Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

27.

Quá nửa số tù nhân đã xay xong thóc, nhưng tiếng ào ào vẫn không giảm sút. Những người xay chậm đang phải “chạy” nước rút, nghiến răng mà đẩy, mà kéo như điên như khùng cho đạt chỉ tiêu chuẩn đã ấn định.

Toàn và Thanh thở phào nhẹ nhõm, đã có lúc hai người tưởng không còn sức xay cho đến hết. Toàn cầm cái chổi cùn quét máng cối cho sạch những hột gạo còn sót, bàn tay anh run bần bật trông rõ. Trong khi đó, Thanh ngồi dựa vào cối mà thở hổn hển.

Chợt thấy dăm ba hột gạo rơi rớt trên mặt đất, Thanh lượm bỏ vào trong lòng bàn tay ngắm nghía, tính đưa lên miệng nhấm bỗng giật mình, hốt hoảng bỏ gạo vào trong thúng. Người tù nào cũng có cái tật thức ăn là đưa lên miệng. Cũng vì cái tật thèm ăn như chết đói đó, nhiều người tù đã bị bắt quả tang, rồi bị đánh hộc máu mồm máu mũi. Hồi nãy mới xảy ra vụ tù ăn gạo sống và liếm cám bị bắt quả tang.

Giám thị quắc mặt, mắng:

– Tại sao mày dám ăn trộm gạo của nhân dân? Và liếm trộm cám như chó?

Tù nhân chắp tay trước ngực lom khom van lạy:

– Dạ, thưa ông giám thị…con cắn thử một hạt gạo coi đã đủ nắng chưa! Gạo non nắng, xay gẫy hết.

Chưa dứt lời đã bị một đạp, tù nhân té lăn cù chổng bốn vó lên trời. Giám thị xông lại gần:

– Chỉ có “già đòn non nhẽ” chứ không “già nắng, non nắng” gì hết, biết không?

– Dạ…

– Chánh phủ và nhân dân đã nuôi mày. Mày nhai vụng gạo sống, liếm trộm cám như thế, khác chi mày nói xấu chính phủ không săn sóc đến đời sống của chúng mày! Không quyết tâm cải tạo tư tưởng thì chỉ có nước ra bai, nghe không, quân phản động?

– Dạ…dạ…

Hình ảnh người tù thè dài lưỡi vụng cám còn rõ ràng như bức tranh linh động trước mắt, vậy mà vừa rồi suýt nữa Thanh cũng bỏ mấy hột gạo vào miệng mà nhấm. Bị đói lâu, con người “hèn” đi lúc nào không kịp biết.

Toàn đăm đăm ngó một trại viên đứng phía trên. Hết “tủy” rồi nên người này chệch chà chệch choạng, đẩy cần cối không muốn nổi. Thớt cối quay chậm rì rì như mắc kẹt.

Toàn đứng phắt lên khi nhận ra người vẫn thường nhịn một chén cơm để nhường đồng cảnh. Cử chỉ lạ lùng đó trại viên nào cũng biết, các giám thị cũng biết. Lúc đầu giám thị ghét lắm, cho trại viên 464 là một tên gàn dở lập dị, sắp chết đói mà không biết thân. Hình như giám thị chỉ khoái trông thấy tù đói khát, khổ sở, bệnh hoạn.

Nhưng lâu dần, cử chỉ từ ái đó làm mọi người thán phục và cảm động. Ngày nào cũng làm được việc lành, việc thiện trong một hoàn cảnh khó khăn, dù nhỏ, cái đó mới thật khó, khó gấp bội làm một việc thiện to lớn vĩ đại, nhưng cả đời người mới làm một lần.

Toàn sực nhớ đến tờ “di chúc” của ông già tóc bạc, không chừng người mà ông già quên tên và danh số là trại viên 464 cũng nên. Nghĩ vậy, Toàn lừng lững đến bên, nắm tay cối phụ lực.

464 nhận ra Toàn không tỏ vẻ ngạc nhiên. Toàn bất chợt thấy 464 đang lẩm nhẩm không ngớt. Không lẽ trại viên này vừa xay lúa vừa niệm Phật!

Chỉ mươi phút sau, cần cối nhẹ tênh, thóc đã xay hết, 464 mĩm cười gật đầu cám ơn, chưa kịp kiếm chổi quét gạo ở máng cối xuống lỗ cho chảy vào thúng, giám thị Phiến đã lừng lững đến kiểm soát.

Mọi người đều làm xong, không ai quá chậm trễ đến nỗi bị phạt, giám thị Phiến chỉ vào Toàn và 464:

– Hai trại viên này đi theo tôi làm công tác khác.

Rồi hắn vội vã nói tiếp:

– Hai người đi làm thịt…ngỗng. Nhổ lông cho sạch, làm bộ lòng cho kỹ, xong mang vào nhà bếp cho ban hỏa thực nấu nướng. Làm mau tay cho kịp bữa cơm chiều…

Công việc không mệt nhọc, không khó khăn, nhẹ hơn gánh nước tưới cây hay gánh gio đổ hố phân. Nhưng 464 đã chắp tay năn nỉ, nhăn nhó:

– Thưa ông giám thị…từ hồi nào tới giờ, tôi chưa giết thịt một con vật, một con ngỗng bao giờ, sợ rằng không được sạch sẽ, kỹ lưỡng. Xin ông giám thị làm phước, miễn cho tôi…

Thấy điệu bộ sợ hãi một cách tức cười, giám thị Phiến ngẫm nghĩ giây lát, đột nhiên hỏi 464 một cách nghiêm nghị:

– Đã vào tù mà còn giữ giới, không chịu sát sanh, hả? Trước khi vào đây, tu ở chùa nào?

464 lúng túng rõ rệt, chưa kịp trả lời, giám thị đã chỉ vào Toàn và Thanh:

– Hai người này cất gạo vào kho rồi đi theo tôi.

Lát sau, Thanh và Toàn lúi húi làm thịt ngỗng ngoài bãi cỏ, phía sau nhà riêng của Phó Trưởng ban. Vì là ngỗng nuôi riêng của thượng cấp, ban chăn nuôi chăm chú nuôi rất kỹ lưỡng bằng thực phẩm của trại nên mập ú, một lớp mỡ, một lớp thịt.

Làm lông xong đến lúc mổ bụng moi bộ lòng ra, Thanh thốt kên một tiếng. Thì ra con ngỗng sắp đẻ, có một quả trứng đã có vỏ, hoàn toàn đầy đủ. Từ lâu lắm, hai người không trông thấy một quả trứng chứ đừng nói là được ăn cái chất bùi, bổ dưỡng và ngon lành đó. Tình cờ ngọc thực lọt vào tầm tay lại ngu dốt từ chối hay sao? Phải liều…

Thanh thừ người, mặt ngẩn ra một cách kỳ cục. Toàn vừa nuốt nước miếng, vừa nhai tóp tép một miếng ăn tưởng tượng. Bỗng Toàn la lên một tiếng khe khẽ. Lại còn một buồng trứng đến chục quả, quả lớn nhất bằng đầu ngón chân cái, những tia máu nổi lên trên nền trứng vàng thật hấp dẫn…

Toàn nhìn trước nhìn sau, không thấy bóng giám thị đâu liền nhúng luôn buồng trứng non vào nồi nước rồi chạy múc một lon nước ở cái ao nhỏ sau nhà Phó Trưởng ban.

Thanh hỏi rối rít:

– Múc nước làm gì?

– Để súc miệng cho hết dấu vết. “Nó” bắt há miệng khám thì bỏ mẹ.

Thanh gật gù khen rồi hỏi:

– Sắp chín chưa?

Mấy phút sau, chẳng cần thắc mắc chín hay chưa, Toàn thọc cây đũa vào nồi nước sôi vớt ra, xẻ phăng buồng trứng làm hai phần bằng nhau, đưa cho Thanh một phần, còn phần của mình anh bỏ tọt vào miệng. Nhưng trứng nóng bỏng, Toàn vừa nhai trệu trạo vừa thở phì phì. Trông cử chỉ ăn vụng của Toàn, Thanh bỗng nhận ra một vẻ gì hèn hạ quá sức tưởng tượng, rõ ràng như soi gương mà thấy cử chỉ bần tiện của mình nên không nén được một tiếng thở dài. Rồi cả nước sẽ hèn như thế này, chỉ dám ăn vụng ăn trộm như thế này nếu Cộng sản thắng.

– Xong chưa? Súc miệng đi!

Toàn cầm lon nước ao lên, ngậm một hụm, súc miệng thật kỹ rồi…nuốt luôn. Sau đó anh ngao ngán tự kiểm thảo:

– Ở tù lâu, chúng ta mất hết tư cách. Ăn uống, thèm khát như súc vật!

Thanh không nói, chạy lại vũng nước bốc lên nắm bùn đất sét bao một lớp dầy quanh quả trứng, cời một lỗ giữa bếp lửa, bỏ quả trứng lọt xuống, xếp lại củi đun như trước. Toàn buộc miệng khen:

– Giỏi! Giỏi “luộc” trứng bằng cách này thì hay tuyệt. Đố ai biết.

Lát sau, Toàn vừa bới lấy quả trứng đã thấy bóng giám thị Phiến từ xa, lại vội vàng vùi xuống lấp củi lên trên.

Phiến chưa tới nơi đã nói đã hỏi:

– Xong chưa?

– Thưa ông giám thị, xong rồi.

– Một người mang ngỗng vào nhà bếp cho ban hỏa thực nấu nướng, còn người kia dọn dẹp chỗ này cho sạch sẽ.

Phiến coi lại bộ lòng ngỗng, bất ngờ hỏi:

– Trứng ngỗng đâu hết? Ngỗng đang đẻ sao không có quả trứng nào, thật kỳ cục!!

– Dạ, thưa ông giám thị, không…thấy! Hay giết thịt nhằm con ngỗng trống?

Giám thị Phiến không nói, nhìn chòng chọc hàm răng hai người, không thấy gì khả nghi, hắn bỏ xuống trại. Được mấy bước, hắn thối ngoái cổ lại, quan sát cử chỉ của hai người tù.

Đợi một lát, rất thận trọng, Toàn moi quả trứng dưới lớp than hồng ra, bỏ vào lon nước cho nguội rồi bóc hết vỏ đất sét, đưa cho đồng cảnh chia. Thanh đặt quả trứng bóc trần, nõn nà trong lòng bàn tay run rẩy, dùng móng tay bấm vào chính giữa quả trứng làm cỡ để chia cho thật đều rồi bẻ làm hai. Bốn mắt long lanh khác thường. Cánh mũi hít lấy hít để. Hai người hồi hộp, ngực đánh như trống làng vừa mừng vừa sợ một cách khó tả, chắc chắn suốt đời không thể quên được giây phút diễm phúc này. Trước khi ăn, Toàn bới lỗ chôn hết vỏ trứng, lấp đất thật kín.

Thanh xuýt xoa tiếc rẻ:

– Tiếc quá, nếu có thêm mấy hạt muối thì tuyệt trần đời!

Mới nhai hai, ba miếng, trứng đã trôi đi đâu mất sạch. Hai người vội vã súc miệng thật kỹ rồi lại nhe răng cho nhau coi cẩn thận. Chỉ sơ xuất một chút là bỏ mạng!

Toàn sực nhớ ra:

– Còn cái này nữa?

Bới đống lông ngỗng, anh ta lựa ra một nắm lổn ngổn có hạt bắp, đựng trong lòng bàn tay, xối nước nhè nhẹ cho trôi hết những thứ dơ bẩn. Còn lại những hạt bắp vàng ngậy. Ngỗng ăn đầy một riều, bắp chưa kịp tiêu hóa thì bị đem giết thịt. Rửa sạch xong, Toàn bọc những hạt bắp trong lá chuối, dắt vào cạp quần, tuy chưa nghĩ ra cách nào để ăn. Anh lẩm bẩm:

– Rồi cũng phải tìm ra cách!!

o O o

Bữa cơm Phó Trưởng ban thết Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ chiều hôm đó là một bữa tiệc thật sự. Phó Trưởng ban lấy lòng mình mà xét bụng thượng cấp và áp dụng câu phương ngôn của người Á Đông: “dĩ thực vi thiên“. Lấy ăn làm trời. Sự việc “ăn” quan trọng rất mực, nhất là dưới chính thể mà mọi sự ẩm thực đều bị nhà nước hạn chế đến mức tối thiểu, ngay cả đối với giới cán bộ cao cấp.

Đúng lý ra, theo hoàn cảnh khó khăn chung, chỉ làm thịt con vịt tiếp khách đủ rồi, không lãng phí mất lập trường mà cũng không kém vẻ trịnh trọng. Nhưng Phó Trưởng ban thấy mặt, chân và tay ông Tổng Giám-đốc sần sùi mẩn đỏ như có bệnh phong cùi nên đành hy sinh một con ngỗng. Những người bị phong cử thịt vịt. Mời ông Tổng Giám-đốc thưởng thức thịt vịt khác chi hại ông ta. Kính chẳng bỏ phiền!

Bữa tiệc thật đầy đủ, có hai thực khách mà cả một con ngỗng nấu nướng nhiều món. Trong lúc ăn uống, lời lẽ của Lý Bá Sơ có vẻ thân mật, cởi mở hơn chút đỉnh. Đó là kết quả trực tiếp của bữa tiệc ngoại giao khá trịnh trọng rất ít khi thấy tổ chức tại Trại Đầm Đùn.

Lý Bá Sơ cho biết trại cần phải cải tiến về nhiều phương diện mới mong đạt được kết quả. Ví dụ như vấn đề học tập, không chuẩn bị kỹ càng đề tài, không được cán bộ học tập hướng dẫn một cách hữu ích cho sự củng cố lập trường của đảng và nhà nước. Muốn được vậy, trong buổi học tập, thượng cấp phải đích thân tham dự, đôn đốc và hướng dẫn trại viên. Mặt khác, Trung-ương sẽ tăng cường cho trại ba, bốn chục cán bộ học tập nữa trong một ngày gần đây, cùng hoạch định chương trình, kế hoạch hẳn hoi cho Trại thì hành.

Sơ trịnh trọng nói:

– Thời cuộc đang tới một khúc quanh lịch sử. Cuộc đấu tranh tư tưởng sẽ rất gay go đối với toàn dân. Đánh đuổi quân xăm lăng không khó bằng cải tạo tư tưởng bọn phản động, bọn lừng chừng, bọn phản cách mạng…

Nhưng sáng hôm sau, thái độ của Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ thay đổi rõ rệt.

Sau khi ký kiểm nhận vào các sổ sách của trại và ký tờ biên bản thanh tra, Lý Bá Sơ ra lệnh tập họp tất cả nhân viên của ban Quản-trị trại tại văn phòng để nghe “huấn dụ”.

Trước mặt đông đủ những người cầm quyền sinh sát gần cả ngàn tù nhân có tội và không có tội, nói chung là nạn nhân của chế độ, Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ lớn tiếng phê bình những thiếu sót trong việc điều hành trại, kỷ luật không nghiêm minh nên mới xẩy ra vụ phong vương vượt trại, vụ giám thị hãm hiếp đàn bà con gái trong bản, rồi tù đánh chết giám thị trong nhà xiềng v.v…

Phó Trưởng ban tái người. Ra Lý Bá Sơ biết hết những vụ bê bối của trại mà chưa thèm đả động đến, chưa thèm hỏi tội! Nguy to rồi!

Lý Bá Sơ ngừng lại giây lát cho bọn Phó Trưởng ban với thuộc hạ “thấm đòn” rồi mới trừng mắt nói:

– Nói chung, nhân viên ban Quản-trị thiếu tinh thần cố gắng tích cực, làm việc tắc trách có hình thức là đủ, không chịu học hỏi cầu tiến, thiếu tác phong cán bộ. Hầu hết là những phần tử không có khả năng, chỉ giỏi về mỗi phương diện nịnh nọt bợ đỡ thượng cấp và tham nhũng!

Cán bộ, giám thị choáng hồn mất vía, đưa mắt ngầm cho nhau, không hiểu trong cơn dông tố đang bùng nổ, lưỡi tầm sét của Thiên Lôi sẽ đánh trúng đầu tên nào. Làm việc tại một vùng nước độc, chúng đều bị sốt rét, ngã nước nặng hay nhẹ. Da mặt đã tái vì bệnh lại càng tái mét vì khiếp đảm như xác chết ngoài vườn chuối.

Trước cử chỉ dữ dằn, thái độ sát phạt vuốt mặt không nể mũi của Lý Bá Sơ, Phó Trưởng ban tự đặt câu hỏi: Phải chăng sự tiếp đãi không được trịnh trọng linh đình nên Lý Bá Sơ mới bươi móc và mạt sát nhân viên cho hả giận? Nếu đúng vậy, sửa chữa cũng không khó khăn lắm.

Lý Bá Sơ bỗng quắc mắt, chìa một bàn tay ra trước, theo thói quen đưa lên đưa xuống đánh nhịp cho lời nói, thét quát lớn khiến nhiều tên giật mình:

– Bản chức đến đây không phải để nghe những lời nịnh hót: Đồng chí Tổng Giám-đốc có khoẻ mạnh hồi làm việc ở Tiên Lãng không? Đồng chí Tổng Giám-đốc phải dùng ngựa đi thanh tra các trại sản xuất ở Liên Khu 3 và 4 có vất vả không? Vân vân và vân vân…Toàn là những câu vô nghĩa, rỗng tuếch, hèn hạ mà một người cán bộ tốt, biết tự trọng và kính trọng thượng cấp không bao giờ dám nói ra vì ngượng miệng.

Chính quyền cần loại trừ những phần tử nêu trên, phải thanh lọc hàng ngũ cán bộ, nói riêng là hàng ngũ cán bộ hạ từng giúp việc tại các trại giam ở Liên Khu 3 và 4…

Lý Bá Sơ ngưng lại giây lát, lần lượt nhìn từng tên cán bộ và giám thị đang run rẩy, hỏi lớn:

– Hôm kia, lúc “bản chức” đến, thằng nào ra đỡ sợi dây cương và dắt ngựa?

Đám đông im phăng phắc. Trong hàng đứng chót, một tên cán bộ lặng lẽ đến trước mặt Lý Bá Sơ, vung quả đấm lên chào.

Lý Bá Sơ lạnh lùng chỉ một chỗ trống sát tường. Tên cán bộ học tập lấm lét bước tới chỗ được chỉ định.

Sơ lại quát:

– Thằng nào tự ý tháo “ba lô” của bản chức mang vào văn phòng?

– Thưa…ông Tổng Giám-đốc, cháu ạ…

Đó là một tên giám thị chưa quá 20 tuổi, hung hăng có hạng, rất hay đấm đá tù hung tợn chỉ thua có giám thị Tùng, rụt rè lại đứng trước mặt Sơ. Sơ lạnh lùng hất hàm một cái, đồng chí giám thị rón rén tới đứng bên đồng chí cán bộ.

Như người cầm cán cân công lý, Sơ tuyên án:

– “Bản chức” biết hai thằng này là những thằng vô dụng, không có khả năng, vì chúng giỏi nịnh hót. Áp dụng chính sách “rèn cán chỉnh quân” bản chức ra lệnh cho áp giải hai tên này về Khu để tẩy não và huấn luyện lại.

Đám đông sớn sác, sợ hãi. Sơ lại quát:

– Đồng chí công an đâu?

– Dạ, có mặt!

Hai tên công an trả lời một lượt rồi như đã được lệnh từ trước, sấn sổ đến còng tay liền hai nhân viên có lỗi, lạnh lùng như còng tay Việt gian. Không biết công an viên dấu còng ở đâu mà trước đó không ai trông thấy.

Lý Bá Sơ rút trong túi ra một tờ giấy quay rô-nê-ô, nắn nót viết rất lâu chữ “Sơ” có dấu móc thật cao để ký tên, rồi đưa cho hai tên công an để cầm về Ty.

Mãi giây phút này, Phó Trưởng ban mới thấy rõ ràng thẩm quyền của Lý Bá Sơ thật vô hạn. Nhân viên ban Quản-trị các trại giam ở Liên Khu 3 và 4, bất cứ cấp bậc chức vụ nào, Sơ muốn nhốt, muốn lên án bỏ tù lúc nào cũng được!

o O o

Nhưng sáng hôm đó, sau khi Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ lên đường được một lát, một sự việc lạ lùng xảy ra tại xà lim số 1 khiến tất cả tù nhân trong trại phải suy nghĩ, bàn tán và nhiều cán bộ của Đảng trở nên hoang mang.

Lệ thường, mỗi sáng, giám thị đi kiểm soát các xà-lim, trại xiềng một lượt, coi có tù nhân nào chết đặng làm tờ trình rồi cho mang đi chôn. Họ có thể chết vì tự tử, bịnh hoạn hoặc vì giết nhau do thù oán.

Sáng hôm đó, các cán bộ phải tập trung tại văn phòng để nghe chỉ thị và huấn dụ của Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ nên giám thị đi kiểm soát trễ hơn mọi ngày.

Giám thị chưa hết hoang mang sợ hãi vì những lời cảnh cáo nặng nề của viên Tổng Giám-đốc trong khi lững thững xuống trại làm phận sự.

Trại Đầm Đùn có bốn xà-lim nhốt tù nhân đã lãnh án tử hình, đang chờ kết quả xin ân xá. Đây là những tù nhân có án hẳn hoi, không tiện và không cần phải giết bừa bãi nếu không phạm trọng tội trong thời gian giam giữ. Nếu họ không được ân xá, án tử hình sẽ được thi hành trong thời hạn sớm nhất. Và đương sự sẽ ra bai theo thủ tục riêng của trại.

Sự thật, đấy cũng chỉ là những màn dàn cảnh vì biết bao nhiêu người không hề có án tiết gì cũng được “ra bai” như thường. Lại có những người tù làm việc khổ sai trong rừng, bị cảnh vệ hay giám thị thù cá nhân bắn chết chơi cho bõ ghét rồi buộc tội mưu toan trốn và xúi dục đồng cảnh trốn, để hợp thức hóa việc giết người.

Như thường lệ, viên giám thị mở cửa xà-lim số 1, hùng hổ bước vào.

Trên nền đất, mươi người tù mỗi người nằm một kiểu, tùy theo sự bắt buộc của ván cùm đeo ở chân họ. Theo luật lệ chung, chức việc cho phép, tù cùm mới được đứng lên hoặc xê dịch. Nếu không, tù sẽ bị đòn trừng phạt cấp kỳ. Ngoài những đề phòng khác, biện pháp trên còn nhằm tránh cho nhân viên của trại khỏi bị tử tội tấn công bất ngờ.

Viên giám thị khinh bỉ nhìn đám tù mang án tử hình như nhìn những con chó dại ghê tởm. Xiềng và cùm đeo ở chân họ vẫn y nguyên. Có một tù nhân, mang số 72, mặt mũi non choẹt mà râu ria lởm chởm rậm rì như ông già.

Bị nhốt lâu ngày trong bóng tối, các tù nhân bị hư mất phần nào thị giác. Cho nên, khi ánh sáng chói lòa bên ngoài ùa vào, họ lim dim mắt hoặc đưa bàn tay lên che. Nhận ra ông giám thị tới xét, bọn tội nhân cất tiếng chào lao xao:

– Kính chào ông giám thị…

Nhưng một tội nhân làm thinh không chào, hai con mắt anh ta còn trợn trừng, biểu lộ sự kinh ngạc tột đô. Dường như anh ta đang thấy một hình ảnh nào khủng khiếp hay đặc biệt lạ lùng. Rồi anh ta hoảng hốt chồm dậy, vịn vách đứng phắt lên, khom khom về phía trước, hai cánh tay khuỳnh khuỳnh như sắp ôm choàng một người hay một vật gì trước mặt. Ánh nắng nghiêng nghiêng buổi sớm mai khiến nét nhăn nhó trên mặt anh rõ thêm. Sau đó, anh lộ vẻ đau đớn cùng tột rồi thốt nhiên oà lên khóc:

– Mẹ ôi! Mẹ ôi! Mẹ đến thăm con hả mẹ?!

Rồi tiến lên ôm lấy một người đứng gần.

Trước cảnh tượng đó, giám thị không đoán ra được tội nhân muốn giở trò gì, đứng yên quan sát, cau mặt không nói.

Trong một lúc hoảng hốt bàng hoàng, tội nhân quên khuấy hai chân bị cùm cứng nhắc, bước vội nên mất thăng bằng té rập mặt xuống bực cửa bằng gỗ như trời giáng, máu mồm đổ ra đỏ lòm.

Vẫn nằm dài dưới đất, tử tội 72 ngóc đầu rên rỉ gọi:

– Mẹ ôi! Mẹ nói đến thăm con, hả mẹ? Tội không! Con chưa được phóng thích vì đơn xin ân xá của con chưa có kết quả, mẹ à!

Trong thâm tâm, viên giám thị rất ngạc nhiên trước hiện tượng khó hiểu và khó tin này, nhưng ngoài mặt, y lại nổi giận đùng đùng, sẵn cây then cửa cầm tay, y “dộng” hai ba đòn dọc trúng lưng khiến tội nhân còn cố la lên mấy tiếng nữa, nhất thời không lưu ý tới viên giám thị:

– Mẹ ôi! Mẹ bỏ con để đi đâu đấy?

Rồi y khóc hu hu như một đứa con nít bị mẹ giận không thèm hỏi han nói chuyện.

– Thằng kia! Về chỗ nằm ngay. Tao phang cho mày mấy gậy nữa bây giờ!

72 lóp ngóp bò về vị trí vẫn nằm. Thốt nhiên, như chợt tỉnh cơn mê hoảng, anh ta sợ hãi quỳ xuống chắp tay lạy viên giám thị và năn nỉ:

– Xin ông tha tội cho. Mẹ tôi vừa đến đây thăm tôi, nói là đón tôi. Trong lúc bất ngờ, tôi thương mẹ tôi quá nên đã có những cử chỉ vi phạm luật lệ. “Mẹ tôi nói đến đón tôi về” nhưng tôi chưa được phóng thích, buộc lòng mẹ tôi bỏ ra đứng ngoài kia rồi…Mẹ ôi! Mẹ ôi!

Nói xong, thanh niên lại khóc rền rỉ, thảm thiết. Viên giám thị thấy rợn người nhưng không thèm nghe thêm, khóa cửa xà-lim, chặn then ngang đàng hoàng, lên văn phòng báo cáo sự việc vừa được chứng kiến…Tại đây, anh ta được nhân viên văn phòng cho biết đơn xin ân xá của tù 72 đã bị chủ tịch nhà nước bác bỏ và ngay sáng hôm sau, tử tội sẽ phải “ra bai”.

Sau đó hai ngày, vào gần trưa, có thân nhân đến trại xin được báo tin cho tù 72 biết mẹ y đã chết, người mẹ già luôn miệng gọi tên đứa con trai độc nhất, tính nết hiền lành, không biết phạm tội gì đến nỗi phải bắt giam vào Trại Đầm Đùn. 1

Câu chuyện được bọn cán bộ cấp dưới xì xào bàn tán. Có chú chưa thấm nhuần biện chứng duy vật bao lăm nên tỏ ra hoang mang, đêm nghe có tiếng cú rúc ở cửa rừng vọng lại, không dám xuống trại một mình. Sự việc đến tai Phó Trưởng ban khiến y nổi giận đùng đùng.

Thế này ra tụi cán bộ học tập mất lập trường ráo trọi. Người Cộng sản chủ trương không có cái gọi là linh hồn, không có sức mạnh thiêng liêng, không có Trời Phật Thần Thánh, không có ma quỷ gì hết. Tại sao lại để câu chuyện “hồn người mẹ đến thăm con ở xà-lim tử hình” xẩy ra rồi loan truyền khắp trại!? Thật là một thái độ mê tín dị đoan, có hại cho đường lối, chủ trương của đảng.

Phó Trưởng ban ngồi trước bàn hí hoáy viết.

Lát sau, y đập cây thước kẻ vào thanh sắt gọi thư ký, đưa cho tờ giấy, ra lệnh đánh máy làm nhiều bản phát cho cán bộ học tập mỗi người một tờ làm tài liệu cho đầu đề học tập kỳ đại hội trong tháng.

“Tôn giáo là thứ thuốc độc của thực dân phong kiến, dùng để đầu độc nhân dân, đặng dễ sai khiến.
Không phân biệt tôn giáo với mê tín dị đoan và phải triệt để bài trừ tôn giáo”.

Sau đó, Phó Trưởng ban tính đến việc giải quyết vụ giám thị Tùng, đặt vấn đề có mật vụ của Tổng Giám-đốc tại Trại Đầm Đùn, cần phải điều tra mật cho ra. Nếu không có, tại sao những bê bối của trại, Sơ biết hết?

——————————–
(1) Câu chuyện này có thật 100% đã làm cho bọn cán bộ Trại Đầm Đùn hoang mang thắc mắc không ít (LTG)

—>28

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.