Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

3.

Đến sáng hôm sau, tất cả tù nhân Trại giam Đầm Đùn đều hay là Trưởng toán 15 (chứ không phải Trưởng ngành như tin đầu tiên) đã trốn trong lúc làm củi ở rừng. Những người đeo số tù từ lâu và có dịp đi làm củi với Trưởng toán 15 thẩy đều lấy làm ngạc nhiên, không ngờ anh nọ lại có gan đến thế. Cho hay không thể trông mặt mà bắt hình dong, nhất là trông tướng mạo của người đang ở tù.

Tù nhân cùng toán hoặc là bạn cùng giường cùng trại tương đối thân, mới dám thì thào với nhau về những “giai thoại” hay những thành tích của người vừa trốn. Trong trại, người ta gọi tù bằng số và nhắc đến “thành tích” của mỗi người. Đại khái: Thằng cha ăn cóc, ăn vỏ chuối v.v…Tuy vậy, không phải bất cứ lúc nào cũng cứ thì thầm bàn tán mà chết uổng mạng. Chỉ khi nhìn trước nhìn sau không thấy giám thị, không thấy cảnh vệ, không thấy cả những tù nhân khác trại mới dám nói vài lời…Nhưng những người khôn ngoan, có kinh nghiệm, có thủ đoạn và có óc tự chủ, luôn luôn lạnh lùng nín như thóc, việc của ai người ấy làm, không liên hệ và không biết gì đến việc tù trốn, coi như việc ấy xẩy ra ở đâu đâu chứ không phải trong trại giam này.

Nhưng vì lý do gì Trưởng toán 15 đang đi làm củi trong rừng chỉ huy mấy chục tù nhân, lại bỏ trốn? Trong toán đi làm củi có tay chân, có đồng chí của anh ta, phụ giúp một cách gián tiếp hay trực tiếp không? Dù sao, phải quá một tuần lễ mà không bị bắt trở lại, tù nhân mới có phần nào hy vọng thoát. Lệ thường, chỉ hai, ba ngày tù nhân trốn trại quay đầu về trại giam vì lý do này hay vì lý do khác.

Vượt Trại Đầm Đùn, người tù đã đem tính mệnh ra đánh một tiếng bạc, thua tiếng bạc đó, coi như kết liễu luôn đời mình. Mà thua tiếng bạc là cái chắc vì cái may chỉ bằng một phần mười cái rủi: Chín cửa tử, một cửa sinh! Họ đặt vấn đề như vậy khi tính toán vượt ngục.

Tin tù mới trốn trong khi đi làm củi ở rừng đã lan đến trại giam tù nhân Pháp. Mấy anh tù mắt biếc mũi lõ nhìn sang phía trại Việt mà mỉm cười để tỏ sự thích thú cảm phục và đồng lõa trên phương diện nguyên tắc. Vì từ khi có Trại giam Đầm Đùn đến giờ, chưa có tù nhân Pháp nào dám vượt ngục.

Hôm nay, Toàn được may mắn làm việc trong trại. Buổi sáng tưới cây, gánh nước đổ vào ruộng rau muống, buổi chiều xếp dọn cho gọn ghẽ vựa củi. Nghĩa là công việc tương đối nhẹ so với việc đi cày, đi cuốc đất, vào rừng làm củi hay vất vả hơn nữa, vào rừng làm than. Tuyên, Mạnh và ông già tóc bạc xay lúa chiều hôm qua không được may mắn như Toàn, đã đi làm củi rồi.

Công việc làm củi rất nặng nề, nhất là đối với những người bệnh hoạn, yếu đuối già cả như ông già tóc bạc nọ. Vậy mà sau bữa cơm sáng của tù nhân, nhân viên ban Quản-trị xuống trại, tập trung tù nhân lại thành hàng, rồi hỏi:

– Tổ Sản xuất Tiết kiệm cần thêm 10 người làm củi ngày hôm nay. Trại viên nào “xin” xung phong?

Tiếng nhao nhao nổi lên rồi những cánh tay giơ cao. Nhân viên ban Quản-trị liếc nhìn tổng quát một lượt, đứng né sang một bên, cánh tay chỉ lên trời hơi nghiêng về phía trước. Chừng chín, mười người nhanh nhẹn tách khỏi hàng ngũ, sắp thành một tốp trước mặt viên giám thị. Kiểm điểm lại có Tuyên, Mạnh và ông già ốm yếu tóc bạc cùng mấy tù nhân khác. Trong trại giam chỉ thiếu người, thiếu thiện chí chứ không thiếu công việc.

Một bọn hơn bốn chục người do Trưởng ngành Củi dẫn ra cổng để vào rừng. Mỗi người có một con dao rừng và 2 người chung nhau một chiếc rìu, loại rìu đốn cây trên rừng do ban thợ rèn của Trại giam chế tạo. Tù sẽ phải đổ mồ hôi trong rừng, đến xế chiều mới trở về trại với cái kết quả cụ thể họ sẽ gánh trên vai. Củi này mang về trại, xếp thứ tự vào một khu, một phần dùng vào việc đun nấu cho Trại giam. Còn phần khác, Tổ Sản xuất Tiết kiệm sẽ trao cho các hợp tác xã, cho mậu dịch, để bán lại cho dân chúng tiêu thụ hay chuyển nhượng cho các cơ quan quân sự và dân sự.

Công việc đẵn củi sẽ làm từ sáng cho tới chiều được nghỉ giải lao khoảng 2 tiếng đồng hồ vào buổi trưa. Giờ nghỉ, tù nhân có thể ngủ, tắm rửa ở suối, hoặc kiếm những trái cây ăn được như sim, ổi, chuối, muỗm…ăn lén cho đỡ đói. Hoặc nếu có hoàn cảnh, họ sẽ tìm bắt thú rừng làm thịt để đánh chén, chuột rừng, sóc, rắn…Nhưng phải coi chừng giám thị.

Như thế, ta thấy tù nhân lao tác ngoài trại được tự do hơn. Vừa làm vừa nghỉ tùy ý, miễn là lúc kiểm điểm công tác trước khi về trại, tù nhân đã làm đầy đủ bổn phận theo tiêu chuẩn ban Quản-trị ấn định là được rồi. Những người làm củi phải gánh một số lượng củi tối thiểu là 50 ký lô trên khoảng đường dài 12 cây số. Ngoài ra, còn phải làm sẵn một gánh củi lưu lại trong rừng.

Vào đến rừng, tù nhân quây quần đốn cây trong một khu dưới sự trông coi của một giám thị, hay cảnh vệ võ trang súng trường có cắm lưỡi lê. Có hai lý do buộc tù nhân làm việc gần nhau: để tiện việc kiểm soát cho giám thị và đề phòng hổ, báo, trăn…là những thú rừng có thể xuất hiện bất chợt bắt người ăn thịt mà không kể con mồi gầy ốm hay béo tốt.

Từ trại đến khu rừng làm củi, đi mất hai tiếng rưỡi. Nên khi tù bắt tay vào làm việc, mặt trời đã lên cao, phải làm gấp mới kịp. Tù nhân có thể riêng rẽ lựa cây, đốn ngã rồi chặt ra từng khúc dài một thước, chẻ nhỏ ra rồi cột làm hai bó bằng song rừng hay dây nâu, đường kính mỗi bó tối thiểu là bốn mươi phân. Muốn tiện việc hơn, họ thường lựa những cành cây bằng cổ tay, chặt dài một thước. Rồi họ kiếm một cành cây vừa vặn làm đòn gánh, vạt nhọn hai đầu đòn, xiên ngập vào hai bó củi gánh về. Còn gánh củi làm sẵn sẽ có người tới gánh sau.

Nhưng tù nhân lại cũng có thể liên hiệp với nhau, hai ba người hoặc bốn năm người một bọn, để chung sức hạ một cây lớn có khi tay ôm, rồi chia ra từng phần, mỗi người làm phần của mình miễn sao cho đủ số lượng 2 gánh bắt buộc là được.

Một trong những tốp đẵn củi hôm nay gồm bốn người, ba người mà bạn đọc đã nghe nói đến là Mạnh, Tuyên, ông già tóc bạc ốm yếu và người thứ tư tên Thanh, tuổi gần bốn mươi, tương đối vạm vỡ và có vẻ giang hồ từng trải nhất. Tuy không thân với Thanh nhưng cả ba người kia đều có cảm tình, vì Thanh tính tình vui vẻ, chuyện trò cởi mở tuy cười nói có chừng mực, ít khi to tiếng với anh em. Thanh vào Trại Đầm Đùn đã hơn năm nay – theo như anh kể với anh em nhân một bữa đi rừng- khi còn ở “ngoài đời” làm thơ máy xe lửa. Trong bốn người cùng bọn, anh là người sức lực và nhanh nhẹn nhất, hơn Mạnh và Tuyên nhiều. Cái đó cũng dễ hiểu khi ta biết Mạnh là con một tiểu điền chủ nghĩa là thuộc giai cấp tiểu tư sản thôn quê, quanh năm ăn chơi “chỉ tay năm ngón” sai người làm, chứ trên thực tế không trực tiếp bắt tay làm công việc cày sâu cuốc bẫm bao giờ. Còn Tuyên vốn là một công tử phong lưu trước kia, nhờ có tiền bạc mà chẳng khi nào cần đến sức mạnh của bắp thịt.

Cả bốn người lựa cây rồi đồng ý hạ một cây soan mọc lẻ loi gần chân núi, cách xa chỗ làm của mọi người đến trăm thước. Nhưng, giữa hai nơi làm việc, cây cối khá quang đãng, sự canh phòng và kiểm soát của người cảnh vệ không bị cản trở.

Mạnh bàn với mấy người cùng tốp “hạ” cây soan bằng một giọng thành thực:

– Chúng ta làm riêng tại một chỗ như thế này, càng tự nhiên và dễ nói chuyện “bù khú” với nhau hơn.

Thanh nhìn Mạnh thoáng vẻ nghi ngờ, suy nghĩ giây lát rồi nói một cách tự nhiên:

– Phải rồi! Làm riêng ở một chỗ thì tự do hơn, không bị nhòm ngó, miễn sao ta xong công việc trước giờ làm là được.

Rồi anh cười như dò xét ý tứ của Tuyên và Mạnh:

– Nhưng chúng ta có điều gì bí mật đâu?

Thật ra, Thanh là một trong số tù nhân bị ban Quản-trị trại theo dõi nhiều nhất. Cơm ăn trong tù thiếu thốn, việc làm khổ cực như thế mà Thanh vẫn cứ mạnh khỏe như thường. Và không mấy khi tỏ vẻ rầu rĩ nhớ nhà, nhớ vợ con nhất là nhớ cuộc đời tự do bên ngoài. Thanh là phần tử “bất cần” hay y đang “có nhiệm vụ” gì trong trại giam nên không rầu rĩ?

Mạnh cười xòa nhắc lại một câu thường nói trong các buổi học tập như con vẹt:

– Chúng ta đã vào đây còn có điều gì là “bí mật” nữa? Chỉ mong sớm giác ngộ, tiến bộ, tẩy não cho sạch những tư tưởng lạc hậu phản cách mạng, để sớm được nhân dân tha thứ…

Ông già tóc bạc nghe đến đây chừng nóng ruột, ngước nhìn lên trời cao mà thở dài:

– Thôi, anh em chúng ta bắt tay vào việc đi kẻo nắng sắp đứng bóng rồi.

Mọi người như chợt nhận ra, lăng xăng bắt tay vào việc.

Cây soan khá lớn, đường kính dưới gốc tới bốn mươi phân.

Để bắt đầu, Tuyên và mạnh leo lên trên cao, chặt bớt những cành lớn, những chạc ba trong khi Thanh chặt ướm vào gốc cây.

Ngồi trên cành cao, Mạnh chặt ít nhát dao rồi nhân lúc nghỉ tay, lơ đãng nhìn bốn phía. Càng sâu vào trong núi, rừng càng rậm rạp, vắng lặng không một bóng người. Phía dưới thung lũng, con đường mòn ngoằn ngoèo khi ẩn khi hiện sau những tảng đá, bụi cây, dẫn đến những nhà sàn lênh khênh đứng rải rác của dân sơn cước. Vài con trâu đang gặm cỏ ở thung lũng.

Trong làn không khí u tịch như vậy, chỉ nghe những tiếng rìu, tiếng dao chặt cây chan chát, lúc khoan, lúc mau. Thỉnh thoảng những tiếng “quát” báo hiệu đề phòng rồi tiếng cành cây gẫy răng rắc, rớt trên mặt đất rào rào. Tiếp sau là những tiếng hò reo mừng rỡ, tiếng gọi nhau oang oang dội vào tận vách núi.

Tiếng rìu chặt “bốp…chát” không ngừng nghỉ. Ai nấy đều hối hả làm việc. Chặt hết cành, Tuyên và Mạnh tuột xuống đất tiếp tay Thanh đốn gốc để hạ nằm cây soan xuống. Ông già tóc bạc ra suối mài lưỡi rìu xong đưa cho Thanh.

Thanh vuốt mồ hôi đầm đìa trên mặt, chậm rãi bảo ông già:

– Ông ra suối mài lưỡi dao này, lát nữa tôi nghỉ ông sẽ tiếp tay chặt gốc cho mau đứt.

Ông già tóc bạc xách dao ra bờ suối, kiếm một tảng đá nhấp nhô trên mặt nước ngồi xuống, lừng lững mài…Thỉnh thoảng ông cầm lưỡi dao lên, lấy đầu ngón tay đưa ngang qua lưỡi để thử…đầu óc ông lưởng vưởng những chuyện đau buồn xẩy ra cho ông hồi gần đây.

Máu chẩy rươm rướm theo nếp nhăn ở cổ chân từ lúc nào mà ông không biết. Mấy ngày trước, còn phải đeo xiềng ở cả hai chân, cạnh khoen sắt cọ vào làm xây xát da rồi lở loét vì không có điều kiện giữ gìn sạch sẽ, nay gặp lúc trời vào tiết mạnh Đông, gió hanh thổi, da dẻ khô nẻ nên bật máu tươi, xót quá sức. Ông già vừa đau cổ chân vừa bực mình, lại cám cảnh cho thân phận, tiện tay tạt nước ở suối lên cho trôi những vệt máu, chẳng cần biết nước suối độc có thể gây tai hại ghê gớm cho vết thương.

Rồi ông tập tễnh xách dao mới mài đưa cho Thanh đổi lấy chiếc rìu, tiếp tay đốn gốc cây như điên như khùng. Bao nhiêu nỗi tức giận buồn phiền trong lòng ông bỗng nhiên phát ra và biến thành những nhát rìu chặt chan chát vào gốc cây, những mảnh gỗ vụn văng tứ phía. Chẳng mấy lúc, ông già đã chặt đứt được thêm quá nửa gang tay. Chừng như ông đã thấm mệt nên rìu “phạt” vào gốc cây không còn được chắc tay nữa.

Nhưng ông già vừa thở hổn hển vừa vung rìu chặt lấy chặt để, hình như ông muốn hoạt động mê man cho đầu óc khỏi có thì giờ nghĩ đến bất cứ chuyện gì khác.

Thanh, Tuyên và Mạnh đều nhận thấy có điểm bất thường trong cử chỉ và hành động của ông già, tò mò đưa mắt nhìn nhau. Thấy tay rìu của ông già lật bật không còn vững vàng, sợ rìu sút khỏi tay có thể gây tai nạn cho người làm bên cạnh, cả Thanh lẫn Mạnh đều ngỏ lời can ngăn:

– Thôi, ông già hãy nghỉ một lát, chúng tôi tiếp tay cho…

Ông già tóc bạc như bừng tỉnh, nhìn hai người như tỏ vẻ cảm ơn một cách buồn bã. Rồi ông lững thững đến ngồi dựa lưng vào một gốc cây gần đó mà hổn hển, hai đầu xương bả vai nhô lên thụt xuống theo nhịp thở…

Ông già vừa mệt mỏi chán nản, vừa lo cho những ngày sắp tới. Chế độ giam cầm trong Trại giam Cộng Sản cay nghiệt như vậy, chắc chắn ông không còn sống được bao lâu nữa. Ông biết làm củi ở rừng là công việc nặng nhọc nhưng làm việc khác trong trại cũng chẳng nhẹ hơn gì. Mà không chịu làm việc hăng hái như mọi người, hoặc lẩn tránh công việc, tù nhân sẽ bị trừng phạt, xiềng cả hai chân, nằm trên giường và “được” giám thị mắng, chửi một cách mát mẻ, trước khi bắt thọ hình phạt thật nhẹ mà giết người một cách chắc chắn.

– Anh không chịu làm việc hả? Anh muốn “làm vua” phải không? Vậy thì cho anh được làm vua, không phải mó tay vào việc gì ngoài việc ăn và ngồi chơi.

Đúng, viên giám thị nói đúng. Tù nhân không chịu xung phong hay cố gắng thi đua một tháng tối thiểu mười lần sẽ được ngồi chơi hoàn toàn nhưng bị xiềng và cùm luôn, mỗi bữa được lưng chén cơm ăn với muối, không được uống nước cho tới khi gần chết khát! Như thế chẳng bao lâu anh tù làm biếng bị phù lên mà chết. Ngược lại, có người không chịu làm việc, bị phạt cuốc hai sào đất ngoài nắng suốt 12 tiếng đồng hồ một ngày, một người cầm roi song rừng đứng canh chừng bên cạnh, cứ thấy anh tù ngơi cuốc là vụt túi bụi không tiếc tay. Phải công nhận cách chữa bệnh lười của Trại Đầm Đùn thật là hiệu nghiệm. Người lỳ lợm đến đâu cũng khỏi bệnh trừ phi nhất định tìm cái chết để giải thoát mọi sự.

Ông già tóc bạc không muốn làm “vua” nên khi Tổ Sản xuất Tiết kiệm cần người làm củi, ông xung phong liền. Nhưng ông còn mục đích thực hiện một ý định tối hậu.

Trong khi một người chặt cành, hai người chặt gốc. Chẳng mấy chốc, chỉ còn một thân cây đứng thẳng trụi hết cành lá. Ông già đã bớt mệt, chạy lại tiếp tay. Thanh lẳng lặng leo lên ngồi trên một hòn đá cao, phanh ngực áo cho bớt nực. Mạnh đang chặt gốc bỗng chống rìu xuống đất, xòe hai bàn tay ửng đỏ, nhổ nước miếng vào lòng bàn tay, xoa xoa hai tay vào nhau rồi cầm rìu tiếp tục chặt chan chát. Hai bàn tay của Mạnh đã rát như phải bỏng.

Tuyên sắp sửa vào đốn tiếp gốc cây, bỗng có người la lớn:

– Coi chừng! Cây đổ! Cây đổ!

Tuyên vừa chạy ra ngoài tầm thì cây đổ rầm. Mấy cái miệng cùng reo mừng, nhưng không ai để ý đến sự vắng mặt của Thanh.

Bây giờ là lúc chia thân cây thành từng khúc rồi chẻ ra từng thanh nhỏ bằng cánh tay.

Đến lúc nghỉ giải lao, mỗi người chẻ được chừng một bó. Người nào thường làm củi và có sức lực làm được một bó rưỡi. Tới giờ phút này, ai nấy đều mệt mỏi rã rời và đói. Nhất là khát.

Người mang theo ống nứa đựng nước thì có sẵn nước để giải khát, có người xin phép lính đến nhà thổ dân gần đấy kiếm miếng nước. Người lười và liều chép miệng ra suối kiếm quãng nước sâu, bụm tay lại vốc lên mà uống đỡ trước khi rửa mặt mũi tay chân hay tắm rửa.

Mọi người đói bụng như cào, nhưng không ai dám lên tiếng phàn nàn. Đành là kiếm chỗ, rải lá cây ra nằm nghỉ lưng chốc lát. Nếu có thể, chợp mắt đi một lúc để…thay ăn. Trong nhiều trường hợp, ngủ cũng bồi bổ sức lực như ăn vậy!

Thanh đã trở về nhập bọn từ nay sau khi vắng mặt một lát. Không ai hỏi nhưng anh ta cũng nói cho biết anh ta kiếm chỗ tống những chất thừa trong bụng ra ngoài.

Nhiều người nằm ngổn ngang ngay bên thân cây bị đốn, úp nón hoặc lá cây lên mặt cho khỏi chói mắt. Họ cố chợp mắt một lát, lấy lại sức khỏe.

Mạnh gối đầu lên một cành cây nhẵn nhụi cố chợp mắt mà không được. Vì đói…Anh khẽ nhấc cao mép nón nhìn trộm Tuyên nằm bên cạnh. Tuyên đang ngủ, hơi thở đều đều. Mạnh nhổm người lên nhìn về phía người lính cảnh vệ ngồi trên một tảng đá, tay nắm cây súng dựng đứng trước mặt, vẻ mệt mỏi đờ đẫn như người đang ngủ gật. Một người ăn bận lành lặn ngồi gần đấy, dựa lưng vào vách đá. Đó là trưởng ngành củi trong Tổ Sản xuất và Tiết kiệm của Trại Đầm Đùn.

Mạnh nhẹ nhàng đứng lên, dáng điệu rất tự nhiên, nhưng cố ý bước thật lẹ cho khỏi gây tiếng động, len lén vòng ra sau bụi cây gần đó rồi ngồi xổm xuống…

Qua khe lá, anh nhìn kỹ một lượt nữa. Không có gì đáng ngại. Mạnh cúi rạp xuống chạy thật mau về phia trước rồi quẹo tay trái. Nơi này có con suối róc rách chảy. Nhưng mục tiêu anh định tới không phải là con suối mà là một ruộng mía tươi tốt. Hồi sáng, khi leo lên cây soan chặt cành, anh đã thấy những cây mía màu nâu tím giữa đám lá xanh. Thế là nước miếng cứ nhểu ra vì anh thèm chất ngọt quá. Được ăn một tấm mía thì “đã” biết chừng nào! Anh bèn nẩy ra một ý định. Tuy biết là nguy hiểm nhưng bị sự thèm khát thúc đẩy, anh nhất định liều.

Luật lệ trại giam thật nghiêm khắc nhất là đối với những vụ ăn trộm, ăn cắp trong và ngoài trại. Người phạm tội bị cùm liền. Xâm phạm tài sản của người khác là phạm quan điểm của nhân dân. Nhưng trường hợp nhân viên ban Quản-trị trại giam xâm phạm tiền bạc, vật dụng của người bị bắt giam lại là chuyện khác, có lẽ vì dưới nhãn quan của ban Quản-trị, người tù không còn tư cách pháp nhân của con người nữa?

Mạnh ngồi thụp xuống bên một khóm mía, nhìn khắp chung quanh thật kỹ một lần nữa, ánh mắt loang loáng thèm muốn và hung tợn tột độ, bất cứ người nào trông thấy cũng phải rùng mình khiếp hãi. Bàn tay anh vươn ra nắm ngang thân cây mía bẻ gập xuống thật mạnh. Một tiếng “rắc”, thân cây mía gẫy rời đến gốc. Mạnh bẻ luôn một khúc bằng cánh tay, phần còn lại anh cắm xuống đất. Cây mía mới “trồng” tuy có ngắn đi nhưng không mất vẻ tự nhiên, dễ gì ai nhận ra ngay. Mạnh chạy vào quá trong vách đá xa ruộng mía, nấp sau một bụi cây rậm rạp rồi lật đật đưa tấm mía vào miệng tước vỏ rất nhanh, vừa tước vừa vun vỏ lại thành đống dưới đất, dùng bàn chân ngoáy đất thành một lỗ khá sâu, gạt vỏ mía xuống, hất đất lấp kín rồi dẫm chân lên trên xóa hết dấu vết vỏ mía, nghĩa là xóa hết dấu vết tội lỗi.

Những khẩu mía đầu tiên, Mạnh vừa nhai rập vừa nuốt nước quá vội, suýt hóc mấy lần. Nước mía ngọt thật là ngọt! Mạnh tỉnh người như vừa chích một thứ thuốc thần hiệu. Nuốt không kịp, nước mía ngọt sánh chẩy lòng thòng xuống cằm. Mạnh đưa tay gạt ngang vụng về như một đứa trẻ. Thoáng trong mấy phút, Mạnh đã nhai hết đẵn mía. Lần thứ hai, anh cẩn thận vun bã lấy tay đào lỗ, vun đất đắp kín. Dấu vết ăn trộm hủy hết. Mạnh trở lại làm người lương thiện. Anh thở dài nhè nhẹ, nghĩ thầm: Thoát!

Thản nhiên như không, anh thong thả bước ra khỏi ruộng. Bỗng Mạnh giật mình, thiếu chút nữa la lên một tiếng kinh hãi. Vì trước mặt anh, một người đứng sừng sững từ lúc nào. Vừa rồi trong khi ăn trộm mía, Mạnh vẫn lắng tai nghe động tĩnh, giương hai mắt trông mà không nhận ra có người đang rình mình.

Nhưng cũng còn may vì người ấy là…Tuyên!

Tuyên đứng sau tảng đá lớn nhìn anh mà cười gượng. Nụ cười của Tuyên thật khó hiểu. Tuyên muốn gì đây? Chẳng có lẽ Tuyên lại định hại mình, đi báo cáo với Trưởng ngành hay người lính có súng? Nếu sắp bị tố cáo, Mạnh chỉ còn một cách. Thớ thịt trên mặt Mạnh thốt nhiên đanh lại như bằng thép. Mạnh không khỏe gì nhưng đủ sức…hủy diệt một người vào cỡ Tuyên. Tuyên vẫn giữ nụ cười gượng trên môi, rất buồn, sau chừng sợ Mạnh hiểu lầm, Tuyên chậm rãi nói:

– Tôi định rủ anh thì anh đã ra đây trước rồi. Vậy bây giờ anh coi dùm tôi. Tôi thèm chất ngọt quá nên cũng đành liều…

Nét mặt Mạnh dịu hẳn xuống. Như bạn thân chiều nhau, Mạnh đứng vào giữa hai khe đá, trông chừng phía trước trong khi Tuyên thoăn thoắt len lỏi vào tận giữa ruộng, nhổ một cây mía đến gốc như Mạnh làm hồi nãy, rồi đưa lên đầu gối bẻ một khúc, cắm cây mía còn lại xuống đất, chúi vào sau một bụi rậm mà tước và nhai rau ráu như heo rừng. Tuyên mới nhai được mươi khẩu, Mạnh đã sốt ruột, quay lại giục:

– Mau lên, kẻo đi lâu quá rồi!

Tuyên cố nhá thêm một khẩu nữa rồi đành cắm khúc mía đang ăn xuống đất cho ngập hẳn, lấp đất kín, chùi kỹ mồm mép hai ba lần, thong thả bước sau Mạnh trở về, trong lòng hãy còn tiếc rẻ và hồi hộp.

Những người tù vẫn nằm la liệt như lúc nãy. Mạnh yên trí liếc mắt nhìn Tuyên thoáng mỉm cười. Lúc nằm xuống bên cạnh ông già tóc bạc, nghe có tiếng hỏi, phào phào như người ốm nặng sắp chết:

– Chú đi đâu về đấy?

Mạnh giật mình. Thì ra ông già tóc bạc vẫn thức nhưng nằm yên nên Mạnh tưởng ông ta ngủ. Anh chưa biết trả lời thế nào cho tiện, ông già đã quay sang hỏi:

– Đói quá! Trong rừng có kiếm được hoa quả gì ăn cho đỡ đói không?

– Không biết! Nhưng chắc là không có.

– Có ruộng khoai, ruộng sắn nào không?

– Không biết. Nhưng cũng không dám lấy trộm! Nguy hiểm lắm.

Ông già tóc bạc “hừ” một tiếng, buột ra một câu chửi thề rồi nói:

– Như thế này, trước hay sau gì cũng chết…Chi bằng…

Mạnh đoán không ra, ông già lại tiếp:

– Tôi đã nghĩ mãi rồi chú ạ! Không trước thì sau, cũng một lần. Vả lại tôi đã hơn sáu mươi, chả thiết sống nữa…

Mạnh nhìn ông già, thấy hai dòng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt xương xẩu gầy nhom. Mới từ sáng đến giờ, coi ông già gầy tọp hẳn đi, suy nhược rõ rệt. Mạnh lấy làm lạ lùng vì sự biến đổi đó, nhưng sau cho rằng vì ông nằm nên anh trông ra như vậy. Ông già gằn giọng nói một hơi dài:

– Tôi có một việc muốn nhờ chú Tuyên. Tôi già rồi mà lại yếu quá, không biết chết lúc nào! Nhưng chắc chắn chẳng còn bao lâu nữa. Tôi có hai đứa con trai tên là Trại và Đông, Lê văn Trại và Lê văn Đông, người làng Văn Lâm, Tỉnh H.N. Nếu có ngày nào chú trở về gia đình, xin chú cho các cháu Trại và Đông biết tôi chết oan ức như thế nào. Chúng còn sống ngày nào là phải trả thù bằng được những quân tàn ác giết người không gớm tay đã giết cha chúng, một người vô tội đối với luật pháp.

Rồi ông già kể tóm tắt lại những sự việc xẩy ra đã đưa ông đến Trại Đầm Đùn. Nguyên ông là một nông dân có ít nhiều điền sản ở làng Văn Lâm. Trước khi phong trào đấu tố và cách mạng cải cách ruộng đất của VC được phát động, ông đã hiến điền cho Nhà nước cộng sản. Vậy mà Ủy ban Nhân dân xã vẫn không tha, vẫn tìm cách hại ông cho “tuyệt cái giống điền chủ”, ông tức quá không dằn lòng được nữa, nhiếc mắng om xòm nên bị cán bộ bắt đem giam tại Trại Đầm Đùn.

Hai con trai ông đã lớn, đang đêm trốn thoát, một đứa đăng vào quân đội viễn chinh Pháp, một đứa đi lính quốc gia vì không có cách nào hơn, đặng chờ dịp trả thù cho cha.

Ông già kể xong gạt nước mắt, ngồi nhỏm lên. Mặt ông bừng bừng như người uống rượu, những đường gân xanh nổi chằng chịt trên trán, trên cổ. Trong tay, ông cầm một bó dây nâu cuộn tròn. Trong rừng, dây nâu rất dễ kiếm, chỗ nào cũng có. Tù dùng dây này để buộc củi hoặc kéo cây cho đổ khi đã đẵn gần đứt gốc.

Vừa lúc đó, người lính cảnh vệ bỗng đứng lên thổi một tiếng còi dài. Những tù nhân còn nằm nhỏm phắt dậy như có lò xo ở chân. Tiếng gọi nhau, tiếng nói, tiếng rìu chan chát lại nổi lên, phá tan cái yên lặng của khoảng rừng ở chân núi.

Mọi người hăng hái tiếp tục làm mau tay để về Trại cho kịp giờ.

Một lúc lâu, công việc đã gần xong, vẫn không thấy ông già tóc bạc đâu, Mạnh bàn với Tuyên:

– Tôi ngờ ông già có thể “làm liều” vì không chịu đựng nổi.

“Làm liều” như Mạnh nói có nghĩa là thắt cổ tự vẫn. Đối với ban Quản-trị trại, những trường hợp tự tử trên không có gì quan trọng. Người lính có phận sự đi canh tù vào rừng làm củi, khi có người tự tử, lại tận nơi chứng kiến rồi làm báo cáo lên ban Quản-trị, ban Quản-trị làm xong thủ tục, xóa đi một con số, một khẩu phần ăn, tư giấy xuống nhà bếp giảm đi một xuất gạo, một xuất thức ăn. Thế là xong.

Tuyên ngừng tay rìu, lặng thinh suy nghĩ. Ông già giải quyết những ngày tàn của ông như vậy là phải. Nếu có khi cần phải can đảm để sống thì nhiều khi cần rất nhiều can đảm để chết. Chết còn có ý nghĩa giải thoát chứ sống trong Trại Đầm Đùn thì khó lòng hy vọng có ngày trở về với cuộc đời bình thường, nhất là đối với tù nhân già cả. Chỉ một chứng bệnh bất ngờ, một hai lần đại tiện, tiểu tiện ra máu, một hai cơn sốt rét mê man là “đi đứt luôn”.

Chờ đến xế chiều, Mạnh, Thanh và Tuyên đều đã buộc xong mỗi người hai bó củi mà vẫn không thấy ông già tóc bạc, bàn nhau phải báo cáo cho người lính hay. Lập tức, người lính xách súng đi kiếm.

Vòng ra xa một quãng, họ thấy xác ông già treo tòn ten ở đầu sợi dây nâu, lưỡi lè dài, mặt sưng phù tím như quả bồ quân. Theo lệnh của cảnh vệ, một người tù leo lên tháo sợi dây.

Xác ông già rớt đánh “bịch” xuống đất, đổ chổng kềnh. Thanh vội tháo thòng lọng ở cổ xác chết. Sau khi khám nghiệm qua loa cho phải phép, người lính viết mươi chữ làm tờ báo cáo lên ban Quản-trị có Trưởng ngành Củi và hai tù nhân ký tên với tư cách nhân chứng.

Mấy người tù xuýt xoa tiếc rẻ khi thấy bộ quần áo của người chết hãy còn lành lặn, sạch sẽ, chưa có miếng vá nào. Nếu không có đông người chứng kiến, chưa chắc ông già khỏi bị lột trần truồng trước khi bị vùi xuống đất. Đành là phải chôn cả quần áo! Mấy người tù rách rưới không ngớt chép miệng tiếc bộ quần áo tốt quá. Tuyệt nhiên không ai tiếc ông già.

Người lính cảnh vệ vào trong nhà dân địa phương mượn cuốc xẻng cho tù đào lỗ.

Mấy người tù đào huyệt sơ sài bỏ xác ông già tóc bạc xuống, lấp đất rồi nói nửa đùa nửa thật, nhưng chưa nói hết câu miệng đã méo xệch:

– Thôi ông già nằm nghỉ ở đây cho khỏe! Và phù hộ cho anh em chúng tôi mạnh chân khỏe tay để làm trả nợ nhân dân!

Không biết là lời nói đùa hay nói thật, nhưng ai nghe cũng thấy thấm thía thương thân mình muốn khóc. Mạnh, Thanh, Tuyên mỗi người nhặt một hòn đất liệng xuống hố.

Đoàn tù lên đường về trại, mỗi người một gánh củi trên vai. Đường về còn dài nhưng chẳng ai muốn nói chuyện. Gánh năm mươi ký củi trên đường núi, lên dốc xuống đèo, đất đỏ trơn như mỡ dưới mưa phùn, thật là khó nhọc. Có người gánh đi băng băng, có người vừa gánh vừa lẩy bẩy xiêu vẹo chỉ chực té.

Nhưng rồi họ cũng về tới trại đủ hết. Chỉ thiếu ông già tóc bạc nằm lại cô độc trong rừng sau khi tìm được cách trút bỏ mọi nỗi đoạn trường.

Chuyện còn được nhắc lại một hai lần trong bữa cơm của tù nhân. Sau đấy, hình ảnh một ông già tóc bạc, gầy yếu xiêu vẹo mới dần dần mất hẳn trong đầu óc mọi người.

—>4

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.