Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

2.

Thấm thoát, Toàn đã chính thức mặc áo có số của Trại giam Đầm Đùn được mười ngày. Trong thời gian này, anh chỉ nghe gọi đến tên cúng cơm của anh ba lần cả thảy. Một lần, anh được gọi lên văn phòng ban Quản-trị. Một nhân viên của Trại mặc thường phục nhưng có đeo súng sáu trễ xuống trước bụng, mang kính đen, lừ lừ tiến lại trước mặt anh, khiến anh giật mình toát mồ hôi đẫm người.

Không khí trong Trại Đầm Đùn thật đáng sợ. Các việc làm nặng nhọc kiệt sức trong và ngoài trại, tình trạng đói khổ liên miên làm hao mòn sức sống của tù nhân, hình dáng những người tù gầy ốm như que củi, quần áo rách tả tơi, ở nơi khác đã phạm tội “công xúc tu sỉ” mà ở Trại Đầm Đùn lại coi là thường, những vết thương lở loét kinh tởm, những chiếc khoen sắt đeo ở cổ chân với những sợi lòi tói sắt quét lê trên mặt đất, những cây roi mây rừng tàn nhẫn, tác dụng như roi cá đuối, những giọt nước mắt, những khuôn mặt méo mó lệch lạc, những tiếng quát tháo, những khẩu súng đen sì có cắm lưỡi lê thỉnh thoảng lại xiên thẳng vào tim vào bụng những người bị chế độ ghét bỏ và thù hận, tất cả những thứ ghê rợn đó tạo nên một làn không khí khủng khiếp luôn luôn bao trùm trại giam. Rồi thì bốn phía quanh trại giam là núi, là rừng, là nhân viên tay chân của chính quyền, tất cả đều thù ghét những kẻ bị kết tội. Nên, nhân viên luôn luôn rình rập để trả thù, để trừng trị những kẻ đã chống lại hoặc đã làm hư hỏng chế độ. Tất cả, người cũng như thiên nhiên và sự việc, liên kết, phối hợp với nhau để đánh mạnh vào kẻ có tội, khiến họ luôn luôn khiếp đảm kinh hoàng.

Đến nỗi cứ mỗi lần nhân viên Ban QuảnTrị gọi đến danh số là tù mất hồn toát mồ hôi lạnh vì biết lành rất ít mà dữ thì nhiều. Phước thay, Toàn chỉ được gọi lên văn phòng để xác nhận lại những đồ vật riêng của anh còn mang trên mình khi bị dẫn vào trong trại giam: một đồng hồ, một nhẫn cưới bằng vàng, một kính trắng, cùng giấy tờ hộ tịch và ít giấy bạc Đông Dương.

Nhân viên có phận sự ghi sổ, trừng trừng nhìn vào mặt Toàn khiến anh sợ hãi bất giác cúi gầm mặt xuống – dáng điệu của kẻ phạm tội, rồi mới lạnh lùng cất tiếng:

– Bao giờ anh được nhân dân tha tội, sẽ được trả lại những thứ này. Còn giấy bạc của giặc thì phải hủy bỏ theo luật lệ, hiểu không?

Toàn nuốt nước miếng, run run:

– Dạ, hiểu.

Nhân viên nhìn Toàn một lát như để nhận diện anh cho kỹ càng hơn rồi sẵng giọng:

– Thôi, về Trại làm việc!

Toàn cúi đầu kính cẩn tỏ vẻ cám ơn rồi lủi thủi xuống xuống trại, có một nhân viên công an đi kèm phía sau. Anh cắm đầu nhìn xuống đất, chỉ dám ngẩng mặt những lúc cần nhìn lối đi, để tránh gây những thành kiến không hay đối với anh.

Về đến căn trại, nơi phạm nhân đang lao tác tùy phần việc được giao phó, anh quay lại chào thì không thấy nhân viên công an đâu nữa. Thì ra hắn đã “bỏ” anh từ lúc nào mà anh không biết vì không dám quay lại nhìn, sợ phạm luật lệ nhà giam. Tuy nhiên anh cũng thoáng thấy hắn núp sau một cậy cột ở đằng xa, đang nhìn theo dõi anh. Toàn làm như không biết, bắt tay ngay vào việc.

Công tác của anh hôm nay là xay lúa, cùng với năm phạm nhân khác. Trong số năm người này, có một ông già tóc đã đốm bạc, tuổi chừng trên dưới sáu mươi, vừa xay lúa vừa thở hổn hển như bị bệnh hen. Hai cánh tay ông già khẳng khiu và tím bầm, gân xanh nổi lên chằng chịt. Dường như ông già vừa làm vừa khóc vì Toàn liếc thấy hai giòng nước mắt long lanh trên bộ mặt loang lỗ vì bụi và cám. Nhưng lát sau, anh thấy ông già vã mồ hôi đầy mặt nên cho là mình trông lầm.

Toàn luôn tay xay, không dám ngừng lại phút nào vì hai nỗi lo ngại: thứ nhất, anh biết là ở đâu đó, lúc nào cũng có người theo dõi từng cử chỉ của anh, thứ hai, anh sợ không hoàn tất công tác đúng giờ.

Theo luật lệ nhà giam, tội nhân phải xay hết, bất cứ bằng cách nào, 10 thúng thóc một ngày, nghĩa là 5 thúng buổi sáng và 5 thúng buổi chiều. Mỗi cối xay nửa thúng. Khi tiếng kẻng báo giờ nghỉ nổi lên, tội nhân phải có đủ 5 thúng gạo cất vào kho.

Xay lúa là công việc nhẹ nhất mà tù nhân phải làm nên thường dành cho tù mới lành bịnh, tù nhân nhẹ tội hoặc mới vào trại. Tuy làm việc nhẹ, tù nhân vẫn phải làm đều tay, cần cối không mấy khi ngừng ngang trừ những lúc phải đổ thóc vào cối. Làm việc được một, hai tiếng đồng hồ, người nào cũng đổ mồ hôi hột dù trời rét, thỉnh thoảng họ dùng ngón tay vuốt một hai cái trên trán để gạt mồ hôi cho khỏi chảy vào mắt.

Làm lâu quen việc, cứ đến giờ nghỉ trưa tù nhân đã xay xong trên 5 thúng và khoảng xế chiều là họ xay những cối cuối cùng. Họ trông bóng nắng để ước lượng thì giờ đặng xay cho kịp.

Làm việc được chừng hai tiếng đồng hồ sau giấc nghỉ buổi trưa, người nào cũng lộ vẻ mệt mỏi, tay đẩy cần cối không được đều hòa như trước và thường hay nghỉ…vặt. Và họ cảm thấy đói bụng, đói lắm…

Toàn thấy bụng sôi “òm ọp” như có giun quấy phá. Cái cảm giác đói mỗi phút càng thêm rõ rệt, muốn rã rời cả chân tay. Mắt anh có lúc hoa lên, nhìn không rõ. Toàn ao ước có được một miếng cơm cháy bỏ vào miệng nhai thì dễ chịu, khỏe sức biết chừng nào. Anh không dám uống thêm nước vì đã có ít nhiều kinh nghiệm sau mười mấy ngày trong trại giam: lúc đói mà uống nhiều nước sẽ bị nôn thốc nôn tháo ngay.

Mà nôn thì mệt và mất sức, không thể tiếp tục công việc một cách bình thường!

Cách anh độ mươi thước, một tù nhân già vẫn đều tay xay nhưng coi bộ hết “tủy”, lết không muốn nổi nữa. Toàn suýt bật cười vì thấy ông ta không xay lúa bằng hai cánh tay mà dùng sức nặng của cả thân hình để đẩy cần cối. Hiển nhiên, hai cánh tay không còn sức.

Cạnh cối của ông già có ba thúng lúa đầy chưa rờ tới, trong khi Toàn chỉ còn mỗi một thúng. Toàn thấy thương hại ông già quá, định cố gắng xay cho mau hết phần của mình, rồi xay giúp ông một thúng, chắc chắn ông già xay không kịp. Mà xay không kịp đương nhiên bị trừng phạt, nhẹ thì bị giảm phần cơm, nặng thì bị giam vào hầm tối thêm năm, mười roi cháy da, bứt thịt.

Ý nghĩ “giảm phần cơm” khiến Toàn tỉnh hẳn người như đang mê mà chợt tỉnh. Hai cánh tay anh như có thêm sức mạnh bên ngoài phụ lực, thớt cối xiết vào nhau nghe rào rào như tiếng mưa rơi trên mái lá. Chừng như ông già khẳng khiu kia nghe thấy tiếng cối xay khác lạ nên quay lại nhìn Toàn rồi nhìn xuống mấy thúng thóc của mình chưa làm tới. Từ lúc đó, ông già như được thêm ý chí, xay đều tay hơn.

Hai tay đẩy cần cối đều như máy, Toàn liếc nhìn trại bên kia, ngăn cách với trại bên này bằng một hàng rào nứa rừng dựng xeo xéo. Đó là trại giam gần hai trăm tù nhân Pháp, theo như anh em trong trại cho biết. Lúc này, có ba bốn tội nhân Pháp đang xay lúa dưới hiên. Mới đầu, Toàn thấy lạ mắt trước cảnh tượng tù Pháp xay lúa theo lối cổ lỗ của dân quê Việt Nam. Bị bệnh và cái đói kinh niên hành hạ, anh nào cũng khẳng khiu như cây sào. Mặc dầu vậy, Toàn nghe nói họ xay lúa rất khỏe, lần nào cũng xong việc trước giờ cả tiếng đồng hồ.

Trong chế độ trại giam, tù nhân Pháp được hưởng khẩu phần đồng đều: Loại A. Nghĩa là họ được hưởng 4 chén cơm một bữa ăn. Nhưng họ cũng đói như tù Việt. Vốn quen ăn nhiều thịt nên khi họ chỉ được ăn cơm với chút xíu thịt trâu bạc nhạc mỗi bữa, họ luôn luôn đói và thèm ăn bất kể thức gì có thể ăn được.

Khi đói, người ta giống nhau bởi sự thèm muốn, tư cách và hành động. Và khi đói, người ta trở nên gần gũi với loài vật hơn, nghĩa là làm theo bản năng hơn lý trí. Nhận xét này được chứng minh rõ rệt ở trong tù.

Bất cứ người nào cũng sợ đói như nhau. Và vì đói cơm ăn trở thành ngọc thực, một miếng cơm hơn kém có thể gây nên loạn đả, một chén cơm gây ra những án mạng chết người. Một câu chuyện xảy ra trong trại giam tù nhân Pháp vẫn thường được nhắc lại trong trại người Việt.

Một lần kia, sáu tù nhân Pháp được cắt đi vác tre từ bến sông về. Mỗi người có phận sự vác mười cây tre. Cả đi lẫn về, đường dài tổng cộng là hai mươi cây số, mười cây số đi tay không và mười cây số vác cây tre, nặng chừng hơn mười ký lô. Trong sáu tù nhân được giao phó “công tác nặng” này, có một người mới khỏi bệnh nên vác đến cây thứ tám thì kiệt sức, ngã lên ngã xuống bốn lần trên khoảng đường từ bờ sông về trại. Lần cuối cùng ngã xuống, chẳng may anh ta bị cây tre rớt theo đà giáng một cái vào đầu nên bất tỉnh luôn. Không biết ngất bao lâu, đến lúc tỉnh dậy anh trông trước trông sau, cả Trưởng toán lẫn người cảnh vệ đi kiểm soát cũng không thấy. Đường rừng vắng vẻ, trời đã về chiều, bóng đêm sắp xuống…Một ý tưởng thoáng trong trí: Trốn! Anh ta vừa lau vết máu trên mặt vừa suy nghĩ rất nhanh. Nhưng khi nhìn lại chiếc áo tù và con số trên ngực với hai chữ “FN” 1, anh ta trở lại sáng suốt, lẳng lặng vác tre lên vai lừng lững về trại. Được mấy bước, nghe có tiếng chân phía sau, ngoái trông lại, anh ta thấy viên cảnh vệ lăm lăm khẩu súng trường có cắm lưỡi lê vẫn theo sau từ bao giờ. Anh ta không ngờ người lính đó đã nhẩy xuống nấp dưới hố liền khi thấy anh ngã, sẵn sàng nổ súng nếu anh rời xa con lộ nhỏ được chỉ định quá mười thước. Về đến trại, vì kiệt sức, anh điều đình với người bạn cùng toán, vác thay cho anh cây tre chót, trả công một chén cơm buổi chiều. Hai bên thỏa thuận.

Bữa cơm chiều, trái với lời hứa vì quá đói, ăn hết ba chén cơm vẫn chưa thấm gì, anh tù đổi giọng, khất đến chiều hôm sau sẽ trả công chén cơm đã hứa. Thế là cuộc xung đột xẩy ra, dữ dội như cuộc xung đột giữa hai kẻ thù không đội trời chung khiến anh ta bị gẫy hai cái răng cửa và té bất tỉnh vì một cú đấm thẳng vào giữa mặt. Kết quả là cả hai bị nhốt trong hầm tối hai ngày và truất nửa khẩu phần, bốn bữa ăn cơm với muối trắng.

Về vụ tranh nhau ăn trong trại giam, có nhiều chuyện tức cười và thương tâm không nói xiết, người tù nào đã trông hay nghe kể lại, sẽ không bao giờ quên được.

Môt lần, một bọn tù Pháp và một bọn tù Việt được cử đi làm công tác chung: làm cỏ một sườn đồi để canh tác hoa mầu và cấy lúa thêm cho trại giam. Hai bên chia nhau, mỗi bên làm phân nửa diện tích, phải nhặt cỏ, chặt cây. Đến giờ nghỉ, một tù nhân Pháp mừng quýnh, cặp mắt biếc long lanh vì thèm: Trong khi cuốc đất làm cỏ, anh ta bắt được một con cóc lớn từ trong hốc đá nhẩy ra. Sau khi đập chết con cóc, anh ta dùng dao rừng rạch một đường ở sống lưng “cậu ông Trời” lột phăng làn da sù sì phát tởm liệng đi, mổ bụng moi bỏ hết ruột gan, chặt đầu cóc, bức lá vò ra để chùi máu cho sạch rồi lăng xăng xin người lính gác mồi lửa châm vào đống lá khô. Có lửa rồi, anh bỏ mấy cành cây khô đốt lấy than đặng nướng thịt cóc cho chín vàng. Mỡ cóc cháy xèo xèo thơm phức khiến nhiều anh tù rỏ rãi. Nướng một lát, chừng nóng ruột quá, tù nhân vừa may mắn vớ được “món bở” cầm cả con cóc lên táp một miếng, cắn đứt gọn hai cái đùi chín vàng ăn trước. Trong khi nhồm nhoàm nhai, anh ta tiếp tục nướng cóc một tay, còn tay kia moi ở túi quần ra mấy trái ớt, bỏ vào miệng “đưa cay” rất ngon lành. Mấy “khán giả” đứng gần không biết có thèm không nhưng nhún vai rồi cười gượng một cách khó hiểu.

Cũng chiều hôm đó, trước khi ra về, lính cảnh vệ đặc biệt cho phép tù nhân được tắm ở con suối chảy ngang chân đồi. Một tù nhân đang tắm bỗng đứng lặng nhìn chòng chọc vào hòn đá cách anh ta dăm thước. Rồi anh ta vụt chạy lên bờ, lội xuống chỗ vừa quan sát như khám phá ra vật gì đặc biệt.

Cả bọn tò mò nhìn theo. Anh chàng kia lên bờ, giơ cao một vật tròn tròn và đen thui bóng loáng cầm ở tay. Đó là một con ốc nhồi. Cả bọn tù đều “ồ” lên một tiếng vừa ngạc nhiên vừa mừng.

Không cần suy nghĩ, anh tù mũi lõ cầm ngay ngắn con ốc rồi mài xoèn xoẹt trôn ốc trên tảng đá, rất thành thạo. Con ốc bị “bỏng” đít đành thò đầu ra khỏi vỏ. Chỉ đợi có thế, anh tù dùng răng cửa cắn chặt vẩy ốc, nhất định không cho ốc thụt đầu vào trong vỏ, dằng mạnh một cái là cả mình con ốc sút ra ngoài. Anh ta bóp vào bụng ốc để loại bỏ cái chất không tiêu thụ được, rồi ngắm nghía qua loa trước khi bỏ tọt con ốc sống vào miệng trệu trạo nhai thành tiếng sừng sựt. Thịt ốc dai nên mãi mới thấy anh ta vươn cổ ra nuốt, yết hầu chỉ nhấp nhô chuyển động có hai cái là xong. Chừng ăn rồi mới thấy tanh tưởi, anh ta cúi xuống ngậm nước suối súc miệng hai ba lần. Lúc lên đường về trại, không biết nghĩ sao, anh ta còn lấy ớt trong túi ra nhai một nửa trái.

Một lần, một bọn tù nhân Việt đi cầy ruộng. Đêm hôm trước mưa lớn nên ruộng cầy lõm bõm những nước. Người cầy bỗng “họ” trâu đứng lại. “Trâu” đây là năm người tù đeo dây vào bả vai thay trâu kéo cầy. Người cầm cầy báo động cho “trâu” biết trong ruộng có nhiều cá, mưa xuống nên cá ở dưới suối “rạch” lên ruộng. Rồi cả bọn tiếp tục cầy cho đến hết giờ. Không biết làm cách nào mà chỉ trong giờ nghỉ, họ bắt được bẩy con cá rô lớn bằng hai ngón tay, rồi kiếm một sợi cỏ cứng xâu qua hai bên mang thành một xâu cá. Về đến trại, họ cử người “vận động” với nhà bếp nấu cho họ một bát canh cá với trái sấu rừng “ngon tuyệt trần đời ăn quên chết” như họ nói. Bữa cơm, mỗi người húp vài miếng tấm tắc khen ngon: “Thật không kém gì ăn bát yến”. Cuối bữa, bẩy con cá rô hoàn toàn không để lại vết tích gì trên mâm.

Bữa tiệc cá rô này thỉnh thoảng vẫn được tù nhân nhắc lại với những lời lẽ nồng nhiệt để làm tăng thêm “khẩu vị” cho bữa cơm thường lệ.

o O o

Nhớ đến bữa cơm, Toàn đã thấy khẩu phần ít quá, mỗi bữa phải thêm hai chén nữa mới tạm lưng lửng bụng. Không như mấy bữa đầu tiên không nuốt được, Toàn đã ăn với vẻ ngon lành háo hức như mọi người trong trại. Anh thiết tha mong chóng được lên hạng B nghĩa là được ba chén một bữa cho đỡ đói. Nhưng bỗng anh đăm đăm nhìn.

Bốn, năm người cảnh vệ từ ngoài sân bước vào, súng ống hẳn hoi, trong thế sắp xung kích.

Ai nấy lật đật đứng xích lại gần cối của mình, chờ nhân viên ban Quản-trị kiểm soát trước khi mang gạo vào kho.

Toàn nhận thấy chiều nay, nhân viên ban Quản-trị nghiêm nghị khác thường. Họ chia nhau tản ra khắp nơi trong trại chứ không đi từng bọn như mọi lần. Toàn đưa mắt nhìn Mạnh có ý hỏi, Mạnh cũng lộ vẻ không hiểu. Còn ông già tóc bạc thì không để ý đến sự khác lạ, miễn sao xong việc đúng giờ là mừng quá rồi.

Nghe tiếng ồn ào ở ngoài sân, Toàn và Mạnh vội nhìn ra: Bọn tù đi gánh than từ hôm trước, hôm nay trở về mặt mũi quần áo người nào cũng lem luốc những bụi than. Sau khi sắp hàng nghiêm chỉnh trình diện giám thị để kiểm điểm lại, tù nhân làm than vào trong sân ngồi nghỉ trước khi ra tắm rửa ngoài ao. Trong khi đó,Trưởng toán đi theo giám thị lên văn phòng, như có việc gì quan trọng cần báo cáo gấp. Tiếng xì xào lại bắt đầu. Tuy luật lệ trại giam nghiêm ngặt như thế mà đã có tin vừa xẩy ra một vụ tù trốn trong khi làm củi trong rừng.

Tuy thầm mong cho người tù trốn vượt qua những trở ngại dọc đường, nhưng Toàn chưa dám nghĩ đến việc trốn về vùng quốc gia. Lần này, quan trọng hơn, tên tù trốn lại là một trưởng ngành trong Tổ Sản Xuất Tiết Kiệm, nghĩa là một tù nhân được ban Quản-trị tương đối tín nhiệm. Y mới được cất lên chức trưởng ngành củi nhờ sự học tập hăng hái, tiến bộ, nhờ có tư tưởng giác ngộ và nhiều thiện chí muốn chuộc lại “tội đối với nhân dân”.

Bữa cơm đó, tù nhân ít chuyện trò, anh nào cũng muốn chóng xong bữa, cho khỏi bị tai bay vạ gió vì những câu lỡ lời hay những chuyện không đâu…

——————-
(1) FN: Phạm nhân

—>3

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.