Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

4.

Từ đầu tháng Chạp năm ấy, nhiều chuyện xẩy ra trong Trại giam Đầm Đùn khiến tù nhân bị khủng hoảng tinh thần không ít.

Mỗi ngày, người tù lại có thêm nhiều bằng chứng để hiểu rằng đối với chính thể, những người bị giam giữ ở đây là những phần tử không những vô ích mà còn có hại. Cho nên bớt đi tên tù nào, chính thể trở nên lành mạnh, sạch sẽ thêm bấy nhiêu.

Trời năm đó bỗng rét lạ lùng. Ngày nào cũng có tù nhân chết rét, chết bệnh. Nói cho ngay, những tù nhân này bị sốt rét rừng lại phải lao tác quá sức khi vừa cất cơn bệnh nên không còn sức chịu đựng nổi cái lạnh căm căm từ trong núi rừng lùa ra. Ăn thiếu, không có chất bổ, mặc không đủ ấm, lại bệnh hoạn mà không có thuốc, lúc này nhân cơ thể suy nhược các bệnh phát ra cùng một lúc để mà hành hạ xác thân, tinh thần người tù trước khi cướp luôn đời sống của họ.

Đêm đêm, Toàn nằm trên chõng tre lạnh lẽo, quấn tròn manh chiếu như tổ sâu, buồn nỗi trước, lo nỗi sau, có đêm trằn trọc mãi không dỗ được giấc ngủ mặc dầu cả ngày làm việc quần quật. Anh cũng không thể hiểu nhờ đâu anh có sức làm nổi phần việc của mình hàng ngày: Xay lúa, gánh nước, cuốc đất, chặt củi ở rừng v.v…Anh chưa gánh nước lần nào từ hồi còn nhỏ, chưa cuốc đất, chặt củi ở rừng bao giờ, vậy mà lúc được giao công tác vẫn làm xong kịp giờ. Thật là lạ lùng. Thì ra ở đời, cứ gặp hoàn cảnh bắt buộc phải làm, không làm nổi thì ăn đòn là sẽ làm được như mọi người. Hai chữ “không thể” không có trong một Trại giam Cộng sản. Cách đây vài ngày, Toàn được chứng kiến một sự việc khiến anh chợt tỉnh ngộ và thấy nhận định của mình là đúng.

Bữa đó, có bốn người tù được giao cho công tác khiêng về trại một thân cây lớn bằng hai bắp đùi dài chừng sáu thước, từ một nơi cách trại hơn cây số. Trời mưa, đường trơn như mỡ, gió lạnh thổi từng cơn như cắt da cắt thịt khiến chân tay tê cóng. Bốn người tù da dẻ tím bầm vì lạnh, co ro bên cây gỗ, hè nhau lấy sức ôm cây gỗ đưa lên vai hai ba lần không xong.

Cứ đưa cây gỗ lên đến gần bả vai lại lúng túng để tuột rớt xuống đất. Bốn người tù chia nhau hai người đứng một đầu. Khúc trên vừa đưa được lên vai thì khúc dưới nặng hơn lại tuốt xuống đất khiến hai người tù khiêng khúc trên phải liệng nhanh nếu không, cây gỗ rớt xuống sẽ gây tai nạn. Sau cùng, rán sức đặt được cây gỗ lên vai, nhưng đi được mươi thước họ lại xiêu vẹo, chập choạng làm rớt cây gỗ nặng xuống đất.

giám thị Trại giam đứng đốc thúc tù làm, sầm mặt lại mà không nói. Thốt nhiên, y rút phắt cây roi song rừng vụt túi bụi bất kể vào mặt, mũi bốn người tù, vừa đánh vừa mắng nhiếc là đồ tiểu tư sản, chỉ ăn hại của nhân dân, bóc lột xương máu của đồng bào mà không bao giờ mó tay làm việc gì hết. Đánh nhiếc xong, y chọn trong bốn người một người yếu nhất, ra lệnh đứng ngoài để cho ba người tù còn lại làm công tác khiêng cây về trại.

Chao ôi! Bốn người khiêng còn không nổi thì ba người làm sao nổi. Tuy vậy, trước ngọn roi song rừng và trước khuôn mặt lầm lầm lì lì uống máu người không biết tanh của viên giám thị, họ phải tận lực cố gắng đưa kỳ được cây gỗ lên vai đã, rồi sau đó muốn ra sao thì ra. Nhưng mới đi được một quãng ngắn, một người lẩy bẩy trượt chân vì đường trơn, cây gỗ lại rớt xuống đất, thiếu chút nữa một người bị cây đè gẫy chân.

Tên giám thị cười nhạt một tiếng rợn người, cầm roi chỉ vào một người tù, ra lệnh:

– Thằng kia! Ra đứng ngoài! Còn hai thằng này (y vừa nói vừa chỉ ngọn roi vào hai người còn lại), mỗi thằng khiêng một đầu, khiêng thẳng một mạch về Trại, không được nghỉ. Để tao coi tụi bay có khiêng nổi không?

Y nhếch miệng cười nhạt:

– Nếu không khiêng nổi, bắt đầu từ chiều nay truất phần cơm và nhốt vào xà lim.

Hai người tù còn lại không dám phân trần biện bạch gì hết, lạy van viên giam thị cho phép họ nhờ hai người kia phụ lực nhấc cây gỗ đặt dùm lên vai cho họ khiêng. giám thị lạnh lùng gật đầu cho phép.

Thế là hai người tù kia loạng choạng chập chững trên con đường mòn ướt át và trơn như mỡ, khiêng cây gỗ về đến trại mà…không rớt lần nào.

Nghĩ đến đây, Toàn kết luận:

– Trong trại giam, tù nhân không có quyền nói “không thể” làm nổi.

…Toàn đã quen dần với công việc nhưng vẫn chưa quen được với khẩu phần hạng C. Anh luôn luôn đói, lúc nào cũng đói, ngày đêm chỉ mong được “cải lên” hạng B nghĩa là được ba chén cơm một bữa. Cả tuần nay, anh chờ đợi tin được “cải hạng” mà chưa thấy vân mòng gì hết! Mỗi lần xung phong lấy điểm anh lại hy vọng.

Sáng nay, anh phải khiêng đi chôn một tù nhân bị bệnh rét rừng, nằm chết queo trên giường trong khi mọi người ăn sáng. Tối hôm trước, lúc điểm số, anh tù nọ còn cất được tiếng hô con số “tám chục”. Sau đó, Toàn nghe tiếng rên ư ử như mèo rên, run rẩy rung cả chõng, và tiếng nói như khóc: “xin làm phúc đè lên mình tôi, không tôi chết mất”. Rét quá. Ai nấy đều biết anh nọ đang bị cơn sốt rét rừng hành hạ. Thế rồi, Toàn ngủ thiếp đi, không ngờ rằng cách hai giường một người đang chết.

Sáng sớm tinh sương, sau tiếng kẻng đánh thức, tù nhân trong trại lật đật gấp chiếu, ra tập hợp trước sân để Trưởng toán dẫn đi rửa mặt, rửa các vết thương lở loét, bằng nước của cái ao độc nhất trong trại mà độc giả đã nghe nói đến. Trước khi ra sân, một đồng cảnh tiện tay rờ trán người bệnh, thấy còn hâm hấp sốt, nghĩ thầm một cách chua chát: “Hãy còn nóng, chưa chết” rồi lật đật theo mọi người ra ngoài.

Lúc ăn cơm trong nhà Tiểu Công Nghệ, Trưởng toán sực nhớ đến người tù bệnh bèn sớt ra một lưng cơm để đem vào cho anh này. Một người tù cùng toán có mấy miếng thịt heo rang mặn để ăn dần, bỗng chạnh lòng thương phát tâm cho một miếng thịt ít mỡ nhất giúp người bệnh dễ nuốt miếng cơm. Một người khác sớt cho ít muối mè. Vài sợi rau muống nấu canh với tép riu cũng được gắp vào chén cơm của người bệnh cho thêm ngon lành.

Người bạn tù đặt chén cơm trên trõng, vừa lay vừa khẽ gọi người bệnh tỉnh dậy ăn cơm, rồi đi ra. Chừng như ngủ được một giấc, sức khỏe đã hồi lại, người tù bệnh nặng nhọc ngồi lên, ngơ ngác, rụi mắt cho tỉnh hẳn, run run cầm chén cơm rồi rầu rĩ bốc từng miếng bỏ vào miệng trệu trạo nhai như người mất hồn. Anh ta ăn cơm mà không biết mình đang là gì. Ăn được mấy miếng, bỗng mở mắt trừng trừng: mọi hình ảnh mờ hẳn. Cả bàn tay cầm nắm cơm cũng bị nhòa đi mau chóng, anh bàng hoàng như người sắp bất tỉnh vì một cơn gió độc. Anh ta sợ hãi chớp mắt lia lịa, đến lúc chăm chú nhìn lại, thì mọi hình ảnh lờ mờ đảo lộn quay cuồng giây lát rồi biến hết. Chỉ còn lại một hố sâu tối om quanh chỗ anh ngồi. Người tù cố nhớ đến những hình ảnh thân yêu để tự đánh thức thần trí mình tỉnh lại, nhưng không nỗi. Mọi hình ảnh, mọi ý nghĩ tản mát không tập trung lại được trong đầu óc, người tù bệnh định nói lớn một câu đặng nghe tiếng mình nói. Nhưng cổ họng đã tắc khiến anh ta nghẹt thở và ngã vật xuống. Sau hết, anh ta còn giẫy giụa mấy cái là sô lệch cả manh chiếu và làm rớt xuống đất chiếc gối đẽo bằng gốc tre có quấn là chuối khô gối khỏi đau đầu.

Mười phút sau đó, một tù nhân vào trại ngủ, thu chén đũa ra rửa. Anh này sững sờ khi thấy người bệnh nằm co quắp đè sấp lên chén cơm đổ tung tóe trên giường. Có lẽ người bệnh đã chết. Do phản ứng tự nhiên, anh ta định kêu lên cho mọi người biết nhưng lại ngậm miệng kịp. Còn lưng cơm trong chén và bàn tay người chết vẫn giữ miếng thịt nạc ngon lành không chịu bỏ. Những hình ảnh chết chóc đáng sợ trước mắt biến hết. Anh tù này liếc ra sân, đảo mắt một vòng. Mọi người còn ngồi trong nhà Tiểu Công Nghệ.

Rất điềm tĩnh, không coi cái thây ma vào đâu, anh ta thản nhiên như không, đè ngửa những ngón tay cứng đơ của xác chết, nhặt miếng thịt lên ngắm nghía sơ qua rồi bỏ tọt vào miệng nhai nghiến ngấu. Anh ta bốc thêm một miếng cơm trong chén đưa vào miệng nhai ngon lành, rồi tiện thể nhai luôn miếng cơm thứ hai cho sạch chén. Xong đâu đấy, thấy không còn gì ăn thêm được nữa, anh ta mới lấy giọng hốt hoảng gọi đồng cảnh vào cấp cứu cho cái xác không hồn.

o O o

Rồi thì cả đến sự quan trọng nhất đối với con người là cái chết cũng không có nghĩa gì với Trại giam Đầm Đùn. Ngày tháng lạnh trôi qua trên đói khổ và nước mắt của đám nạn nhân của chế độ.

Chẳng bao lâu đã gần tới 23 tháng chạp, ngày ông Táo chầu Trời.

Lòng người tù tưởng như đã chai đá, dè đâu còn thấy nôn nao. Tết Nguyên Đán sắp tới, đem lại hy vọng vu vơ cho bọn người tuyệt vọng.

Từ mấy hôm nay, trại giam có vẻ tấp nập, vui vui như có luồng sinh khí mới thổi qua trại. Ngoài những giờ làm việc và buổi tối sau giờ học tập đều đặn như máy, tư tưởng theo chiều ấn định, tù nhân có một tiếng đồng hồ rảnh rỗi đánh cờ hay ngồi nói chuyện bù khú với nhau. Mọi người lại hướng về chuyện Tết sắp tới.

Thật ra, từ hai hôm nay, ban Quản-trị trại đã phổ biến một thông cáo cho biết trong dịp Tết Nguyên Đán sắp tới, ban Quản-trị sẽ tổ chức một chương trình văn nghệ có diễn kịch cho tù nhân coi vào đêm giao thừa. Và cũng nhân dịp năm mới, nhờ lượng khoan hồng của “Hồ Chủ Tịch”, một số tù nhân giác ngộ được “cải hạng” nghĩa là sẽ được tăng khẩu phần ăn thêm một chén cơm mỗi bữa. Đỡ đói! Đỡ khổ! Tù nhân mừng biết chừng nào!

Ngoài ra, cũng theo thông cáo, trước khi khai mạc đại hội sẽ có một buổi học tập của toàn thể tù nhân về đề tài: Tết đến, nhớ ơn Hồ Chủ Tịch khoan hồng, trại viên ăn đủ no, không cần đến đồ tiếp tế của thực dân Pháp.

Muốn hiểu rõ đề tài học tập do ban Quản-trị trại giam đưa ra, tưởng nên kể qua những sự việc đã xảy ra trong một tháng trước, nhân ngày Lễ Giáng Sinh.

Trước Lễ Giáng Sinh vài ngày, tù nhân trong trại giam, những người tinh ý hoặc có kinh nghiệm đều nhận thấy có sự khác thường. Một số du kích quân không biết từ đâu tới đóng tại một địa điểm ngụy trang ở gần chân núi cách trại giam gần một cây số. Bên trong, cũng có một tiểu đội du kích quân tăng cường, luân phiên nhau đi tuần tiểu khắp trại. Những nhân viên ban Quản-trị trại được võ trang súng, lựu đạn, cũng xuống hết dưới trại canh chừng như đề phòng những chuyện bất ngờ.

Những tù nhân Việt có kinh nghiệm, kín đáo ngó sang trại giam lính và thường dân Pháp. Từ giữa trưa ngày 23 tháng chạp dương lịch, tất cả tù nhân Pháp được nghỉ ngơi nhưng bắt buộc vào ngồi bên trong căn trại, không được đi lại ngoài sân như những ngày nghỉ khác. Cả tù nhân Việt cũng tuyệt đối bị cấm ra sân nếu không được giám thị đặc biệt cho phép.

Dù sao, Lễ Giáng Sinh tới cũng là một nguồn an ủi lớn cho tinh thần tù nhân Pháp và những người theo Thiên Chúa Giáo bị giam tại Trại Đầm Đùn.

Chiều ngày 23 tháng 12, tù nhân bỗng nghe tiếng phi cơ trực thăng bay ầm ầm rất thấp, rồi liền sau đó lượn ầm ầm ngay trên không trại giam. Một số tù nhân Việt ngơ ngác nhìn nhau, hoang mang không hiểu chuyện chi sắp xảy ra mà các giám thị lộ vẻ xúc động, luôn luôn theo dõi coi chừng, không cho tù nhân bén mảng ra gần hiên. Nghĩa là họ cấm tù nhân ngó lên trời nhìn hai chiếc trực thăng của phe địch đang bay lượn cách mặt đất chừng trăm thước mà không gây phản ứng chi hết về phía lực lượng nhân dân. Những lần khác, khi có phi cơ bay gần như thế, luôn luôn có tiếng súng ở dưới bắn lên liền, cả súng lớn lẫn súng nhỏ, nhưng phần nhiều là súng trường của du kích quân và súng liên thanh của quân chính quy.

Về sau, tù nhân mới vỡ nhẽ ra rằng đó là hai phi cơ trực thăng của Hội Hồng Thập Tự quốc tế chở quà đến tặng tù nhân Việt Nam ở trại này. Phi cơ trực thăng của Hội Hồng Thập Tự quốc tế lượn phành phạch trên bãi cỏ trong trại giam và thả dù hằng trăm phần quà đựng trong các bao ny lông, bên ngoài có ghi hàng chữ thật cảm động: “Thân tặng các bạn bị cầm tù vì chiến cuộc”.

Quà Giáng Sinh đại loại gồm thực phẩm như sữa hộp, cà phê, đường, kẹo, mức, bánh mặn và ngọt v.v…Ngoài ra, lại còn các tặng phẩm gồm quần áo len và dạ, xà bông dao cạo râu, thuốc cảm sốt, thuốc ký ninh v.v…nghĩa là những thức ăn và vật dụng cần thiết mà tù binh Pháp rất thiếu thốn và thèm thuồng.

Trực thăng bay đi sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Lúc đó, các nhân viên trong ban Quản-trị và các du kích quân mới hối hả đi thu lượm các gói tặng phẩm đã được thả dù xuống, để kiểm soát lại từng gói kỹ càng trước khi phân phát. Vì nhiều lý do khác nhau, tù nhân Pháp được hưởng gần đầy đủ số tặng phẩm Giáng Sinh. Mấy hôm kế tiếp ngày lễ trọng đó, họ lộ vẻ thỏa mãn ra mặt, và âm thầm tiếc rẻ những ngày vàng son sung sướng của thời thực dân oanh liệt.

Như trên đã nói, trước đó mươi ngày, có những buổi học tập để hướng dẫn thái độ của tù nhân Việt đối với hành động “giả dối”, chỉ có tính cách tuyên truyền của Hội Hồng Thập Tự quốc tế. Trong buổi học tập, để tỏ ra mình đã thấm nhuần chính sách của Nhà nước, có tinh thần tự lập, tư tưởng tiến bộ, tù nhân nhất loạt phát biểu ý kiến không thèm dùng những đồ viện trợ của thực dân bóc lột v.v…

Thế là ban Quản-trị trại giam buộc lòng phải thu thập các tặng phẩm…vô giá trị của Hội Hồng Thập Tự quốc tế, để…chia nhau dùng tạm, hoặc bán hoặc mang đi đâu không ai biết. Có một lần độc nhất, không biết vì lý do gì, ban Quản-trị cho tù nhân Việt được uống mỗi người một chén sữa để chứng minh rằng sữa của thực dân không có mùi vị, chẳng ra cái quái gì hết. Thật ra, người ta đã pha hai hộp sữa đặc vào một chảo lớn nước (chảo vẫn dùng để nấu cơm cho mấy chục người tù ăn mỗi bữa) khiến mầu sữa chỉ còn hơi thờ nhờ trắng như màu nước xà bông loãng.

Ấy vậy mà tù nhân còn khen lấy khen để rằng sữa thơm ngon quá, cứ một tháng được hai chén sữa như vậy cũng đủ bồi bổ sức khỏe biết bao nhiêu. May thay, lời khen lạc hậu mất lập trường đó không lọt vào tai các chức việc có nhiệm vụ tẩy não tù nhân.

Sau Lễ Giáng Sinh, chẳng mấy ngày lại sắp đến Tết Nguyên Đán âm lịch. Ngày 23 tháng chạp âm lịch năm ấy trúng vào ngày Chủ Nhật.

Buổi sáng, sau khi làm lễ chào cờ, mọi người được nghỉ ngơi hoặc làm một vài công tác tập thể nhẹ nhàng như quét sân, quét vườn, dọn dẹp vệ sinh nhà tiêu, giặt giũ quần áo và chiếu nằm, lau chùi hoặc mở cuộc tổng tấn công chấy, rận, rệp v.v…

Xong những công việc trên, tù nhân tụ tập ngồi ngoài sân, sưởi nắng cho ấm, vừa chuyện trò vừa khâu vá quần áo rách bằng những mụn hoặc mảnh quần áo cũ để dành hay đổi chác được.

Lệ thường, mỗi tù nhân được phát một kim khâu để dùng trong hai tháng và mỗi tuần lễ, vào ngày Chủ Nhật, được phát năm thước chỉ đen để khâu vá tùy theo nhu cầu. Năm thước chỉ sợi mà quý như chỉ bằng vàng, không có chỉ quần áo sẽ rất khó coi vì rách.

Toàn cũng đem quần đùi ra khâu lại đũng, quần này nguyên màu trắng nay đã trở thành màu cháo lòng, sợi vải đã mòn xác xơ, không biết sẽ “tét ra” lúc nào. Anh rất ý tứ khi ngồi, cố giữ cho quần lâu rách. Sau khi nghĩ ngợi rất lung, Toàn quyết định hai việc quan trọng. Một là đắp thêm hai miếng vải cũ lên hai bên mòng quân. Hai là cắt hai ống quần dài ra may thành một quần xà lỏn đặng có đồ thay đổi. Nhân tháng trước, có một tù nhân được phóng thích về quê ở Hải Dương, Toàn năn nỉ van người này mang tay dùm một bức thư về cho gia đình anh ở cùng tỉnh. Trong thư, có một câu dặn dò cần thiết nhất: bảo vợ con rán tiếp tế cho anh một chiếc quần dài nhuộm nâu, nếu không thì chẳng bao lâu nữa, nhất định sẽ phải…ở truồng, không thể tránh khỏi. Ban đêm, vì không có quần, anh sẽ phải ở truồng như những trẻ sơ sinh, mặc dầu trời rất lạnh. Toàn ngồi ngẫm nghĩ, không đoán ra được vợ anh sẽ cười hay khóc khi đọc thư của anh. Suy tính lan man, anh chắc chắn không bao giờ vợ anh có thể đến đây tiếp tế cho anh vì vợ anh còn ở vùng Tề. Và từ Hải Dương đi bộ đến Thanh Hóa, mà đều phải đi đường làng đường ruộng thì đi cả năm, người đàn bà thật thà đó cũng chẳng tìm được nơi giam giữ chồng. Toàn nghĩ đến nỗi đau buồn của vợ lại nghĩ đến nỗi khổ nhục của chính mình, bất giác hai hàng nước mắt chảy ròng ròng.

Bỗng tiếng nói của một người ngồi đó khiến anh ngửng lên nhìn.

– 271 nghĩ gì mà nước mắt ngắn dài thế kia?…“Bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao”. Số phận hết. Kệ cha đời, muốn tới đâu thì tới. Miễn sao sống sót đến cái ngày được nhân dân tha tội vì đã giác ngộ là được rồi.

Toàn đang căm tức và buồn khổ nên suýt buộc miệng:

– Giác ngộ cái cục c…Phạm lỗi gì mà giác ngộ!

Anh ta lầm lầm nhìn vào đồng cảnh không nói năng. Vì người vừa hỏi anh không phải là loại bạn tương đối tri kỷ như bọn Mạnh, Tuyên, Thanh. Bọn này xung phong vào rừng làm lò than cách đây mấy chục cây số cả tháng nay rồi. Năm nay, chắc chắn họ ăn Tết trong rừng, bên những lò than. Họ đi xa, Toàn đã cô đơn lại càng cô đơn hơn bao giờ hết. Nhất là vào thời gian gần Tết như mấy ngày nay.

Thỉnh thoảng ngoài giờ lao tác, Toàn thấy giám thị trại gọi một người tù lên văn phòng ban Quản-trị. Tù nhân thất sắc, mặt cắt không được hột máu vì không biết chuyện gì. Lên đến văn phòng, tù nhân mới hay có vợ con đến thăm và tiếp tế đồ dùng hoặc chút ít tiền nong.

Tại văn phòng, người tù được đưa vào ngồi trong một căn buồng có vách ngăn với bên ngoài, phía bên trên vách là những chấn song bằng tre, nhờ đó anh ta được nhìn thấy vợ hay con ngồi đợi bên ngoài.

Trong những cuộc gặp gỡ này, phần nhiều người tù nghẹn ngào không nói được tiếng nào với vợ, chỉ nhìn trừng trừng mà ứa nước mắt. Còn người vợ luôn tay đưa vạt áo lên lau cặp mắt đỏ hoe, đôi khi bồng một đứa con nhỏ đùa nghịch trong lòng. Lát sau, hai vợ chồng trao đổi một vài câu thăm hỏi về sức khỏe, tin tức gia đình trước sự chứng kiến của nhân viên ban Quản-trị, rồi người vợ mở hầu bao lấy ra đưa cho người chồng một món tiền cùng mấy thứ cần dùng như chai dầu gió, một ít thuốc đi tiêu chẩy, thuốc cảm sốt, ít viên thuốc ký ninh hoặc thuốc ho, vài phong thuốc lào. Về tiền bạc thì lát nữa đây, người tù bắt buộc gởi ban Quản-trị trại giam đổi phiếu lãnh tiền trong trại người tù sẽ giữ phiếu này thay tiền mặt. Còn thuốc men lặt vặt, ban Quản-trị trại giam cho tù nhân giữ lấy mà dùng hoặc nhượng lại cho các bạn đồng trại, tùy ý. Thời gian được phép gặp người nhà rất hạn chế. Trước khi chia tay người tù thường buồn bã bảo vợ:

– Thôi, mình về thay tôi rán săn sóc phụng dưỡng cha mẹ già cho phải đạo và trông nom dạy dỗ các con nên người. Tôi còn phải trả nợ nhân dân và mong nhân dân sẽ khoan hồng mà tha tội. Ngày được về sum họp với gia đình chưa biết chắc chắn bao giờ! Tôi xin gởi lời thăm hỏi cha mẹ và cầu xin cha mẹ hãy tha thứ…Dù sao, tôi vẫn hy vọng.

Người đàn bà không nói, chỉ luôn tay chấm nước mắt. Cái khung cảnh rờn rợn kinh khủng của trại giam đã khiến người vợ phải nghiến răng để khỏi khóc òa lên. Rồi người đàn bà lếch thếch ẵm con ra khỏi trại, tìm nơi ngủ trọ trong làng gần đấy…

Toàn đã may đắp xong hai miếng vải vào quần đùi.

Anh giơ quần lên cao và thoáng lộ vẻ mừng rỡ khi thấy hai miếng vải khâu đắp còn khá tốt. Nhờ đó, quần còn mặc được thời gian nữa. Một người tù khác cũng đang vá quần ngồi gần đó, cất tiếng khen.

– May đẹp quá, thật khéo tay, khi mãn hạn có thể về mở cửa hàng thợ may được đó.

Rồi người đó nhìn Toàn, nói tiếp:

– Anh khéo tay như thế, nên xung phong vào ban trang trí sân khấu. Đêm giao thừa, ban Quản-trị có tổ chức trình diễn kịch để giúp vui cho anh em…

Toàn thẫn thờ, hỏi như người mất hồn:

– Giúp vui cho anh em trong trại?…Ai sẽ làm đạo diễn vở kịch?

– Thằng cha Cương đó. Thằng cha bị án tử hình đó!

Toàn sự nhớ đến anh chàng có tên Cương, trưởng ban Vui Sống của trại. Anh này trước kia làm việc cho chính phủ quốc gia, giữ một nhiệm vụ quan trọng về an ninh nên có những sự đụng cạm thường xuyên với Việt Minh. Là một chiến sĩ quốc gia, vốn có quan điểm đối nghịch với Việt cộng bị rơi vào màng lưới của anh. Một lần kia, vì sơ xuất khinh thường, anh lọt vào cạm bẫy của kẻ thù không đội trời chung rồi bị đưa về đây. Biết không thoát khỏi tay kẻ thù, anh ta nén được cơn sợ hãi để sống bình tĩnh, chịu đựng sự trừng phạt ghê gớm của trại giam Cộng sản. Anh ta thường phát biểu ý kiến với vài bạn tù quen thân từ hồi còn làm việc ở vùng quốc gia: ai chẳng một lần chết, dù mình sợ chết, cái chết nó vẫn lù lù đi tới. Chi bằng không sợ, cứ chiến đấu chống nó, được thì thoát, không được thì..thôi, chết trước hay sau ít năm cũng không nghĩa lý gì…

Trong Trại giam Đầm Đùn, anh cũng sống, cũng học tập, cũng làm công việc khổ sai, nhưng làm với một tinh thần chịu đựng, không sợ hãi và vẫn lợi dụng hoàn cảnh để hưởng thụ được chừng nào hay chừng đó, những cái thú mà con người sinh ra đều có quyền hưởng. Vì cầm cái chết trong tay, dần dần không còn sợ, anh ta ca hát luôn mồm. Có đồng cảnh lại phê bình rằng anh ta ca hát để che lấp, lấn át nỗi sợ ở trong lòng.

Là tù chờ ngày thi hành án tử hình của Tòa án Nhân dân nên anh ta phải thường xuyên mang xiềng và cùm, nằm dưới hầm tối.

Buổi sáng mỗi Chủ Nhật, được tháo cùm, sau khi chào cờ, với tư cách Trưởng ban Vui Sống, anh ta hoạt động “vui sống” với anh em, buộc dây lòi tòi vào giải rút quần, vỗ tay đánh nhịp nói rất lớn: “Nào chúng ta vui sống” rồi hát mấy câu rất nhàm chán với lỗ tai tù nhân:

“Ta nắm tay chúng ta ca hát
Trong kháng chiến, chúng ta vui vầy”

Mặc dầu biết là do hoàn cảnh bắt buộc, nhưng nhiều tù nhân vẫn ghét đắng chỉ vì anh thường nói đến hai chữ “vui sống” trong khi mọi người “buồn chết” đi được. Nhưng nhiều khi họ cũng thấy thương hại vì ca hát vui sống xong, anh ta buồn thỉu đi như người sắp chết. Có lẽ khi đó anh nghĩ đến cái kết thúc thê thảm của cuộc đời người tù bị kết án tử hình không mấy hy vọng ở đơn xin ân xá! Chủ Nhật sau, tù nhân cùng trại lại thấy anh ta hăm hở buộc xiềng sắt vào giải rút quần, khập khiểng bước rồi ca hát “vui sống” vang sân.

Một đêm kia, đang mưa, một giám thị vẻ mặt nghiêm khắc u tối, cầm đèn xuống trại, vào xà lim tử hình gọi Cương dậy đi theo hắn.

Bên ngoài, đÊm tối đen. Một người cầm bó đuốc phừng phừng cháy, đứng chờ sẵn ngoài hiên, coi như quỷ dữ đến bắt tội nhân dưới Diêm La Thập Điện. Cương đang ngủ say chợt nghe gọi đúng danh số hốt hoảng ngồi dậy, theo ra bên ngoài nhưng vẫn chưa tỉnh hẳn. Đến lúc trông rõ người cầm đuốc. Cương chợt hiểu. Mồ hôi bỗng toát ra đầy mình, một ý nghĩ thoáng trong đầu khiến anh như bị một luồng điện quật chúng: Có lẽ ta bị “ra bai” chăng?

Theo luật lệ của Trại giam Đầm Đùn, tội nhân bị án tử hình luôn luôn bị xiềng và cùm cứng ngắc hai cổ chân, nhốt trong xà-lim tối thui. Một đêm khuya nào đó, khi các tù nhân đã say giấc, có người của ban Quản-trị trại chính thức vào đánh thức tử tội dậy, dẫn xuống nhà Tiểu Công Nghệ. Nơi đây, một mâm cơm thịnh soạn đã bày sẵn đợi người tử tù thưởng thức. Thường thì một đĩa thịt gà, một đĩa thịt heo, trứng chiên, một ly rượu, một nồi cơm, nải chuối tươi tốt và một, hai điếu thuốc lá. Đó là bữa cơm cuối cùng của phạm nhân trên dương thế nên cũng cần tươm tất.

Thấy mâm cơm, người tù biết ngay mình đã đến lúc tận số. Trại giam Đầm Đùn không đãi tội nhân sống một cách sang trọng như vậy bao giờ mà chỉ chịu đãi người nào phải ăn bữa cơm cuối cùng với nhân thế. Nhưng tử tội không nuốt được vì sợ. Các bắt thịt co rút lại, cổ tắc nghẹt, thở cũng muốn nghẹt nói gì đến ăn. Vì thế, hầu hết tử tội không ăn được cơm, không uống được rượu mà chỉ nuốt nổi trái chuối một cách khó khăn, nghẹn hai, ba lần. Có người không ăn uống, chỉ hút nửa điếu thuốc lá là liệng bỏ rồi òa khóc như một đứa trẻ.

Ra bai, thật là kinh khủng!

Khi ra đến ngoài nhờ gió lạnh làm cho tỉnh lại, tử tội Cương muốn hỏi một câu nhưng líu lưỡi không nói được, hai cẳng chân bủn rủn như người bị bệnh tê liệt. Y không đứng vững, phải dựa vào cột hiên mới khỏi té.

Lời nói nghiêm nghị của giám thị giúp Cương tỉnh hẳn:

– Trại viên theo tôi lên Văn phòng.

Tội nhân bị án tử hình lắp bắp hỏi:

– Lên Văn phòng chứ không phải…“ra bai” sao?

Viên giám thị nhìn kỹ phạm nhân rồi bật cười:

– Anh muốn “ra bai” hay sao mà nói vậy?

Dưới ánh đuốc bập bùng, phạm nhân méo xệch miệng cười gượng trong khi nước mắt mừng rỡ chẩy ròng ròng:

– Dạ, không! Tôi ngỡ…đang đêm…

– Anh lên Văn phòng khêu đậu lào cho con gái ông trưởng ban…

Nguyên ông trưởng ban Quản-trị có một cô gái 20 tuổi bị đậu lào. Ông ta không dám chích thuốc tây cho con gái vì theo nhiều người, chích thuốc tây thì bệnh nhân bị đậu lào hết sống. Ông ta nghe nói phạm nhân Cương biết môn “khêu” để chữa bệnh đậu lào và y đã từng cứu sống mấy tù nhân trong trại.

Đêm nay, ông ra lệnh gọi Cương lên khêu những nốt đậu lào cho con gái. Chứ không phải đánh thức Cương cho “ra bai”.

Sau này, Cương có thổ lộ rằng may mà anh ta không mắc bệnh tim, chứ đau tim mà tưởng lầm bị gọi “ra bai” là đủ chết ngắc vì quá sợ rồi…

Nhờ Cương cứu được cô gái nọ mà án tử hình của Cương được ông trưởng ban hoãn thi hành. Sau đó gặp dịp, anh ta trốn được về miền quốc gia khiến nhiều đồng cảnh tiếc ngẩn ngơ vì chưa kịp học phương pháp khêu đậu lào.

—>5

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.