Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

28.

Chặt cành đốn cây, khiêng vác mới được tiếng đồng hồ, cả bảy, tám chục tù nhân làm củi trong rừng đều nhễ nhãi mồ hôi, mặt mũi đỏ gay, bụng thở phập phồng, gân tay, gân chân nổi lên khắp mình như những chiếc đũa. Toàn nhìn các bạn đồng cảnh, nhìn bộ ngực lép xẹp của Tuyên, Mạnh rồi đưa tay rờ dẫm bộ xương lồng ngực của mình nghĩ thầm.

– Ngày này sang năm, nếu còn sống sót, ắt là mình chỉ còn bộ xương với làn da mà thôi. Không biết mình sẽ “ra bai” tại nơi nao? Và sẽ “nằm chung” hố với tên nào đây?

Rồi bất giác thở dài, lẩm bẩm trong miệng:

– Nằm hai, ba đứa một hố, càng đỡ lạnh lẽo trống trải!

Là vì Toàn chợt nghĩ đến những vụ chôn xác tù ngoài bãi những ngày gần đây, thẩy ba cái xác xuống một hố, chẳng có bó chiếu gì hết. Trước đây khá lâu, tù chết còn được bó manh chiếu hoặc nửa tấm dát giường nứa, nhưng hồi gần đây số tử vong nhiều quá, những ngày nghỉ, trại viên đan nứa làm dát giường không kịp. Chủ nhật trước, một trại viên vừa đan, vừa nói đùa với bạn chung chõng:

– Đây là cái “sơ mi cây” của anh em chúng ta. Nên cần đan cho chắc chắn, để khỏi lòi tay lòi chân ra ngoài.

Anh ta vừa cười vừa nói nhưng khi chớp mắt mấy cái, nước mắt ứa ra ướt nhèm cả má. Nghe vậy, Toàn thấy mủi lòng và buồn hết ngày Chủ nhật.

Vừa chặt cây, Toàn vừa miên man suy nghĩ. Tiếng dao rựa chém xuống cành cây chan chát, dội vào các vách đá, tạo thành một âm vang dưới vòm cây trong rừng. Khu này thật rậm rạp, đốn cây cả năm để đốt than cũng không hết mà chỉ cách xa lò than hơn cây số, rất tiện đường.

Bữa nay, Toàn, Thanh với hai người bạn là Mạnh và Tuyên cùng lao tác trong một tổ nên cũng vui vui. Mạnh và Tuyên đã có nhiều kinh nghiệm hơn nên được giao phó việc lựa cây vừa kích thước. Còn Mạnh và Tuyên mỗi người phải chặt sáu cây, cao ba thước. Những cây cao sẽ xếp đứng ở giữa lò, càng rộng ra đến gần chân lò, cây cứ ngắn dần.

Như đã nói qua trong một đoạn trên, lò than giống như cái chén ăn cơm, miệng úp xuống, xây bằng gạch trét đất sét và bùn vét dưới suối lên, thay cho vôi vữa. Một cửa nhỏ độc nhất cao thước rưỡi, ngang gần 1 thước, do cửa này tù nhân khiêng cây vào xếp đứng trong lò, hoặc giỡ than chín ra ngoài. Việc làm đã vất vả lại nguy hiểm. Trước khi vác than ra lò, tù đã xối nước cho tắt hết lửa và bớt nóng, vậy mà nhiều khi bất ngờ, than bật lửa cháy rực rồi đổ xập xuống, chặn bít lối độc nhất ra vào. Người nào không nhanh trí, nhanh chân, hoặc không gan dạ liều lĩnh có thể bị phỏng nặng hay ngộp thở. Trước đây đã xẩy ra vụ tù thù nhau, hãm hại nhau trong lò, nạn nhân bị phỏng nặng lại bị ngộp thở nên chết luôn trước khi đồng cảnh tìm cách kéo được ra ngoài.

Từ đó, với sự chấp thuận của Trưởng ngành, tù thường lựa đồng cảnh thân tín để cùng làm chung một lò, vừa làm vừa trông chừng nhau.

Lò than bắt buộc phải xây gần suối để tiện việc tưới nước.

Khi còn ở dưới Trại Đầm Đùn, Toàn mong ngày mong đêm được cho lên làm lò than vì nhiều lẽ. Thứ nhất, công việc làm tương đối tự do hơn, không bị xét nét theo dõi từng ly từng tý và không bị nếm những roi đòn rách da quắn thịt một cách oan uổng bất ngờ. Trên lò than thường chỉ có một Trưởng ngành, cũng là tù nhân nhưng đã…giác ngộ được coi là có hạnh kiểm tốt, gần mãn hạn tù, có nhiều thành tích cao, xung phong tận mạng bất kể sống chết, một hai tên cảnh vệ và đôi khi một giám thị. Tù nhân làm lò than không bắt buộc “cạo da đầu”, được mặc áo không in số, những giờ rảnh có thể la cà chốc lát trong xóm của đồng bào thiểu số, ngồi chơi hỏi chuyện đồng bào, uống nước ăn quà v.v…

Khẩu phần trên lò than không hạn chế và quy định ngặt nghèo như ở dưới trại. Người nào cũng được ăn bốn lưng chén đủ no, còn thừa gạo về phần mỗi người, có thể để dành từ đầu tháng đến cuối tháng đem đổi lấy thực phẩm hoặc thuốc lào, quần áo hay một vài vật dụng cần thiết khác. Khẩu phần đồng hạng của mỗi người là nửa ký lô gạo mỗi ngày, thức ăn do tù nhân nấu lấy, tuy cũng chỉ có rau dưa, cá mắm nhưng sạch sẽ, không hư thối và tương đối nhiều hơn. Anh em vào rừng làm củi kiếm được lá cây hay rau ăn được hái về như rau tầu bay, rau dền, lá lốt v.v…nấu ăn chung cả trại mà không bị coi như phạm trọng tội xâm phạm tài sản của nhân dân hay của nhà nước. Nhân cách và nhân quyền của người tù đã được nâng cao hơn chút đỉnh.

Nói chung, vì sống cuộc đời tù tội, người tù bắt buộc phải có sáng kiến trên nhiều phương diện. Riêng khoa chế biến các món ăn, người tù ở rừng được “thưởng thức” nhiều món ăn lạ lùng mà người ở tỉnh không bao giờ có thể tưởng tượng ra được 1.

Nhưng tại sao tù trên lò than lại được “ưu đãi” như vậy?

Là vì Ngành Than là một ngành quan trọng, mang lại nhiều hoa lợi nhất. Mấy lò than có thể nuôi sống cả Trại Sản-xuất và Tiết-kiệm Đầm Đùn. Số than xuất ra, chuyển giao đến cơ quan mãi dịch của nhà nước để sau đó phân phối cho các hợp tác xã địa phương, bán lại cho các nhà máy, các xưởng, hoặc bán cho các lái chuyên chở vào các thành phố trong vùng chính quyền Quốc gia kiểm soát, lấy tiền mua các đồ dùng hay vật dụng cần thiết cho kháng chiến, hoặc trợ cấp cho các cán bộ bí mật hoạt động ở nội thành v.v…

Lý do thứ hai cũng khá quan trọng.

Các tù nhân lên rừng làm than không mấy người sống quá tám tháng mà không quỵ vì sốt rét rừng, ngã nước, sốt xuất huyết hay bị thương tích hoặc lở loét sâu quảng thành tàn tật. Nhiều người buổi chiều còn hì hục hạ cây cho trâu kéo về lò, nhưng ăn cơm xong sắp sửa học tập bỗng lên cơn rét, rồi lên cơn nóng, mửa ra một đống máu tươi ngã lăn ra chết liền, không thuốc gì cứu kịp. Cho nên tù nhân nơm nớp đêm ngày, không biết bệnh “sốt xuất huyết” đến cướp mạng sống của họ lúc nào.

Đêm hôm kia, vừa chân ướt chân ráo đến lò than mấy tiếng đồng hồ, Toàn đã chứng kiến một cảnh khiếp hãi.

Lúc bấy giờ vào khoảng canh hai. Đêm mưa ở rừng thiệt lạnh, Toàn không ngủ được, nằm suy nghĩ vẩn vơ. Trong nhà sàn, tù nhân mắc mấy chiếc “mùng gian” (một loại mùng rộng, giăng kín nửa căn nhà) tù nhân nằm hết trong mùng tránh muỗi. Tuy thế, muỗi vẫn chui vào trong vùng đốt tù như thường vì mùng rách nhiều quá, không vá được hết.

Bỗng ở đằng cuối chòi, có tiếng lịch kịch trở mình rồi tiếng người hổn hển nói:

– Các ông ơi! Làm ơn cho tôi xin hớp nước, khát quá!

Một trại viên nằm kế bên lật đật chui ra rót nước giùm cho đồng cảnh bị bịnh. Lúc người nọ sắp quay vào màn, Toàn nghe có tiếng nôn mửa rồi tiếng người ngã vật xuống. Anh em mang đèn lại soi, thấy trên giường quanh chỗ người tù bệnh nằm đã có đống máu lênh láng. Đồng thời, người bệnh hấp hối một lát ngắn thì hết thở, hai đồng cảnh nằm kế bên phải quét dọn lau chùi chỗ nằm, khiêng xác chết đặt tạm vào góc nhà, đợi sáng đem chôn trong rừng.

Toàn còn thấy bốn, năm người nằm bẹp ở một góc nhà, gầy như bộ xương, luôn miệng rên hừ hừ yếu ớt như con mèo rên. Hỏi thăm mới biết mấy trại viên này nằm chờ cho bệnh nhẹ bớt sẽ về Trại Đầm Đùn để nằm bệnh xá. Tháng nào cũng có nhiều tù nhân từ lò than lội bộ về Đầm Đùn. Nhưng đa số đã chết rải rác trên quãng đường lên dốc xuống đèo dài mấy chục cây số. Có người lẽo đẽo mấy ngày mới về đến cổng trại, không đủ sức đứng vững để trả lời những câu nạt nộ của bọn lính cảnh vệ gác cổng, ngã vật xuống chết luôn khiến bọn cảnh vệ nổi sùng:

– Sao tụi bay không lăn xuống chết luôn ở trong rừng để chúng ông khỏi chôn, quân khốn nạn!

Toàn đang mãi mê suy nghĩ chợt nghe tiếng gọi:

– Này 271! Còn phải đục lỗ ở đầu cây gỗ mới buộc dây cho trâu kéo về lò được chứ!

Toàn quay lại ngó Mạnh. Mình Mạnh ướt đẫm mồ hôi, đầy những dăm gỗ bám vào ngoài những vết thương rớm máu do cành cây cào phải. Mạnh cho Toàn mượn cái đục rồi giơ cao lưỡi rìu to bản sắc như nước, chém mạnh vào mép cây một nhát làm cỡ cho Toàn đục lỗ. Toàn hỏi:

– Anh em bọn mình làm đủ số lượng chưa?

Thanh, Tuyền, Mạnh đưa mắt nhìn bao quát một lượt số cây đã hạ. Cả ba cây cao chót vót đã nằm dài chồng lên nhau. Mạnh lẩm nhẩm tính rồi nói:

– Có thể đủ rồi đấy.

– Vậy, chia ngay ra từng khúc đi, phần người nào người nấy làm. Còn thiếu bao nhiêu, sẽ cùng làm chung cho đủ số.

Tiếng rìu lại “bốp, chát” làm văng tung tóe những mảnh cây vụn. Mỗi lần lưỡi rìu “chặt” vào thân cây, Toàn lại “hự” một tiếng như lấy hơi, chặt cho mạnh. Tuyên nhìn Toàn cười, phê bình:

– Thôi, ông ơi! Cứ yên lặng mà chặt mà đốn, cần gì phải “hự” cho người khác biết ông làm, cho tốn hơi.

Toàn không nói, lầm lì tiếp tục. Hai cánh tay đã rời rã, Toàn định bụng ngồi nghỉ một lát sau khi chặt hết cành. Rồi sẽ đốn theo khích thước ấn định. Nghĩ đến công việc khổ sai nhọc nhằn kéo dài từ ngày này qua ngày khác, vất vả không khác chi dưới Trại Đầm Đùn, Toàn chán nản lắc đầu, tự trách thầm:

– Thế mà chẳng cứ ước mong lên làm than! Đâu có khác gì! Nước lại còn độc gấp bội nữa!

Toàn quài cánh tay ra sau, khẽ đấm mất cái vào sống lưng trước khi uốn éo đứng lên xách rìu ra dựng vào vách đá, ngồi nghỉ lấy lại sự hăng hái. Mạnh cũng ngừng tay mủm mỉm cười nhìn Toàn rồi lại gần, thân mật khẽ hỏi:

– Mệt không?

– Mệt!

– Chán không?

– Chán ngấy!

– Còn ao ước gì nữa không?

Toàn ngẫm nghĩ để biết Mạnh muốn nói gì rồi trả lời:

– Hết muốn gì ngoài ước mong được trở về cuộc sống tự do.

Bất ngờ, Mạnh cười ha hả:

– Thì cũng sắp được tự do rồi!

Toàn trố mắt, cuống cuồng hỏi:

– Anh em sắp sửa được phóng thích hả? Sao anh biết?

Mạnh nói tỉnh bơ:

– Tại vì…chiến tranh sắp chấm dứt.

– Sao anh biết?

– Vì tôi nghe tin tức chiến tranh Việt-Pháp sắp chấm dứt, quân viễn chinh Pháp đang thua to tại Điện Biên Phủ và phải điều đình vì hết tiếp tục nổi…

Toàn cảm thấy một niềm hãnh diện dâng lên dào dạt trong lòng. Cuộc kháng chiến chống Pháp sắp thành công, người Việt Nam giành lại được chủ quyền trong tay quân xâm lăng, để sống một cuộc đời no ấm, độc lập, dân chủ. Anh chợt nhớ lại cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, thời gian này lòng anh phơi phới một cảm giác lạ lùng, hứng khởi chưa từng thấy bao giờ. Rồi cuộc kháng chiến Nam Bộ lan tràn khắp nước, cùng với lớp người trẻ, anh lao vào cuộc kháng chiến, không suy nghĩ tính toán. Nhưng sau một thời gian thử thách, anh không thể sống nổi dưới một chế độ ngặt nghèo đảng trị, chủ trương đấu tranh giai cấp, chém giết hãm hại lẫn nhau không gớm tay, để củng cố một chế độ phi nhân, phi nghĩa, để thực thi một chính sách hà khắc độc tài tước đoạt hết tự do tối thiểu của con người, coi con người chỉ là phương tiện trong một giai đoạn.

Trông rõ chân tướng của Cộng sản, anh bỏ về thành.

Rồi bây giờ, cuộc kháng chiến của toàn dân thành công dưới sự lãnh đạo của Cộng sản. Nghĩ đến những viễn tượng có thể rất đen tối trong tương lai gần đây, Toàn cố nén một tiếng thở dài.

Câu hỏi bất ngờ của Mạnh khiến Toàn luống cuống:

– Kháng chiến thành công, Pháp thua ta thắng, cớ sao lại thở dài?

Toàn gắng gượng chống đỡ:

– Thở dài là vì tôi…vui mừng đấy, anh Mạnh à! Từ lâu nay chẳng dấu gì anh, tôi mắc một cái tật: vui, buồn cũng như thở dài…Nghe anh cho biết tin kháng chiến sắp thành công, tôi mừng quá nên không nén được tiếng thở dài…mừng cho quốc gia, dân tộc.

Toàn cúi xuống, nhấc con dao rừng lên chăm chú ngắm nghía lưỡi dao, làm như để hết tâm trí vào việc này. Sự thực anh muốn che dấu những ý nghĩ thấm kín. Mạnh tuy là bạn trong tù, tuy cùng thuộc giai cấp tiểu tư sản thật đấy, nhưng biết đâu chừng. Những tình cảm đẹp đẽ của con người, những đức tính từ xưa đến nay vẫn được coi là đức tính căn bản của người dân Việt Nam thấm nhuần tinh thần Đạo Nho và Đạo Phật qua bao nhiêu đời, tất cả những thứ ấy đều đang bị hủy diệt và bị coi là…lạc hậu, không hợp với chế độ mới. Biết bao người Việt Nam chết oan chỉ vì còn tin tưởng ở các đức tính nhân, lễ, nghĩa, trí, tín…từ ngàn xưa để lại. Thời thế, và tâm hồn con người đã đổi thay hết rồi.

Nhưng Mạnh đã nghiêm sắc mặt nói một cách chán chường:

– Mừng cho quốc gia giành được độc lập, nhưng buồn cho dân tộc sẽ phải sống dưới một chế độ sắt máu, đa sát, nghiệt ngã, độc tài đảng trị.

Toàn giữ vẻ thản nhiên, chưa muốn cho Mạnh biết tư tưởng của anh. Nhưng trong lòng, Toàn mừng thầm Mạnh chưa đến nỗi bị Việt-minh-hóa, đầu óc tư tưởng chưa bị nhuộm đỏ.

Hai người ngồi yên lặng giây lát, mỗi người đuổi theo một ý nghĩ. Khi đã ráo mồ hôi, Toàn định tiếp tục công tác thì Mạnh lên tiếng:

– Sinh hoạt ở trên rừng, cần nhất là phải tránh muỗi độc và chớ bao giờ uống nước chưa đun sôi. Giữ gìn được như vậy, may ra sống sót tới khi chiến tranh chấm dứt. Nếu anh em chúng ta may mắn được phóng thích…

Toàn nhún vai:

– Nhưng làm thế nào tránh muỗi đốt nếu ngày nào cũng phải lao tác trong rừng, trong bụi?

Sực nhớ lại câu chuyện hồi nãy, Toàn lo lắng hỏi:

– Này, có đúng quân Pháp sắp thua trận tại Điện Biên Phủ không? Sao anh biết tin?

– Trên này không như Trại Đầm Đùn. Đã nói tôi vào trong Bản, nghe dân chúng nhắc lại những tin tức đóng góp tích cực hơn nữa, gởi thêm quần áo vật dụng ra mặt trận cho các chiến sĩ, mỗi ngày mỗi người dân góp thêm một nắm gạo nuôi chiến sĩ.

Nhưng thôi chuyện đó để lúc khác. Bây giờ, nói chuyện này hay lắm.

Toàn nhướng cao đôi lông mày, tò mò hỏi:

– Chuyện gì vậy?

Mạnh nói chận rãi từng tiếng:

Liên Thiên Kiệm!

– Liên Thiên Kiệm là cái gì?

– Một thứ cây mọc bò sát trên mặt đất, như giây khoai lang lớn bằng ngón tay cái, có khi dài hơn 10 thước…

– Cây dùng làm gì?

– Đào lên, mang bán cho người ta làm thuốc…Bắc, lấy tiền mua thêm thức ăn hay quà bánh. Tôi đã tìm ra được một cây, mải tít trong bụi rậm rạp đằng kia, lát nữa làm củi xong, ta đào nhổ cả rễ mang về trại.

Bỏ dở vụ cây liên thiên kiệm, Toàn bỗng đứng lên, chỉ tay về phía xa xa:

– Trâu đã đến rồi, kia kìa. Anh em mình làm mau tay để trâu kép gỗ về bãi cho kịp.

Bãi là một khoảng đất rộng phẳng phiu ở gần lò. Tù nhân cho trâu kéo các cây gỗ lớn nhỏ về, sẽ chia cắt cây dài ngắn theo khích thước ấn định rồi khiêng về hoặc cho trâu kéo về lò, nếu thuận tiện.

Con trâu kéo gỗ mang một ách trên cổ như khi kéo cầy. Hai bên đầu ách buộc hai sợi dây thừng dài, cột chặt vào lỗ đục ở đầu cây gỗ. Cứ như thế, “vị anh hùng lao động” lặc lè kéo gỗ từ rừng về bãi, từ bãi về lò lên dốc xuống dốc, có hai “hộ vệ viên” cầm đòn đi theo bên sẵn sàng hỗ trợ bằng đòn bẩy, mỗi khi cây gỗ vướng rễ cây hay mỏm đá.

Từ sáng đến trưa, bốn vị “anh hùng lao động” của lò than lầm lũi chia sẻ công việc nặng nhọc với tù. Đến xế chiều, trâu mới được hai người tù “đi trâu” dắt ra đồi cho gặm cỏ, trong khi tù đánh cờ giải khuây nỗi nhớ vợ nhớ con hoặc đi kiến tổ ong, kiếm cây liên thiên kiệm như Mạnh nói để có tiền mua gói thuốc lào và vài thứ vặt vãnh.

o O o

Sau bữa cơm chiều, tù nhân tập trung hết tại lò than, chuẩn bị làm công việc khó nhọc và nguy hiểm nhất. Nguy hiểm bởi ban Quản-trị muốn như vậy. Theo kế hoạch nghiên cứu kỹ lưỡng, không thể chấp nhận sự kiện tù nhân sống sót sau tám tháng làm việc trong lò. Hơi nóng, thán khí, bệnh sốt rét, sốt xuất huyết cùng tai nạn phải giết tù trong một thời gian hạn định.

Than đã ủ được bảy ngày. Suốt ngày đêm, tù nhân luân phiên múc nước suối xối lên vách lò.

Toàn, Mạnh, Tuyên, Thanh và sáu tù nhân khác phụ trách một trong ba lò. Lưỡi Dài, tên tù làm mật vụ chịu khổ nhục kế để dò xét trại viên trên lò than cũng ở toán này. Bảng phân công do giám thị Phiến ấn định từ hồi sáng. Khi được biết thành phần của toán mình, Mạnh gọi ba người bạn ra một chỗ, căn dặn phải đề phòng Lưỡi Dài, vì tên này dám gây nguy hiểm cho bốn người bằng đủ mọi cách.

Thanh nói:

– Không biết chuyện gì mà tôi thấy Lưỡi Dài luôn luôn nhìn trộm anh em chúng mình. Tôi bắt gặp nhiều lần nó quan sát cử chỉ, việc làm, đường đi nước bước của anh Mạnh và anh Toàn. Tôi nghĩ, nếu có thể được, tụi mình ra tay trước.

Toàn hứng khởi đưa ý kiến:

– Chiến tranh sắp chấm dứt rồi, sợ gì! “Chơi” luôn.

Toàn không biết rằng mặc dù chiến tranh sắp chấm dứt, ban Quản-trị trại giam vẫn có thể giữ tù lại, hoặc cho phân tán đi khổ sai tại các công trường, nông trường, chỉ có đi chứ không về, vì đi là chết không thoát được, tù cũng đành cắn răng chịu chứ phản đối thế nào, kêu với ai đây?

Mới đây, Mạnh gây xích mích nặng nề với Lưỡi Dài vì một thiếu nữ Mường khá xinh ở trong bản tên Noọng Lìn. Mỗi lần gởi trâu trong chuồng nhà nàng, Mạnh nói chuyện với nàng rất lâu. Lưỡi Dài cũng mê nàng nên ghen. Thế là hai anh em tù căm thù nhau.

Khi thấy làn khói trên nóc lò đổi sang màu trắng, người thợ chuyên môn đốt than la lớn:

– Lò số 1! Than đã chín. Mở cửa lò, xối nước, mau!

Lò số 1 do bọn Mạnh phụ trách, cách lò giữa là lò số 2 khoảng 30 thước. Khi nghe thợ đốt than hô như vậy, với tư cách trưởng toán, Mạnh phân công cho anh em:

– Ba người lớn tuổi nhất là trại viên 324, 369, 780 chuyên lo múc nước xối lên thành lò bên ngoài và xối vào than trong lò cho tắt lửa. Những trại viên khác chuẩn bị những vật dụng cần thiết để sẵn sàng giỡ than ra ngoài.

Vật dụng Mạnh nói là những thứ dùng để lót tay ôm than cho khỏi bỏng. Than tuy đã tắt lửa nhưng còn rất nóng, phải dùng đồ lót tay mới giỡ ra được. Mạnh làm lâu trên lò than, đã “sắm” đâu được một bao bố cũ. Các người khác kiếm lá cây như là chuối rừng hoặc bẹ chuối rừng, lá cây khoai nước, để lót tay. Bẹ chuối rừng là thứ dùng tiện nhất.

Giám thị Phiến đứng trước cửa lò số 1, theo dõi công việc làm. Mạnh đã dùng cuốc chim, phá xong cửa lò, gạch đất rơi rớt lả tả.

Một cây đuốc bằng tre có quấn nhựa trám đốt cháy phừng phừng và một đống cành khô cũng được nhúm to lửa cho sáng và đề phòng thú dữ.

Lần đầu tiên, Toàn công tác giỡ than nên thấy lạ mắt.

Trong lò sáng bừng bừng, hồng những lửa. Sợ than cháy năng xuất hao hụt, Mạnh thét như giặc:

– Xối nước mau! Rạc hết than rồi!!

Ba tù nhân không ngớt xối nước vào bên trong lò. Tiếng xèo xèo nước gặp lửa và hơi khói khét lẹt bốc ra ngột ngạt. Lát sau, trong lò chỉ còn loáng thoáng đây đó những đốm lửa hồng ở những cây than vách không xối nước tới.

Những trại viên phụ trách giỡ than đã chực sẵn trước cửa lò, đợi than bớt nóng là nhào vào mang ra ngoài. Người thợ chuyên môn đốt than lại thét:

– Giỡ than ra mau.

Mạnh nhúng cả bao bố vào thùng nước cho ướt đẫm rồi chui vào lò, dùng bao bố bọc than ôm ra ngoài, xếp trên một, khu đất phẳng phiu gần đấy. Toàn vào theo dùng bẹ chuối lót tay, mang than ra. Hơi nóng ngùn ngụt táp vào mặt làm rát như phải bỏng anh phát la lên:

– Nóng quá! Nóng quá! Xối nước thêm nữa…cho nguội bớt.

Vừa ra khỏi lò thì một trại viên khác chui vào liền, Toàn kịp nhận ra Lưỡi Dài. Ánh lửa chập chờn, mặt Lưỡi Dài đen thui lại quay vào trong tối nhưng Toàn cũng thấy hắn nhìn anh một cách khiêu khích, vì anh cũng bị hắn coi là “tình địch” như Mạnh.

Người ra, vào lò tấp nập. Trại viên làm than chỉ mang một chiếc quần xà lỏn vì anh nào cũng sợ cháy hư áo. Chẳng thà chịu bỏng còn hơn bị cháy áo. Tiếng gọi nhau ồn ào, bước chân thình thịch, tiếng la “xối nước” tiếng kêu “tránh ra”, những bóng người lem luốc đầy mình, vội vã xông vào hấp tấp ôm than chạy ra, mình mẩy, mặt mũi đầy bụi than, không thể nhận ra nhau nếu không nghe tiếng nói. Trong bóng đêm, lò than là một hoạt cảnh sống động, đầy hình ảnh nhọc nhằn vất vả lại thêm vẻ ghê rợn.

Bọn Toàn hùng hục lấy than ra được nửa tiếng đồng hồ đã tạo được một khoảng trống trong lò. Trong khi chờ xối nước đẫm thêm cho than bớt nóng, Mạnh, Tuyên, Thanh ngồi nghỉ mệt dưới gốc cây.

Toàn rờ hai bẹ chuối đã héo nhũn vì hơi nóng, hỏi Mạnh:

– Làm chừng bao lâu nữa thì xong?

Mạnh thản nhiên:

– Nhanh nhất cũng phải hai tiếng đồng hồ nữa. Nếu làm chậm, đến nửa đêm chưa chắc đã hoàn tất.

Thanh bỗng hạ thấy giọng nói:

– Mấy anh có thấy Lưỡi Dài đâu không? Tôi có cảm tưởng nó sắp “chơi” một đòn gì để phá bọn mình, đặc biệt là muốn nhắm hại anh Mạnh.

Mạnh cười nhạt một vẻ chết người:

– Nếu đúng vậy thì ta sẽ ra tay trước, không nó cũng hại mình. Nó ghen về vụ Noọng Lìn đó.

Nghe nhắc đến tên thiếu nữ Mường, Toàn cảm thấy ghét Lưỡi Dài hơn một bực. Nhưng anh không nói ra. Mạnh khẽ dặn anh em cùng bọn bốn người:

– Chúng ta phải cẩn thận, luôn luôn đề phòng tai nạn trong lò, cần nhớ là than có thể phựt lửa bất ngờ rồi đổ xập đè lên người rất nguy hiểm. Dù có chạy thoát ra cũng bị phỏng nặng.

Nào, bây giờ chúng ta lại tiếp tục công việc!

Bốn người lần lượt chui vào lò ôm than ra. Mặt đất trong lò ướt nhẹp, trơn tuồn tuột. Thán khí và hơi nóng hầm hập. Toàn vốn yếu phổi nên khó thở, bỏ chạy ra ngoài mà ho sặc sụa…

Trong lò, lúc đó còn hai người Mạnh và Thanh. Mặc dầu mặt mũi lem luốc, hai người vẫn nhận được nhau. Mạnh lăm lăm chiếc bao tải đẫm nước, định ôm một bọc than mang ra, bỗng thấy lửa hồng phựt cháy bùng nơi giáp trần lò, khoảng nầy cao, nước không xối tới. Mạnh bèn bảo Thanh:

– Đợi anh em xách nước tới, ta xối cho tắt lửa kẻo hư hết than.

Một trại viên xách mỗi tay một thùng nước, xăm xăm bước vào. Mạnh chìa tay để đón thùng nước, tức thì người kia lớn tiếng phản đối:

– Không được! Ai là đầy tớ của anh, xách nước vào đây cho anh xối hả? Có biết thằng này là thằng nào không?

Nghe giọng nói, Thanh nhận ra liền. Mạnh “hừ” một tiếng đáp:

– A! A! Đồng cảnh là nhân vật đặc biệt, ai mà không biết! Nhưng tên thật đồng cảnh là gì, không rõ. Bọn tôi chỉ biết…”quý danh” là Lưỡi Dài mà thôi!

Tên tù mật vụ rất căm đồng cảnh nào gọi hắn bằng cái tên thô tục đó. Thanh bật cười, không ngờ Mạnh…lại chua chát một cách văn vẻ như thế. Anh vừa bước lại gần can khéo hai người chợt đứng sững lại. Lưỡi Dài hùng hổ tiến đến gần, rồi trong lúc bất ngờ nhất, nhấc bổng thùng nước ném vào giữa ngực Mạnh.

Mạnh lật đật nhảy sang bên, tránh kịp. Thùng nước văng trúng những cây than ngay sau lưng Mạnh, làm bể tan nát và làm xập luôn cả một khoảng rớt lả tả chùm lên đầu Mạnh. Nhiều đốm lửa bật cháy phừng. Mạnh bị phỏng trên mặt, trên mình hấp tấp nhảy đại ra chỗ trống để tránh những cục than lửa.

Sẵn mối căm hờn trong lòng lại thấy thấp thoáng bóng Mạnh nhảy tới, tưởng Mạnh phản công, Lưỡi Dài tống một quả trúng mang tai khiến Mạnh vừa tức giận vì bị phỏng lại thêm căm vì Lưỡi Dài đánh trúng mà chưa trả được đòn nào, anh lặng thinh không nói, không la hét, lom khom ngó chừng địch thủ, tính cách hạ thủ. Trước khi vào trại giam, Mạnh là một tay chơi không ngán chuyện xung sát đâm chém. Luật lệ khe khắt của nhà tù đã làm anh ta thuần tính rất nhiều. Nhưng lần này…

Trong lò, tối lờ mờ. Thanh vẫn đứng quan sát từ lúc mới xảy ra cuộc xung đột mà Lưỡi Dài vô tình không thấy.

Từ trong đống than tối thui, Thanh lao ra, nghiến răng phóng một đạp vào lưng Lưỡi Dài. Sau một tiếng “hự”, Lưỡi Dài văng tuốt vào tận vách, làm nhiều cây than xập gẫy đổ rào rào lấp kín lên mình hắn. Lưỡi Dài sắp ngộp thở vì tỷ lệ thán khí quá cao trong góc này. Tuy thế, hắn vẫn rán lóp ngóp bò ra…

Mạnh và Thanh lùi ra cửa lò, thở lấy sức, mắt không rời cái hình đen thui lóp ngóp giữa đống than, bỗng đâu Toàn xách thùng nước tới, Mạnh giựt lấy liền, xối ào ào vào mặt Lưỡi Dài.

Trong lúc căm giận, Mạnh nhất định làm cho địch thủ chết ngộp luôn vì nước và thán khí. Tuy vậy, nhờ bản năng sinh tồn, Lưỡi Dài vẫn lổm nhổm từ dưới đống than bò ra nhưng không đứng lên được vì phỏng nặng và váng vất chóng mặt.

– Đã đến lúc phải liều đến cùng. Nếu Lưỡi Dài sống sót, nó khai bọn mình mưu sát nó vì biết nó làm mật vụ thì chết hết.

Thoáng nghĩ vậy, Thanh nhảy phắt lại gần, dùng tận lực đá thốc lên thiệt mạnh vào hạ bộ tên mật vụ.

Bị đá trúng chỗ phạm, Lưỡi Dài lộn mấy vòng trên đống than gẫy nát, “ối” một tiếng nằm giẫy đành đạch rồi yên luôn. Mạnh hăng tiết quên hết nguy hiểm, sẵn bao bố ướt trong tay đắp kín mặt Lưỡi Dài không cho thở. Sống trong cảnh tù đày, chết vì những hình phạt tàn bạo, cả những tù nhân hiền lành nhất cũng trở nên tàn bạo rất bất ngờ. Huống hồ là Mạnh, một tay chơi trước kia.

Tên tù mật vụ vẫn nằm yên, nhiều đốm lửa phựt cháy phừng phừng giữa chỗ hắn nằm, Thanh đá mạnh vào chân hắn, không thấy phản ứng, thản nhiên bảo Mạnh:

– Nó toi mạng rồi!

Mạnh giựt lấy tấm bao tải từ nãy đắp kín lên mặt Lưỡi Dài lót tay ôm đầy bọc than ra ngoài như không có chuyện gì. Đến lúc hai người quay lại, thấy mấy trại viên đang khiêng Lưỡi Dài ra chỗ thoáng khí, Thanh làm ra vẻ ngạc nhiên, hỏi:

– Sao vậy?

– Ngộp thở và phỏng nặng vì bị than sụp đổ đè lên, chứ sao nữa!

Thanh cố nhịn cười khi nhận ra tiếng Toàn.

– Báo cáo với ông giám thị ngay đi.

Giám thị Phiến vừa tới. Với tư cách trưởng toán Mạnh báo cáo có tai nạn xảy ra khiến một trại viên bị ngộp thở, chết giấc trong lò may có người biết kịp khiêng ra ngoài.

Giám thị Phiến thản nhiên đứng ngó Mạnh và Thanh làm hô hấp nhân tạo cho nạn nhân.

Sau mười phút cứu cấp, thấy tay chân nạn nhân vẫn cứng đơ, Thanh nói:

– Thưa ông giám thị không có kết quả!

Giám Thị Phiến lạnh lùng hỏi:

– Có biết nạn nhân là ai không?

– Dạ, thưa ông giám thị: tôi xin kiểm điểm lại trại viên làm lò số 1 thì biết ngay.

Giám thị Phiến đá một cái khá mạnh vào đùi người nằm đó rồi thản nhiên ra lệnh, như không có chuyện gì đáng lưu tâm:

– Mấy người hãy tiết tục làm việc cho kịp. Đã mất quá nhiều thì giờ vô ích!

Sáng sớm hôm sau, giám thị làm biên bản về tai nạn, khám xét qua loa theo thủ tục riêng của trại giam rồi cho phép chôn Lưỡi Dài trong rừng gần lò than, giản dị như chôn con chó chết. Dù làm mật vụ, Lưỡi Dài 2 vẫn là tù nhân của Trại Đầm Đùn. Tình cờ làm sao chính Thanh, Mạnh và Toàn được giám thị chỉ định làm công việc đào lỗ chôn.

Ba người đang lấp đất chôn Lưỡi Dài, giám thị Phiến bất ngờ xuất hiện.

Để báo động cho anh em, Thanh thoạt thấy Phiến từ đàng xa đã cất tiếng chào:

– Kính chào ông giám thị.

Hai người kia ngưng lấp đất, gật đầu chào.

Giám thị Phiến khoanh tay, ngó một cách khinh khỉnh xuống dưới huyệt, thốt nhiên cười lạt nói:

– Trại viên 382 chết, nhiều người mừng lắm mà không nói ra.

Rồi ngó vào mặt ba người, rấm rắn hỏi:

– Đúng không?

Mạnh, Toàn, Thanh tái mặt, lặng thinh không nói. Phiến lại gằn giọng:

– Thằng khốn nạn này bị ngộp thở chết, hoặc bị đồng cảnh đánh chết cũng thế, đáng tội lắm. Nó đã vu cáo để hãm hại rất nhiều tù nhân Trại Đầm Đùn.

Ba người sợ hãi nhìn nhau, chưa hiểu giám thị Phiến định giăng bẫy gì đây, đành tiếp tục làm thinh. Người xúc đất đổ xuống huyệt, người đạp chân cho đất nén xuống.

Một ý nghĩ bỗng lóe trong đầu Toàn. Nhiều lần, dường như Phiến có những cử chỉ lạ lùng, không giống những cử chỉ thường có của con người Cộng sản. Trên thực tế, Phiến được coi là một nhân viên ít ác độc nhất trong đám giám thị của trại giam. Vì thế, tù nhân tinh ý nhận thấy có mâu thuẫn ngấm ngầm nhưng trầm trọng giữa hai viên giám thị Phiến và Tùng.

Toàn ngước nhìn Phiến phân vân.

Bỗng Phiến đằng hằng một tiếng, khoanh tay trước ngực lấy giọng thiết tha, chứa chan tình cảm một cách chân thành hiếm thấy ở con người Cộng sản:

– Tôi biết các bạn là những người Quốc-gia, vì lý do này hay lý do khác, bị bắt vào Trại Đầm Đùn. Từ lâu nay, tôi đã chứng kiến cuộc sống của toàn thể trại viên, thấy xót xa trong lòng nhưng không làm sao giúp các bạn được. Vì làm như thế, sẽ nguy cho các bạn và cho chính tôi nữa.

Chiến tranh thực sự chấm dứt nay mai – mà không chừng đã chấm dứt rồi – các bạn sẽ được phóng thích nếu ban Quản-trị trại cho là đã giác ngộ. Vậy điều cần hơn hết đối với các bạn lúc này là phải luôn luôn tỏ ra “thông suốt chính sách của chính phủ và thành khẩn cải tạo tư tưởng”.

Tôi có lời thành thực mừng cho các bạn sắp được về sum họp với gia đình.

Sợ không còn dịp thuận tiện nào khác nên bữa nay tôi có mấy lời thành thực với các bạn và cũng nhấn mạnh thêm rằng không phải đối với trại viên nào, tôi cũng xử trí như xử trí với các bạn. Trong trại giam có đủ hạng người: ăn cắp, ăn trộm, giết người, buôn lậu, hãm hiếp, làm chính trị, cách mạng v.v…mỗi người cần đối xử một cách…

Thanh, Toàn, Mạnh nhìn nhau kinh ngạc. Không phải vì chiến tranh sắp chấm dứt mà vì thấy một giám thị làm việc tại một trại giam Cộng sản nổi tiếng vì tù chết nhiều nhất, lại có lời lẽ và thái độ lạ lùng khó hiểu như vậy. Cả ba quyết đoán rằng đây là một phần tử Quốc-gia đội lốt Cộng sản, để trà trộn vào làm việc với bọn Cộng sản, vì một sứ mạng nào đó. Thật không ngờ! Thật đáng phục!

Toàn vốn tính nông nỗi dễ tin, sực nhớ đến vụ Hợi, đánh bạo nói:

– Thưa ông giám thị, anh em chúng tôi xin chân thành cảm ơn ông giám thị về những lời chỉ dậy quý báu. Sau một năm trời, đây là lần đầu tiên chúng tôi được nghe những lời nhân ái như vậy. Nếu tôi nhân biết lòng nhân ái của ông giám thị sớm hơn ít ngày, một trại viên đã thoát được hình phạt chôn sống, khỏi chết oan.

Quá xúc động, Toàn phải cắn chặt vành môi. Thanh hết nhìn Toàn lại nhìn viên giám thị, lấy là lo cho bạn vì quá nông nỗi, đã thổ lộ những điều không nên nói ra.

Nhưng giám thị Phiến đã cười nhạt hỏi lại Toàn:

– Có phải anh định nói đến trại viên 684 tên là Hợi phải không?

– Dạ phải. Hợi bị chôn sống đúng vào ngày ông Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ đến thanh tra trại.

Giám thị Phiến thản nhiên nói:

-Nếu bữa đó, giám thị Mường có mặt tại bãi tha ma thì Hợi tất đã bị chôn sống, hoặc bị phát giác giả vờ chết để vượt trại. Lại sẽ có bao nhiêu người chết oan vì vụ này. May thay, vào phút chót, giám thị Mường đã bị “đẩy” đi công tác chỗ khác cho nên không xảy ra vụ chôn sống.

Duy có Mạnh ngẩn ngơ không hiểu. Còn Thanh, Toàn mừng rú lên vì không ngờ và nghĩ thầm: Con người này cộng tác mật thiết với Cộng sản là có nhiệm vụ, chẳng sai!

Giám thị Phiến quay nhìn bốn phía một lượt. Khi đã yên trí là không có người, anh ta trầm giọng nói:

– Từ lâu, tôi đã quan sát và tìm hiểu về các anh nên trong một vài trường hợp thuận tiện đã che chở và nâng đỡ. Đó là một nhược điểm mà cũng là ưu điểm của con người Quốc-gia. Đại khái như hôm nọ, tôi biết các anh ăn vụng trứng ngỗng nhưng tôi lờ đi. Tôi lại cũng biết các anh liên lạc với tù phong vương 982, giúp một cách gián tiếp phương tiện cho y vượt ngục…Thiếu niên Hợi đã lấy trộm giũa của lò rèn đưa cho 982, còn trại viên 271 thì tiếp tế thức ăn một vài lần. Đúng không?

Toàn điếng người, toát mồ hôi đứng chết trân, không cãi được một tiếng.

Phiến lại nói:

– Nhiệm vụ của tôi sẽ chấm dứt trong một ngày rất gần. Mong rằng chúng ta sẽ gặp nhau trên một môi trường khác, đứng bên nhau trong một cuộc đấu tranh chung mà chúng ta biết là sẽ dai dẳng, khó nhọc, trường kỳ. Muốn đất nước Việt Nam không còn những trại giam kiểu Đầm Đùn, chúng ta chỉ còn một con đường. Sau những kinh nghiệm xương máu sống chung với Cộng sản, người Quốc-gia nhất định phải nhận thấy điều đó.

Những lời nói của giám thị Phiến đánh thẳng vào trí óc, đi thẳng vào lòng ba người tù. Họ lặng đi một lúc lâu vì ngạc nhiên và cảm động. Sau cùng, Toàn ngửng đầu lên, nhìn mọi người nói:

– Đúng vậy. Chúng ta chỉ còn mỗi con đường. Là con đường đấu tranh chống Cộng sản, để quốc gia Việt Nam khỏi biến thành một Trại Đầm Đùn khổng lồ…

o O o

Ngày nào cũng có gần trăm tù nhân lên lò gánh than về Trại Đầm Đùn.

Sáng hôm nay, cơm nước xong, tù nhân chuẩn bị lên đường đứng thành một hàng dài đợi lệnh

Giám thị Phiến xách roi mây đi kiểm soát.

May thay, không có người nào bị cảnh cáo hay bị đòn vì gian ý.

Trong khi đoàn tù gánh than ra khỏi rừng, mấy chục tù nhân làm than đã sẵn sàng rìu, dây vào rừng đốn cây thì tiếng còi của giám thị Phiến làm họ bỡ ngỡ.

– Theo lệnh của thượng cấp, những trại viên có tên và danh số sau đây, ngay bây giờ theo tôi về Trại Đầm Đùn làm công tác khác.

Rồi Phiến đọc tên và danh số của hai mươi người, trong số có Toàn, Thanh, Mạnh, Tuyên. Toàn nhìn ba người bạn thân giở khóc giở cười.

Mặc dầu bọn Toàn nghĩ chiến tranh sắp chấm dứt (sự thật, đã ngưng mấy tuần rồi) một số tù nhân sẽ được phóng thích, nhưng khi về tới gần trại, họ cũng thấy hồi hộp, lo lắng, chán nản.

Vẫn cái cảnh từng nhóm năm trại viên ngả rạp về phía trước kéo cầy thay trâu, nhọc nhằn, tủi hổ. Đây đó, quanh trại, những tù nhân gầy gò, không manh áo, chỉ còn da bọc xương, vừa gánh nước vừa chạy, chẳng thèm quay lại nhìn khi bọn Toàn đi ngang qua. Họ đang sống mà như họ không còn dính dáng, không còn lưu luyến gì đến cuộc đời này nữa. Họ tập sự chết trong khi đợi chết thật sự.

Toàn, Thanh còn thấy lố nhố nhiều cán bộ lạ mặt đi lại ngoài sân. Hỏi thăm mới biết Tổng Giám-đốc Lý Bá Sơ đã cho tăng cường 40 cán bộ để hướng dẫn học tập cho tù nhân.

Hôm sau chào cờ xong, tù chưa kịp tan hàng, giám thị Phiến đã tới, cầm một tờ giấy trong tay, nhìn đám tù lạnh lùng nói:

– Đây là danh sách 60 trại viên được thượng cấp cho theo Lớp học tập đặc biệt, miễn công tác hàng ngày. Thời khóa biểu học tập sẽ được loan báo sau.

Rồi giám thị Phiến chậm rãi đọc bản danh sách trong khi đám tù tái mặt, nín thở nghe.

Lúc tan hàng, nhiều người sụt sùi khóc. Họ không có tên trong bản danh sách.

Những người được theo Lớp học tập đặc biệt là những người sắp được phóng thích.

Bọn Toàn bốn người nghe đọc tên và danh số thốt mừng rỡ như điên như cuồng. Nhưng bỗng có một người gào lên một tiếng xăm xăm bước lại gần đám cỏ, vung chân đá băng đám cỏ thiệt mạnh. Ai nấy còn ngạc nhiên, đã nghe anh nọ la “Trời ơi! Trời ơi!” rồi ngồi thụp xuống nắm chặt lấy ngón chân, nhăn nhó thiểu não. Xem ra, móng ngón chân cái đã bị lật bung, máu đỏ lòm. Trong lúc điên cuồng mất trí, anh ta đá nhằm một hòn đá trong búi cỏ. Không biết có điều chi buồn khổ, trại viên nọ lại bật lên khóc nức nở.

Một đồng cảnh cúi xuống thì thầm nhắc nhở:

– Coi chừng, mất lập trường đó, nghe!

Anh ta chưa kịp nín, một cán bộ đã sấn sổ lại bên vặn hỏi:

– Đứng lên, nghe tôi hỏi. Tại sao anh có cử chỉ bất mãn, oán giận? Anh bất mãn với chính sách của chính phủ, với chế độ phải không?

Trại viên nọ thốt nhiên sợ quá, lúng túng đáp:

– Dạ, thưa không. Chính sách của chính phủ luôn luôn sáng suốt. Đường lối của chính phủ là đường lối rất thân dân…

– Thế tại sao anh lại kêu “Trời ơi!” và có cử chỉ vô kỷ luật? Kêu “Trời ơi” là mê tín dị đoan. Trời ở chỗ nào! Vô kỷ luật là biểu lộ thái độ bất mãn với chế độ, với chính phủ? Tại sao vậy?

Anh nọ quýnh quá, lật đật bào chữa:

– Thưa…Thưa…tại tôi nghĩ đến con vợ tôi…

– Vợ anh làm sao? Phải thành khẩn bộc lộ tư tưởng.

– Vợ tôi nó bỏ tôi, đi lấy thằng tá điền…vẫn giúp việc cho tôi.

Cán bộ giận dữ quát:

– A! A! Trại viên này dám mạt sát nhân dân! Tại sao lại gọi “thằng tá điền”?

– Dạ…dạ…”anh tá điền”. Anh tá điền cướp vợ tôi, chiếm ruộng của tôi rồi…

Cán bộ cắt ngang:

– Địa phương anh đã phát động phong trào cải cách ruộng đất chưa? Bao lâu rồi?

– Thưa, phát động từ cuối năm ngoài.

– Hỏi thử coi anh có thành khẩn không, chứ tôi thừa biết phong trào cải cách ruộng đất có phát động, anh mới “được” đưa vào đây để cải tạo tư tưởng. Anh căm thù đồng chí tá điền chiếm ruộng của anh như thế là…căm thù lệch lạc…là phạm quan điểm của nhân dân, mất lập trường, đi sai đường lối của chính phủ.

Chính phủ cho phát động phong trào cải cách ruộng đất, anh phản đối chính sách của chính phủ, căm thù đồng chí bần cố nông được chính phủ cho canh tác số ruộng đã bình nghị. Như vậy, danh từ “chiếm ruộng” là danh từ…phản động, anh là phần tử…phản động, phá hoại chính sách của chính phủ, của bác và đảng…biết chưa?

Trại viên bất mãn với chính sách cải cách ruộng đất tắc họng trước những lời buộc tội gay gắt đọc trơn tru như bài học thuộc lòng. Cán bộ hùng hổ nằm ngực áo trại viên phản động quát:

– Lên Văn phòng…làm tờ tự thú! Đồ Việt gian phản động!

o O o

Ngay chiều hôm đó, trại viên theo Lớp học tập đặc biệt được biết mỗi ngày học liền năm tiếng đồng hồ. Mỗi lớp gồm 30 học viên, lớp đầu học từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều, lớp thứ hai học từ 6 giờ chiều đến 11 giờ đêm.

Nhưng buổi học tập thường ngày vẫn tiếp tục đều, 20 người một tổ có cán bộ học tập hướng dẫn. Tù nhân nhận định rằng sự học tập trong thời gian này còn quan trọng gấp bội. Kết quả học tập sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống còn của họ. Vì thế các buổi học tập trở nên linh động khác thường, trại viên thi đua phát biểu ý kiến, để khỏi bị cảnh cáo không tích cực tham gia.

Họ càng chăm chỉ, tích cực học tập hơn nữa khi cán bộ cho biết: Trại viên có tinh thần giác ngộ cao, thành khẩn cải tạo tư tưởng, luôn luôn xung phong, thi đua tăng năng xuất, thi đua học tập, sẽ được cán bộ học tập đề nghị cho theo Lớp học đặc biệt.

Được theo học Lớp học đặc biệt là có hy vọng sắp được phóng thích nên anh nào cũng hăng hái thi đua, xung phong, bất kể sống chết.

Có một trại viên đã đứng tuổi thuộc thành phần phú nông, tin tưởng vào lời hứa của cán bộ, phá kỷ lục xung phong trong tháng rồi cao hứng làm một bài vè.

Phá kỷ lục xung phong trong tháng, ông phú nông tin sẽ được theo Lớp học đặc biệt và sẽ được phóng thích một ngày gần đây như cán bộ đã nói. Ông sẽ trở về đoàn tụ với gia đình, sống trong cảnh vợ chồng con cái, đầm ấm như cái thuở nào. Ông sẽ đích thân cày ruộng, canh tác, lao động bản thân cho đúng với đường lối của chính phủ. Vợ chồng con cái chung sức, đổ mồ hôi xuống luống cầy cho hạt lúa nẩy mầm, nhành lúa vươn lên, không lẽ không được no bụng.

Hơn thế, vợ ông là người đàn bà thôn dã, chân lấm tay bùn từ thuở nhỏ, lại đảm đang tháo vát, một tay gây dựng cơ nghiệp cho chồng, dưới chế độ mới còn hợp thời hơn nữa.

Ông phú nông càng nghĩ càng thấm thía thương nhớ vợ.

Ngày được phóng thích, ông sẽ đi thẳng một mạch về làng đặng gặp ngay vợ con mà kể lể bao nỗi đoạn trường.

Trước kia, những lúc trà dư tửu hậu, ông phú nông cũng thích ngâm thơ, làm vè. Đến nay, trong nhà giam nhớ vợ, ông cao hứng tìm vần, ghép những câu nôm na thành bài vè như sau:

Đã một năm rồi, bu nó ơi!
Nhớ cằm, nhớ má, nhớ đôi môi.
Ước gì ông trưởng
  3 cho về nhỉ,
Nhẩy ngựa ra cương, nước mã hồi!

Hôm sau, đi làm củi, ông phú nông cao hứng đọc “bài thơ” cho mấy đồng cảnh nghe. Tâm trạng tù nhân nào mà chẳng nhớ vợ nhớ con. Thấy lời thơ diễn tả đúng nỗi lòng mình, mấy ông đồng cảnh ư ử ngâm nga cho đỡ buồn. Thế là bài thơ lọt vào tai cán bộ.

Buổi chiều, tù nhân đang ăn cơm, một cán bộ học tập xăng xái vào nhà Tiểu Công Nghệ, cầm loa gọi:

– Trại viên 811 lên trình diện tại Văn phòng.

Ông phú nông nghe gọi danh số, khấp khởi mừng thầm đi theo tên cán bộ, chắc mẩm là được theo Lớp học tập đặc biệt rồi. Tuy thế, khi bước vào phòng Phó Trưởng ban, ông cũng run lẩy bẩy.

Phó Trưởng ban hầm hầm nhìn trại viên 811, sẵng giọng:

– Tác giả bài thơ “Nhớ vợ” đây hả?

Ông phú nông giật mình, chỉ kịp nghĩ: Nguy to rồi!

Phó Trưởng ban đã quát:

– Đọc lại bài thơ “Nhớ vợ” nghe nào.

Ông phú nông đọc xong bài thơ, Phó Trưởng ban mắng:

– Anh đã tuyên truyền phá hoại tinh thần hăng say làm việc của trại viên, gây tình trạng hoang mang chán nản cho trại viên! Biết không?

– Thưa ông Phó Trưởng ban, cháu ngẫu hứng làm một vài câu vè để thêm hăng hái trong việc làm hàng ngày. Cháu không hề dám có ý định làm cho các đồng cảnh chán nản, hoang mang.

– Quân phản động! Mày còn ngoan cố, chối tội nữa hả? Mày xui các trại viên nhớ vợ nhớ con, khiến họ phân tán tinh thần, chán nản công tác. Như vậy, có phải là phá hoại không?

Trong khi các chủ gia đình được đưa đi cải tạo tư tưởng, học tập lao động sản xuất, vợ con ở nhà đã được cán bộ và nhân dân săn sóc, chăm nom, về mọi phương diện. Mày làm thơ than nhớ vợ, thương con, khác gì mày buộc tội cán bộ và nhân dân đã không săn sóc đến vợ con mày, đã đi sai đường lối thân dân. Hành động của mày rất có hại cho uy tín của chính phủ, của đảng.

Như vậy, mày đã phạm tội tuyên truyền đường lối thân dân của chính phủ, của đảng. Biết chưa?

Lát sau, từ phòng Phó Trưởng ban ra để xuống thẳng nhà cùm, ông phú nông chỉ còn biết lã chã hai hàng nước mắt. Không dè bài vè ngẫu hứng, vô thưởng vô phạt lại giết chết người làm ra nó.

Mấy hôm sau, ông phú nông bị lây bệnh tả lỵ và chết đúng vào ngày bọn tù nhân đầu tiên của Trại Giam Đầm Đùn được phóng thích.

——————-

(1) Một món ăn tù thích nhất là hoa mướp hay trái mướp nấu canh với ong non. Bắt tổ ong lấy mật còn ong non nấu canh hay rang lên, ăn ngọt và bùi không thể tả được (LTG)
(2) “Lưỡi Dài” là danh từ riêng để chỉ tù là, mật vụ cho ban Quản-trị. Trong trại có nhiều Lưỡi Dài như 382, 224…
(3) Ông Trưởng ban Quản-trị.

—>THAY ĐOẠN KẾT

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.