những con số, rồi quay lại bảo:

– Giám thị Phiến, xuống nhà xiềng B, dẫn 586 lên đây.

Mấy phút sau, giám thị Phiến dẫn một tù nhân bị xiềng lên nhà Tiểu Công Nghệ. Vừa nhác thấy, Phó Trưởng ban lại sát bên Lý Bá Sơ thầm thì mấy tiếng. Sơ gật gù rồi ngó đăm đăm, vẻ hầm hầm tức giận.

Trại viên mới tới, khoảng bốn chục tuổi, mặc áo cánh quần dài nhuộm nâu, lành lặn tươm tất ít thấy. Tay nắm sợi xiềng, 586 đến trước mặt Sơ và Phó Trưởng ban, gật đầu chào lễ phép nhưng tuyệt nhiên không có vẻ sợ hãi khúm núm.

Trong nhà Tiểu Công Nghệ, im phăng phắc: Mười mấy tù nhân lặng lẽ đứng cạnh cối không dám thở mạnh, lấm lét theo dõi. Những câu đối thoại giữa ông già Chướng với Lý Bá Sơ và Phó Trưởng ban, họ nghe câu được câu chăng. Tuy nhiên, họ cũng đoán ra đây là một vụ quan trọng, sẽ làm lão Chướng mất mạng như chơi. Họ càng lấy lạ khi thấy giám thị Phiến dẫn một trại viên xiềng tới, thái độ và cử chỉ của người này khác biệt hẳn, đường bệ mà không xấc xược, ít thấy trong trại giam.

Sơ ngó kỹ con số 586 in trên ngực rồi quắc mắt nhìn thẳng vào mặt kẻ sắp làm nhân chứng. Thật ra, 586 chưa biết bị gọi về việc gì nên có vẻ bỡ ngỡ. Tuy nhiên, anh ta vẫn chịu đựng một cách thản nhiên lối nhìn tàn bạo của Sơ, không sợ sệt cũng không mấy vẻ hòa nhã.

Lão Chướng vừa định cất tiếng, Sơ chặn lại liền:

– Câm miệng! Có hỏi mày, mới được trả lời.

Rồi hung dữ nhìn 586, Sơ chỉ tay vào lão Chướng, hỏi:

– Anh có biết trại viên này không?

586 quay nhìn lão Chướng bình thản trả lời:

– Thưa…tôi có biết.

– Hồi nạn đói năm Ất Dậu, anh có thấy tên này phát chẩn thóc gạo để cứu đó đồng bào nghèo tại địa phương không?

Tù 586 lặng thinh giây lát. Vầng trán cau lại cho biết hắn đang suy nghĩ rất lung. Thoáng cái, sắc diện của hắn trở lại bình thường. Cặp mắt hiền hậu chợt ngước lên cao như tưởng nhớ, lại cũng như ngắm nhìn một hình ảnh nào thiêng liệng thánh thiện đang phản phất trong không mà chỉ có hắn trông thấy.

Sau đó, 586 trả lời bằng một giọng trầm trầm:

– Chính mắt tôi không trông thấy việc làm phước đức vừa nói của trại viên này…

Sơ cười nhạt nhìn lão Chướng hất hàm như nói “nghe rõ chưa?”. Còn ông già Chướng thì sững sờ, chán chường, vẻ thất vọng cùng cực.

Nhưng 586 nói tiếp:

-…Tuy nhiên, những người tôi quen biết tại địa phương của trại viên này có kể lại rõ ràng những sự cứu trợ bằng thực phẩm như thóc, ngô, cám v.v…cho đồng bào bị nạn đói năm Ất Dậu đe dọa trầm trọng. Nhờ đó, nhiều đồng bào, con nít thoát chết đói. Những người may mắn này về sau có gặp tôi và thuật lại rõ ràng cho tôi nghe. Nói tóm lại, việc cứu đói có thật.

Sơ và Phó Trưởng ban hậm hực ngó 586, tức giận ra mặt. Nhưng 586 vẫn giữ nguyên vẻ điềm đạm, thản nhiên như vừa làm việc mà lương tâm con người bắt buộc phải làm, dù hậu quả có thể nguy hại khôn lường.

Sơ định ra lệnh cho 586 về nhà xiềng bỗng lặng người, chăm chú nhìn. Đám đông đứng sau y cũng lấp ló nghiêng đầu, tò mò ngó.

Lão Chướng chậm chạp tiến lên mấy bước, mặt ông rạng rỡ đột ngột, miệng tươi cười mà hai mắt và má lại đầm đìa nước mắt.

Đến sát bên tù xiềng 586, ông già bất ngờ quỳ một bên gối, hai tay chắp trước ngực, kính cẩn gục đầu vào gối 586 mà trịnh trọng nói như cầu nguyện:

– Con cảm tạ ơn Chúa đã soi sáng cho con biết làm việc lành phúc đức, giúp đỡ đồng bào con.
Con xin cám ơn Cha! Cha đã đem lại sự an ủi của Chúa.
Xin Chúa tha thứ cho chúng con là kẻ có tội.

586 chợt bỡ ngỡ chút xíu, ông ta hơi cúi mình xuống nắm hai cánh tay ông già rồi thân ái và nhẹ nhàng nhấc lên, mặt ông thốt lộ vẻ đau khổ không bút nào tả xiết. Trong đám tù đứng đó, có người rơm rớm lệ. Cử chỉ của 586 có một vẻ gì thật là thánh thiện cao cả khiến những tên Cộng sản chính cống Lý Bá Sơ và Phó Trưởng ban cũng phải bàng hoàng lặng thinh giây lát. Có vài ba người tù trong tổng số mười mấy người xay thóc kín đáo làm dấu câu rút rồi lim dim mắt ngước lên trời cao, nước Thiên Đàng của họ. Họ cảm thấy ngay trong nhà tù, Chúa đã đến với họ và đã lắng nghe những lời cầu nguyện của họ.

Trong nhà Tiểu Công Nghệ vẫn im phăng phắc.

Từ nãy, Toàn lặng người theo dõi các sự việc. Trong lòng anh, một niềm hãnh diện đang dâng cao. Cộng sản độc tài đàn áp được hết như không đàn áp được Đức Tin trong lòng người. Từ lâu anh nghe nói có vị Linh Mục tên Th. và một nhà Sư đều không có tội gì cũng bị Cộng sản bắt giam, nhưng anh không rõ là ai. Bữa nay tình cờ anh được thấy vị Linh Mục đó dưới hình dáng một tù xiềng. Còn nhà Sư chắc hẳn là trại viên 464 vẫn khiêng xác chết ra bai với Toàn và cũng chính là người thường nhịn đói nhường cơm cho đồng cảnh. Thì ra những người có Tâm của Phật và lòng Nhẫn của Chúa dù trong hoàn cảnh tù đày, Đức Tin của họ càng được trau chuốt sáng ngời hơn nữa.

Từ lâu, ban Quản-trị chú tâm theo dõi hành vi của Linh Mục Th. và của nhà Sư, định có dịp là “thanh toán” nhưng chưa thực hiện nổi. Uy tín của vị linh mục đối với dân chúng địa phương và giáo đồ đã khiến Phó Trưởng ban phải rụt rè. Vì trong hoàn cảnh chiến tranh, Cộng sản vẫn phải sợ dư luận phần nào, mà dư luận lại tỏ ra rất kính phục đạo đức và nhân phẩm Linh Mục Th. Đã có lần Phó Trưởng ban tung ra tin Linh Mục Th. chết, lập tức dư luận xôn xao khác thường, trại giam bị giáo dân phê bình rất khắc nghiệt. Tỉnh Đảng-bộ phải cho người về điều tra rồi tung ra cả một đợt tuyên truyền giải thích.

Toàn có đang miên man nghĩ ngợi, chợt giật bắn mình vì tiếng quát ông ổng của Lý Bá Sơ:

– 586, xuống trại!

Trong khi người tù xiềng lững thững ra ngoài sân, tù nhân thẩy đều kinh hoàng vì một chuỗi dài tiếng cười ghê rợn vang lên. Đó là tiếng cười của lão Chướng, tiếng cười giả tạo cố ý chọc tức người nghe, và tỏ ý coi thường uy lực của chính quyền.

Ông già Chướng đang cười bỗng ngưng bặt, đưa tay ôm ngang bụng, mặt nhăn nhó đau đớn. Lý Bá Sơ quay sang Phó Trưởng ban nói nhỏ. Đứng cách xa, Toàn chỉ thấy Phó Trưởng ban gật đầu rồi quay ra cửa sổ, quát:

Đào Châu! 3

Tức thì một người vạn vỡ, mặt mày gân guốc dữ tợn đột ngột xuất hiện, là lên hai tiếng “có mặt” rồi chạy lại đứng nghiêm trước mặt viên Tổng Giám-đốc, Phó Trưởng ban nói vừa đủ nghe:

– Cho thằng cường hào ác bá ngoan cố xuống cùm dưới xà-lim, đợi…(câu này có nghĩa: Cùm phạm nhân trong hầm tối, bắt nhịn đói tới chết).

Đầu Trâu nghiêm chào rồi đổi sang nét mặt dữ tợn xông lại nắm râu ông già Chướng quát:

– Đi theo tao!

Nhưng ông già vẫn đứng nguyên ôm bụng hổn hển nói:

– Tao không là “cường hào ác bá” như bọn chúng mày. Tao không có tội gì với nhân dân, tao không đi đâu hết…tao nhất định chết ở đây, trước mặt các anh em tù nhân.

Đầu Trâu giựt mạnh túm râu ông già Chướng khiến ông lảo đảo suýt té nhào. Biết không thể sống, kéo dài kiếp lao tù thêm mấy ngày nữa chỉ nhục nhã thêm mà thôi, ông già Chướng làm dấu câu rút rồi hô:

– Đả đảo bọn sát nhân! Đả đảo chế độ độc tài! Việt Nam dân chủ muôn năm!

Một quả đấm trúng giữa mặt khiến ông già văng ra xa, ngã ngửa trên mặt đất, hai tay ôm bụng nhưng không ngớt chửi rủa.

– Chúng mày từ trên xuống dưới đều là những tên sát nhân…

Đầu Trâu lừ lừ đến gần, quắc mắt không nói, cách đấy mấy thước, Lý Bá Sơ và Phó Trưởng ban nóng nảy quan sát. Tù nhân anh nào anh nấy đứng chết lặng bên cối xay, lo lắng cho số phận chính mình.

Bỗng Đầu Trâu nhẹ nhàng đặt hờ một bàn chân lên trên cái bụng chương phình. Ông già hoảng kinh dùng tay đẩy và cố trườn ra xa. Thấy vậy, Đầu Trâu bèn sửa lại vị trí của bàn chân, rồi ấn xuống vừa đủ để ông già thấy đau đớn mà không dám động đậy nữa. Cái bụng chướng của ông già lóp xuống chút đỉnh.

Tới lúc đó, Đầu Trâu vẫn đứng một chân lên mặt đất, còn chân kia đặt hờ trên cái bụng chướng như độc giả đã thấy.

Vậy mà ông già đã nhăn nhó, ruột gan rực lên chịu không nổi. Ông trợn mắt vì đau, căm hờn ngó bộ mặt lầm lì của tên sát nhân.

Bỗng có tiếng la “ối”, tiếng la nghẹn ngào đau đớn của người bị banh da xẻ thịt hay bị bóp ruột thắt gan.

Nhiều người tù nhắm mắt lại, không dám nhìn. Có người cúi gằm mặt, run lên cầm cập. Đầu Trâu đã bất ngờ nhấc luôn bàn chân trên mặt đất.

Cái bụng chướng bị sức nặng cả thân hình lực lưỡng của Đầu Trâu thu gọn trong diện tích một bàn chân đè lên, xẹp lép xuống như đống bùn nhão. Tuy phát cuồng vị bị bể ruột bể gan, ông già tội nghiệp vẫn vùng vẫy theo một phản ứng tự nhiên khiến Đầu Trâu phải nghiêng ngả thân hình, hết nhô về đằng trước lại ngả về đằng sau đặng giữ thăng bằng đứng trên một chân trên bụng ông già, hai cánh tay dang rộng như người tập làm trò xiếc.

Một tiếng la bị tắc lại nửa chừng, ông già há hốc miệng để mửa. Đứng hơi xa, Toàn thấy những thứ lổn ngổn như cơm rau chưa tiêu, sau đó là một chất loãng màu xẫm mà anh đoán là máu…

Thoáng cái, ông già nằm ngay đơ liền.

Nhìn ông già nhe răng, không mím môi lại được nữa, Đầu Trâu mủm mỉm cười, chùn thấp người xuống mặt đất. Tức thì miệng ông già đùn thêm ra một đống nữa.

Đầu Trâu phấn khởi lại trước viên Tổng Giám-đốc, chưa kịp nói gì thì Phó Trưởng ban đã lên tiếng:

– Liệng ra vườn chuối cho ra bai luôn.

Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ hãy còn giận người vừa mạt sát y, chưa phải chịu đau đớn bao nhiêu đã chết nên mặt y vẫn đằng đằng sát khí. Y chắp tay sau đít, lừng lững đi về phía cuối phòng trong khi Phó Trưởng ban quát lên mấy tiếng:

– Tiếp tục xay thóc!

Tiếng thớt cối nhất loạt xoay vù vù. Đầu Trâu dẫn hai người tù đứng gần lại mang xác ông già Chướng ra ngoài, mỗi người xốc một bên nách. Xác chết lết tới đâu, phân vãi ra tới đó từ hai nơi khác nhau.

Thấy Sơ và đám đông lại gần, Toàn và Thanh tái mặt, cố lấy dáng điệu lanh lẹ, đều tay xay nhanh hơn…

Ngực Toàn đập thình thịch.

Lý Bá Sơ đã tới bên, anh hốt hoảng dừng tay, đứng ngay ngắn, chắp tay trước ngực, xá một cái mà không kịp biết mình đã làm những cử chỉ đó lúc nào. Rồi lại nắm cần cối bàng hoàng tiếp tục xay.

Nhưng Lý Bá Sơ xích lại gần thêm chút nữa, ngắm nhìn anh từ đầu đến chân, rồi sẳng giọng:

– Ê! Thằng kia!

Toàn lính quýnh nói không ra hơi:

– Dạ…dạ…Thưa cụ Tổng Giám-đốc…

– Mày xay vớ vẩn như thế, được mấy thúng rồi?

Toàn nuốt nước miếng, cố trả lời cho rõ ràng:

– Dạ…thưa cụ Tổng Giám-đốc, con xay hết bốn thúng rồi, con đã bắt đầu thúng thứ năm.

Lý Bá Sơ quay hỏi giám thị đứng đằng sau:

– Nó xay được mấy thúng, giám thị?

Giám thị Phiến liếc nhìn con số trong cuốn sổ tay trả lời:

– Thưa đồng chí Tổng Giám-đốc, được hơn bốn thúng rồi, tên này dẫn đầu năng xuất, tính đến lúc này. Tiêu chuẩn ấn định là 7 thúng nửa ngày ạ.

Sơ lạnh lùng xỉa bàn tay mở rộng vào thúng thóc, xúc lên một nắm, ngắm nghía hạt thóc rồi phê bình:

– Lúa xấu quá, ban canh nông không chịu làm việc, cần phải cảnh cáo. Lúa này phải hai thóc may ra mới đươc một gạo. Làm sao đủ thóc góp nuôi bộ đội?

Hấp háy cặp mắt, Sơ gọi bâng quơ:

– Thằng kia lại đây!

Cối xay vù vù, hơn nữa Toàn thất kinh hồi vía, ù tai mờ mắt nên ngơ ngác không hiểu. Sơ búng tay một cái “chóc”, cong ngón tay trỏ về phía Toàn, vẫy nhẹ.

Toàn ngó bàn tay to lớn xù xì đỏ mẫn như bàn tay người phong cùi, liếc nhanh bên phải, bên trái như cầu cứu, rụt rè bước lại trước mặt Sơ, hoang mang không biết số phận đưa đến đâu.

Sơ bĩm môi, móc túi một gói thuốc “Cô Tiên” còn nguyên chưa bóc, chìa ra cho Toàn và nói:

– Thưởng cho mày vì mày có tinh thần cố gắng…Tên mày là gì?

– Dạ…trình cụ, tên con là Trần Văn Toàn…

Trong bụng, Toàn vừa sợ vừa mừng khi thấy cả một bao thuốc lá thơm chưa bóc, có thể đổi lấy hai quần xà lỏn còn tốt. Lâu lắm không trông thấy xa xỉ phẩm loại đó, không được hít một hơi cái hương thơm mê mẩn đã đời, quyến rũ hơn bất cứ hương thơm nào khác trên cõi đời này.

Nhưng anh chợt toát đẫm mồ hôi vì sợ.

Đúng lúc đó, Sơ lại chìa gói thuốc, không nói, tươi cười chờ…bẫy xập xuống.

May thay, Toàn kịp thời đề cao cảnh giác, chắp tay kính cẩn nói như van lạy thật sự.

– Thưa cụ Tổng Giám-đốc, con xin cúi đầu cảm tạ nhưng con không dám lãnh vì con luôn luôn cảnh giác, tự phê tự kiểm. Là kẻ có tội, được chính phủ khoan hồng cho cải tạo tư tưởng để trở thành một công dân tốt, con nghĩ đã là may mắn cho con lắm rồi. Thuốc lá thơm đối với kẻ có tội như con là một xa xỉ phẩm, vả lại, con chỉ biết hút thuốc lào như anh em… bần cố nông.

Sơ vừa cười vừa cau mặt, gay gắt:

– Mày chê thuốc lá của tao, phải không…? Tao sẽ cho mày…

Toàn táng đởm tinh thần, không nghe rõ nữa, chỉ thấy Lý Bá Sơ cười nhạt một vẻ chết người. Anh lấm lét ngó Phó Trưởng ban, ngó đám đông đứng sau Sơ, chuẩn bị đón nhận tai họa.

Không hiểu số kiếp ra sao mà toàn gặp những chuyện bất hạnh như thế. Bao nhiêu tù nhân nó không hỏi ai, lại nhè mình đứng cuối phòng mà hỏi vặn vẹo!

Nhưng anh cũng kịp thấy giám thị Phiến đứng sau Phó Trưởng ban nhìn anh tươi cười, lộ vẻ thích thú không biết vì lý do gì?

Lý Bá Sơ quay sang Phó Trưởng ban, lạnh lùng hỏi:

– Thằng này hạnh kiểm khá không?

– Thưa đồng chí Tổng Giám-đốc: trên trung bình.

Sơ quắc mắt nhìn Toàn, giận dữ:

– Mày được cải tạo tư tưởng bao lâu rồi?

– Dạ trình cụ, được chín tháng.

– Mày ăn theo khẩu phần hạng nào?

– Trình cụ, khẩu phần hạng C.

Sơ lạnh lùng ra lệnh:

– Bắt đầu từ bữa chiều nay, cho nó cải sang khẩu phần B.

Đến giây phút này mới biết là thoát chết, Toàn rơm rớm nước mắt. Nhưng anh hãy còn sợ hơn là mừng, không biết nói sao, xá thật sâu, lí nhí cám ơn trong khi Sơ khệ nệ, lững thững ra ngoài. Toàn liếc trộm theo, thở phào nhè nhẹ, đưa ngón tay gạt mồ hôi trên trán, rồi lại hăm hở nắm tay cối tiếp tục xay, bụng bảo dạ:

– May quá, nếu tham gói thuốc lá là mình chết rồi!

Đến mười phút sau, Toàn mới bình tĩnh lại. Nhờ linh tính mà anh thoát chết. Trước Toàn, ở các trại giam khác, có nhiều trại viên không kịp cảnh giác, dám nhận phần thưởng “giương bẫy” của Sơ nên đã mất mạng.

Đợi đến lúc trong lòng cối hết thóc, Toàn vừa vội vã vét gạo trong rãnh cối cho chảy xuống thúng vừa liếc Thanh ra ý nói “suýt chết” Thanh nhún vai, làm ra vẻ ghê sợ, gật gù mấy cái như biểu đồng tình rồi tiếp tục hăm hở xay cho kịp.

Từ xa có tiếng ồn ào văng vẳng. Bọn tù đi gánh củi ở rừng đã về. Toàn quay sang bảo Thanh:

– Gần tới giờ. Rán lên mới kịp.

Một niềm tin rộn rã dâng lên trong lòng. Toàn sực nghĩ đến đặc ân anh vừa được ban thưởng: cải sang khẩu phần hạng B. Chao ôi, cầu mong bao lâu nay, từng bữa cơm, từng ngày, từng đêm, hôm nay tưởng là gặp hiểm nguy, thì bất ngờ được toại nguyện. Mỗi bữa thêm được lưng chén cơm, một ngày thêm được hai lưng chén, đỡ đói đỡ chết chừng nào!

——————-
(1)Tên riêng hậu phương đặt cho thuốc lá thơm Cotap, rất phổ biến nhất là trong giới công an (LTG)
(2)Có độc giả cho biết sau năm 1955, Lý Bá Sơ được cử làm giám đốc nhà giam Hỏa Lò Hà Nội và chính thời gian này, y bị đưa ra đấu tố về tội cường hào ác bá (hồi làm lý trưởng) và chết sau đó. Nếu đúng như vậy, Sơ cũng không thoát khỏi chính sách “vắt chanh bỏ vỏ” của Cộng sản (LTG)
(3)Từ lúc này, tù nhân mới biết họ, tên thật của Đầu Trâu. Hắn là người Mường họ Đào tên Châu.

—>27

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.