Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

5.

Hôm nay là 30 Tết, tù nhân được nghỉ lao tác để sửa soạn ăn Tết, đón mừng năm mới. Đối với người tù dưới chế độ Cộng sản -nhất là tù nhân ở Trại giam Đầm Đùn- tục lệ ăn Tết Nguyên Đán, một tục lệ thiêng liêng đầm ấm nhứt từ ngàn xưa để lại, đã mất hết tính cách thiêng liêng và trở nên vô nghĩa, rỗng tuếch, giả dối, chỉ nhằm mục đích tuyên truyền chính trị cho Cộng sản.

Ba ngày trước, ban Quản-trị trại giam đã nhận được một thông điệp của họ Hồ gởi về chúc Tết và huấn giáo các tù nhân, lời lẽ làm ra vẻ thân ái và độ lượng, khuyên nhủ các tù nhân cố gắng sửa mình, học tập để mau giác ngộ, đặng hưởng sự khoan hồng của chính phủ, trở về cuộc sống bình thường của một công dân tốt. Bản thông điệp đó, ngay buổi tối, đã được mang ra học một cách máy móc, trong một đại hội học tập toàn thể tù nhân, có ban Quản-trị trại tham dự và hướng dẫn. Như mọi lần, tù nhân nào được phát biểu ý kiến cũng bày tỏ lòng biết ơn chính phủ, hối ngộ sự lầm lạc của bản thân và hứa sẽ cố gắng học tập theo đúng đường lối của chính phủ để trở thành một công dân hữu ích v.v…

Ngồi trong một góc tranh tối tranh sáng, Toàn lấy vẻ nghiêm chỉnh theo dõi buổi học tập như cố gắng thấm nhuần hết ý nghĩa bản thông điệp, mặc dầu anh đã chán ngấy những lời lẽ cùng luận điệu một chiều, giả dối, công thức, như chán ngấy những bữa cơm tù trong trại giam Cộng sản. Chán ngấy, ghê sợ như thế mà vẫn phải nghe, phải nhập tâm, đề phòng trường hợp bị bắt buộc phát biểu ý kiến mà lúng túng phát biểu lạc đề thì nguy hiểm, không biết hậu quả sẽ tai hại đến chừng nào.

Nhưng thỉnh thoảng, Toàn lại cảm thấy máu chảy dần dật trong đầu. Mắt anh mờ đi vì lửa căm hờn trong lòng lại bốc ngùn ngụt. Anh muốn hét lên một tiếng cho hả, cho vơi cái uất ức ở trong lòng và chửi thề một câu rất tục tĩu để cho cả cái chế độ độc tài, tàn bạo, vô nhân, vô đạo nghe rõ. Có lúc anh tưởng chừng như sắp phát điên bắt gặp mình đang trừng mắt nhìn một kẻ thù tưởng tượng đứng trước mặt. Toàn phải cố bình tĩnh lại. Anh biết có đến chín phần mười tù nhân cùng một tâm trạng như anh, cùng một thèm khát, căm hờn như anh mà không ai dám để lộ. Chỉ vì họ còn muốn sống, hy vọng trở về với gia đình vợ con, với những người thân yêu sau khi thoát khỏi quãng đời tủi nhục này.

Hôm nay được nghỉ lao tác, tù nhân lại làm những công tác dọn dẹp vệ sinh chung, nên trại giam thêm vẻ khang trang. Sau đó, nhiều người lấy quần áo ra may vá cho bớt rách rưới để “diện” trong mấy ngày Xuân thủ. Những người chỉ còn nhất bộ mượn tạm áo của bạn đồng trại trong chốc lát đặng khoác lên mình khỏi rét, rồi cởi áo đang mặc ra bắt rận. Bắt được con rận nào, người tù đưa lên miệng cắn “tanh tách” lấy làm thích thú lắm. Dường như vá quần áo và bắt rận…kịch liệt giúp người tù quên nỗi buồn đau trong ngày ba mươi Tết.

Khi mới vào trại giam, mỗi lần Toàn thấy tù nhân bắt rận đưa lên miệng cắn làm anh lợm giọng buồn nôn, cái tanh hôi của máu rận như thấm vào chân răng, bắt anh nhổ nước miếng và nôn khan hoài. Nhưng lâu dần quen đi, anh cũng có thể làm như mọi người. Trại bên kia, tù nhân Pháp bắt rận, cũng đưa lên miệng cắn “tanh tách” không khác chi tù nhân Việt bên này. Toàn triết lý vụn và mỉm cười: Thì ra mọi sự ở đời này, cái sướng, cái khổ, cái vui, cái buồn, bẩn, sạch rồi cũng…quen hết!!

Một tiếng nói cất lên phía sau khiến Toàn giật bắn mình. Anh lấy vẻ mặt nghiêm trang và chuẩn bị câu chống chế. Trong Trại giam Đầm Đùn, không ai muốn để lộ ý nghĩ thầm kín của mình, dù là ý nghĩ rất hiền lành. Nhưng khi nhận ra người tù mang số 382 nói câu đó, anh lại thản nhiên cúi xuống tiếp tục may với sợi chỉ chót trong năm thước chỉ rồi nói bâng quơ cho qua chuyện:

– Mùa Xuân tới, tự kiểm thảo thấy mình đã “tiến bộ” đôi chút nên cũng vui vui…

382 cũng nói bâng quơ:

– Vậy hả?

Toàn quên tên người tù mang số 382 nhưng vẫn nhớ kỹ y là một tù nhân nổi tiếng khéo nịnh bợ nhân viên ban Quản-trị, mới được hưởng ân huệ cải hạng ăn theo khẩu phần B chừng nửa tháng nay. Toàn và bọn Tuyên, Thanh, Mạnh ngờ 382 làm mật vụ cho ban Quản-trị nên hết sức tránh tiếp xúc với y. Họ cố tránh xa bao nhiêu, 382 lại càng tìm cách gần gũi với họ bấy nhiêu nên bọn Toàn càng sợ sệt đề phòng.

Toàn lấy vẻ thản nhiên nhưng trong bụng đang nghĩ cách “đánh trống lãng” thì dịp may ở đâu đến. Từ phía cổng lớn mấy người khiêng tre và ván vào trại để dựng sân khấu diễn kịch đêm giao thừa. Toàn mừng rỡ, lật đật xếp quần áo gọn gàng, thận trọng cắm cây kim còn lòng thòng sợi giây chỉ vào khuyết vải dùng làm “đê” đeo tay, rồi nói như giải thích cử chỉ đột ngột của mình:

– Nào, đi tham gia công tác dựng sân khấu với các anh em…

Anh mỉm cười xã giao một cách nhạt nhẽo với 382 rồi đứng lên đem cất đồ vào đầu giường, trong khi 382 nhìn theo anh, có vẻ như đang mưu tính điều gì.

Sân khấu dựng trong nhà Tiểu Công Nghệ vuông vắn mỗi bề năm thước, cao một thước, sàn bằng ván ở khoảng giữa, chung quanh lót bằng những cây tre đặc bổ đôi mặt phẳng ngửa lên trên. Bên trong cùng sân khấu là buồng “hóa trang” của diễn viên.

Sân khấu trang hoàng và sửa soạn xong trước khi tù nhân dùng bữa cơm cuối cùng của một năm. Có một điều hiển nhiên dễ nhận là bữa cơm chiều nay vắng mặt nhiều tù nhân. Mâm nào cũng khuyết ít ra một người. Những người có mặt ăn một cách thật vội vã hoặc uể oải, có người mới ăn vài ba miếng đã buông đũa buông bát, thở dài đứng lên. Tuy tù nhân của Trại Đầm Đùn lúc nào cũng đói, cũng thèm ăn, vậy mà chén cơm chiều ba mươi Tết, họ cũng không nuốt nổi.

Chỉ vì năm hết Tết đến, ăn bữa cơm chiều ba mươi Tết trong tù, họ nhớ đến gia đình, đến cái không khí đầm ấm thân yêu, tự do của những Tết đã qua mà họ buồn nẫu ruột. Nhiều người ngồi bó gối co ro tại một góc trại, thỉnh thoảng lại rút trong túi ra gói thuốc lào, vê một mồi thuốc, nhét vào nõ điếu cày, kéo một hơi thật dài tưởng đến long cả nõ điếu rồi bâng khuâng nhìn ra ngoài sân, mưa phùn lất phất bay như rắc bụi.

Trời vừa sập tối được một lúc, tù nhân đã lục tục kéo đến nhà Tiểu Công Nghệ xem diễn kịch và những màn diễn xuất đặc biệt của buổi đại hội.

Trước sân khấu, trên hàng băng dài lố nhố những người. Đằng sau hàng ghế “danh dự”, ban tổ chức đã đặt nhiều cây tre dài làm ghế cho tù nhân ngồi. Hàng ghế danh dự dành cho nhân viên ban Quản-trị và các thân hào, các nhà chức trách địa phương như chủ tịch ủy ban kháng chiến và hành chánh, các ủy viên và dăm bẩy nhân viên đặc biệt khác, trong số có một nhân vật ghê gớm đối với các tù nhân, được chức quyền trong trại giao cho một nhiệm vụ đáng làm cho người khác khiếp hãi, đánh đòn trừng phạt kẻ phạm lỗi.

Không biết nhân vật này tên thật là gì nhưng tù nhân Trại Đầm Đùn đặt cho y hỗn danh bí mật là “Đầu Trâu” 1 nói lên được phần nào thể xác của con người mang hỗn danh đó. Vóc dáng vạm vỡ, đi đứng lầm lũi, mắt nhìn chậm chạp, tay chân bắp thịt nổi cuộn như thừng, không biết y học được võ nghệ ở đâu mà mỗi lần ra tay, ít tội phạm chịu nổi tới roi thứ ba mươi.

Tù nhân kháo nhau rằng Đầu Trâu là dân miền núi cao, nói tiếng Việt chưa được rành, mỗi khi được tra tấn hay đánh người, Đầu Trâu khoái trá mắt long lanh như mắt cọp.

Toàn liếc thấy Đầu Trâu ngồi một cách lạnh lùng, lầm lì, riêng biệt một chỗ cũng đủ khiếp đảm, không dám nhìn lâu dù nhìn trộm.

Phía giữa, ban Quản-trị mượn đâu hai cái đèn “ba dây” treo tòn ten nên sân khấu sáng choang, làm nổi bật lá cờ đỏ từ trên cao rủ xuống ở trong cùng sát vách. Bên dưới lá cờ là bức hình vẽ bằng sơn màu chân dung một người đã già trán hói, có bộ râu dài, mặc áo ka ki gài khuy cổ, hai con mắt nham hiểm, độc địa, tàn bạo như mắt chim ưng. Trước ánh đèn, lá cờ đỏ óng ánh như vấy máu, người trong bức hình nhìn xuống đám khán giả tù nhân nửa như căm hờn, nửa như thích thú mãn nguyện.

Toàn nhìn đăm đăm, cố tìm trong diện mạo người trong hình những nét đặc biệt. Anh thấy cái trán thông minh, hai con mắt xảo quyệt, độc ác thâm trầm, nham hiểm một cách dị thường. Anh tưởng tượng ngày xưa, cặp mắt của Tần Thủy Hoàng cũng “hiếu sát” đến thế là cùng.

Từng cơn gió bấc lùa vào nhà Tiểu Công Nghệ thổi qua các khe cột rào rào khiến Toàn rùng mình. Anh bất giác so hai vai, kẹp chặt hai cánh tay vào cạnh sườn giữ cho thân thể bớt run rẩy. Vẫn thấy lạnh, anh khoanh tay, luồn hai bàn tay dấu trong nách cho khỏi buốt, chợt nhớ câu thơ “xương cọ vào xương, bớt nỗi hàn” tả cái cô đơn rét mướt của người nằm dưới mộ, cố nén một tiếng thở dài.

Khán giả tới đã đông, tiếng xì xào cười nói nho nhỏ khắp trong các hàng ghế. Giữa đám người cùng đồng cảnh đến mấy trăm mà Toàn vẫn thấy cô đơn, giá lạnh, trống rỗng ở trong lòng. Anh nghĩ thầm giờ này theo tục lệ, gia đình anh đã cúng thỉnh tổ tiên về ăn Tết với con cháu. Nhưng vợ anh, con anh vẫn buồn rầu ngồi trước bàn thờ ảm đạm tưởng nhớ đến người bị bắt đem đi, không biết sống hay chết, bao giờ về, mà chắc gì về được?

Khi anh bị Việt cộng bắt, đứa con thứ ba mới được một tháng, hiện giờ nó đã biết làm gì rồi? Dưới chế độ Cộng sản, cuộc đời thật đầy rẫy những chuyện đau buồn, oán hờn khổ ải, không biết rủi ro thế nào mà lường trước được.

Bỗng hàng băng bên tay phải, có người quay lại nhìn trộm về phía anh. Toàn hơi hoảng cố tạo nét mặt vui vẻ, miệng hơi mủm mỉm cười, nhìn lên sân khấu như hân hoan chờ đợi buổi đại hội khai diễn…

o O o

Đại hội “liên hoan” chấm dứt. Một người trong ban Quản-trị trại giam leo lên sân khấu, cầm loa nói những lời tri ân Hồ Chủ Tịch, đảng và chính phủ, rồi chúc trại viên sớm giác ngộ, sửa đổi những lỗi lầm đã mắc phải, học tập tiến bộ, cố gắng tăng năng xuất để xứng đáng với những sự khoan hồng của Hồ Chủ Tịch, đảng và chính phủ. Rồi tuyên bố giải tán.

Tiếng vỗ tay ran như pháo. Toàn chợt nhận ra anh cũng vỗ tay hăng hái như mọi người.

Tù nhân xếp hàng từng toán theo Trưởng toán về mỗi trại, đặng ngủ một giấc, mai dậy sớm đón một mùa Xuân mới.

Toàn lầm lũi bước theo những bạn đồng trại.

Trong bóng đêm, Toàn không nhìn rõ mặt các tù nhân nên không đoán được họ đã nghĩ gì về vở kịch trên sân khấu. Nhưng riêng anh, anh thấy phẫn nộ, một cảm tưởng chán nản mênh mông tràn ngập trong lòng. Dù anh có hạn mãn tù, sống sót trở về cuộc đời bình thường thì coi cũng như chết nếu phải sống dưới chế độ Cộng sản. Trong màn kịch vừa rồi có vai một đứa trẻ mười hai, mười ba tuổi tố bố đẻ ra nó là địa chủ một cách lạnh lùng, đểu cáng như sự việc có thật đang xảy ra. Và đứa trẻ được một đại diện nhân dân khen ngợi và đề cao như một thứ nhi đồng gương mẫu đã sớm giác ngộ biết gạt bỏ những tình cảm cá nhân lạc hậu mà lên án cha đẻ là địa chủ – chủ nhân của mười lăm mẫu ruộng- để nhân dân loại trừ một phần tử có hại cho chế độ.

Màn kịch gay cấn nhất lúc cậu nhi đồng cứu quốc chỉ vào người cha đáng thương bị trói giật cánh khỉ và quỳ trên một đống đá dăm lổn nhổn mà sỉ vả mắng nhiếc, tiếng vỗ tay nổ ran như pháo. Toàn không biết đó là tiếng vỗ tay khen ngợi hành vi “lên án cha” của cậu nhi đồng nọ hay là những tiếng vỗ tay nguyền rủa chế độ, đã tạo nên một lớp người bất hiếu, phi nhân. Toàn thấy lòng anh chết lặng đi lúc lâu trước một sự thật phũ phàng, chỉ nghe kể lại chứ chưa được thấy tận mắt nên đã có lúc ngờ vực, không tin là có thật. Thế là hết! Anh nghĩ thầm: Nếu con anh sau này cũng được nhào nặn để biến thành một đứa trẻ tương tự thì thà anh chết đi trong thời gian bị giam ở Trại Đầm Đùn này còn hơn là phải sống với lũ quỷ đỏ.

Tâm hồn Toàn bấn loạn hoang mang đến nỗi anh không còn tâm trí theo dõi màn kịch “chửi” chính phủ Trần Văn H…, chỉ mang máng nghe diễn viên dùng những lời lẽ nặng nề thô tục vẫn thường nghe thấy ở những giới vô giáo dục, đúng với quan niệm “văn hóa đại chúng” của Cộng sản. Nhưng rồi sau cùng cũng có những tràng pháo tay nổ ran để khen ngợi hay làm ra vẻ khen ngợi những diễn viên và ý nghĩa vở kịch.

…Đám tù nhân đi băng qua bãi cỏ trở về trại. Được một quãng, Toàn quay lại nhìn, nhà Tiểu Công Nghệ vẫn còn ánh đèn sáng choang, nhân viên ban Quản-trị còn đứng lố nhố bàn tán với nhau. Có lẽ họ đang khen ngợi lẫn nhau về kết quả buổi đại hội vừa rồi, nên giơ chân múa tay, ra vẻ thích thú lắm.

Đêm đã khuya, Trại giam Đầm Đùn lại nằm giữa một vùng núi non nên khí núi bốc ra giá buốt căm căm. Toàn ngước nhìn lên trời cao tối thui như hũ nút rồi trông về phía Trại ngủ, mãi mới nhận ra ánh đèn le lói lúc ẩn lúc hiện. Sương muối dầy đặc quá, che lấp cả ánh đèn.

Anh xuýt xoa vì lạnh, co ro đi sát vào người bạn tù kế bên, liên tưởng đến bếp lửa ấm ở quê nhà, nồi bánh chưng sôi xình xịch, những nồi nước tắm thơm phưng phức hương lá mùi, lá bưởi đặt ghé bên nồi bánh, những bông hoa đào nở thắm in bóng trên tường, trên bàn thờ nghi ngút khói. Rồi giờ phút cúng giao thừa thiêng liêng, tiếng pháo, tiếng đại hồng chung từ ngoài chùa ở đầu làng văng vẳng, những tiếng gọi nhau đầm ấm ra chùa lễ Phật, rồi về nhà xông đất Năm Mới…

Toàn mải mê, miên man nghĩ, vấp một cái điếng người, hơi đất lạnh lẽo thấm vào gan bàn chân buốt thon thót như kim châm.

…Về đến Trại ngủ, người nào người nấy lật đật lên giường làm một giấc. Không ai nói một tiếng. Hình như ai cũng thấy lạnh lẽo muốn ngủ cho quên hiện tại.

Toàn liếc nhìn người bạn “đồng sàng” đang rơm rớm nước mắt trong lúc sửa soạn chỗ nằm, thốt nhiên anh thấy tủi thân muốn khóc òa lên cho vơi bớt tấm tức ở trong lòng.

Sau những tiếng hô số để kiểm tù theo lệ thường. Trại ngủ lại hoàn toàn yên lặng. Thỉnh thoảng mới nghe tiếng rên khe khẽ của những tù bệnh. Những tiếng trở mình trên trõng tre của những người khó ngủ tiếp nối nhau đến sáng.

o O o

Dù sao ngày mồng 1 Tết vẫn là một ngày thiêng liêng, đáng ghi nhớ trong cuộc đời tù nhân tại Trại Đầm Đùn. ban Quản-trị cũng nhận ra điều đó nên cho tù nhân được hưởng vài ân huệ tập thể đặc biệt.

Hôm 30 Tết, tù nhân không biết nghe tin tức ở đâu, kháo nhau rằng trong ba ngày Tết, tù sẽ được ăn một món đặc biệt mà cả năm nay, chưa được hưởng: Đó là món thịt bò.

Sáng sớm mồng 1, sau khi xếp hàng ra ao rửa mặt trở về, tù nhân tụm năm túm ba nôn nao chờ bữa cơm thịnh soạn.

Như mọi tù nhân khác, Toàn băn khoăn chờ đợi bữa ăn sáng mồng 1 Tết với sự hồi hộp khác thường. Thèm khát làm cho con người “hèn” đi là sự thường. Từ bao tháng nay, tù nhân ăn đói, cơ thể thiếu tất cả các chất bổ dưỡng làm nên sự sống của con người nên đối với họ, chất bổ rau muống luộc cũng quan hệ và ngon lành không kém bát canh thịt, không kém một chén cơm, một miếng đậu. Vốn có cái tự ái của con người tiểu tư sản nên trong một giây, Toàn như ngó vào gương thấy cái bóng dáng tầm thường, hèn hạ của mình. Nhưng anh lại tự an ủi ngay: cứ đem một “ông vua” vào đây giam và bắt ăn đói một thời gian như tù nhân ở trại giam Cộng sản, coi có thèm khát như “quân chết đói” không? Tinh thần mình vẫn sáng suốt, vẫn phân biệt được cái “cao thượng”, cái thấp hèn nhưng cơ thể mình nó cứ đòi hỏi, cứ bắt mình phải thèm thuồng, phải ao ước, phải chẩy rãi. Nhớ đến câu “vật chất quyết định tinh thần” anh thấy đúng với hoàn cảnh của anh, của các tù nhân.

Còn đang mãi suy nghĩ miên man, quên đi trong giây lát cái thèm được một bữa ăn có chất thịt hơi thịt. Toàn bỗng thấy cảnh tượng nhộn nhịp hẳn lên. Tiếng kẻng báo giờ ăn vừa điểm. Tù nhân chia việc xuống nhà bếp bưng cơm. Lúc ấy Toàn mới nhận thấy người nào người nấy mặt mũi quần áo sạch sẽ hơn ngày trong năm nhiều.

Theo lệnh mới, bốn người ngồi một mâm.

Mâm cơm “đầu năm thiên thủ” quả có thịnh soạn hơn nhiều. Không ai dám công khai “bình luận” gì nhưng đều liếc mắt ngó mâm cơm kỹ càng để làm một “bản phân tách” trong đầu. Ngoài dĩa rau xào, muối vừng, một dĩa muối hột, còn một chút mắm tép với hai tô nước canh đục lờ lờ trong có những khúc xương chặt nhỏ. Nhìn kỹ, tù nhân nhận ra còn những miếng giống như thịt cuốn lại cong queo nằm đáy tô.

– Đầu năm, năm mới, xin mời trên có các bậc đàn anh lớn tuổi, dưới có các bạn đồng tuổi, xin quý vị nâng chén, nâng đũa…

Một tù nhân thèm quá, không dằn được lòng vì hương vị thịt từ tô cánh bốc lên ngào ngạt bắt nhẩy mũi đến nơi, chắp tay mời cho phải phép rồi chọc luôn đũa vào tô canh coi nấu với thịt gì. Mọi người nhất loạt bới cơm vào chén. Một tiếng reo mừng rỡ nho nhỏ:

– Thịt trâu! Xương trâu! Chà! Ngon quá!

Nhưng có người cải chính tức thì:

-…Da trâu! Xương trâu!

Rồi vội vã giải thích thêm:

– Bữa cơm hôm nay thật là bữa tiệc! Nhờ ơn Chính phủ…

Đúng vậy, nhờ ơn huệ đặc biệt của già Hồ, tù nhân Trại giam Đầm Đùn được ăn một món canh mà họ đã “ăn” trước bằng tưởng tượng năm lần bảy lượt. Đó là món canh nấu với xương trâu và da trâu. Tuy vậy, có nhiều tù nhân phải buộc miệng thốt lên những lời khen thành thực:

– Trời ơi! Tô canh ngọt quá, ngon quá. Ngon hơn…bát vây!

Thật thế, chất ngọt của xương trâu có một hương vị thơm ngon lạ lùng và có tác động thần kỳ ma quái, húp được thìa nào, chất béo bổ thấm ngay vào chân răng, vào lưỡi vào miệng, đem ngay cái tỉnh táo sảng khoái cho cơ thể. Ăn xong bữa cơm, tù nhân thấy sức khỏe đã tiêu hao trong bấy lâu hồi phục phần nào.

Bữa cơm đầu năm là bữa tiệc lớn, một năm mới có một lần, nên tù nhân phải chia nhau rất đều, không thể hơn kém một chút mắm, một miếng rau xào, nhất là một thìa canh xương trâu, khẩu phần cơm bữa nay cũng gia tăng đặc biệt nên người nào cũng được bới bốn lần, không kể miếng cháy xém ăn cuối bữa với muối mè. Một người tù nêu lên ý kiến:

– Cứ ba tháng được ăn một bữa cỗ như bữa nay thật là khỏe vô cùng. Ước gì một năm có đến 4 cái Tết Nguyên Đán để anh em được…

Vài người gượng cười, vẻ chua chát. Sự thật, nhiều bữa, cơm còn bốc khói nghi ngút đã hết vì người tù đói quá, làm cả ngày quần quật được có hai lưng cơm chưa ăn đã hết.

Trước khi ăn cơm, vì thèm quá, một người đề nghị húp trước tô canh xương trâu mỗi người một thìa để thưởng thức. Rồi sau bữa cơm mới chia làm bốn phần, phần nước phần cái đều nhau. Vì thế, khi bốn người trong mâm xong bữa, Trưởng toán xếp bốn chén gần nhau rồi sớt nước canh vào mỗi chén. Nhưng sớt nước canh rồi, Trưởng toán phải chia lại vì phần còn trong tô canh có nhiều chất huyết béo bổ đọng ở đáy. Trưởng toán phải dùng đũa khuấy cho đều, lúng túng làm sao, nước canh tràn ra ngoại tô mất hơn một nửa khiến mấy người kia ngẩn người, nghiêm nét mặt vì tiếc.

Cho khỏi có chuyện xích mích,Trưởng toán tự công nhận sự sơ xuất bằng cách rút bỏ phần nước canh của anh, tuy vẫn mủm mỉm cười nhưng anh ta tái mặt đi vì hậm hực và tiếc.

Chia xong nước đến chia “cái”. Mỗi người được hai cục xương nhỏ và hai miếng da trâu (nấu thay thịt), da trâu ninh kỹ nên đã mềm nhưng xương trâu thì không nhai rập được, người nào người nấy đều “hít” lấy “hít” để chất tủy ở trong. Có người nửa đùa nửa thật bàn nên lấy đá ghè bể khúc xương để hút chất tủy còn sót lại.

Lát sau, nhiều người liệng bỏ cục xương xuống mâm khi xương đã hết chất dính và sạch sẽ như chùi. Nhưng có người còn tiếc rẻ vẫn cầm khư khư khẩu xương trong tay.

Đến đây mới xảy ra chuyện bất ngờ…

——————-
(1) Về sau thành tên chính thức.

—>6

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.