Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

6.

Mới đầu, chỉ dăm ba người trông thấy. Nhưng thoáng sau, nhiều người đang còn mê mải gặm xương cũng hay và đều quay nhìn về phía Trại ngủ. Họ sững sờ rồi lộ vẻ kinh ngạc. Đằng xa, một hình người gầy ốm tong teo, loạng choạng từng bước, dường như muốn kiếm đường lên nhà Tiểu Công Nghệ nhưng chưa nhớ ra lối nên vừa bước vừa nhớn nhác tìm kiếm. Người đó gầy lắm, chỉ có bề cao chứ không có bề ngang, bước chập chững như đứa trẻ tập đi, nhiều lúc xiêu vẹo tưởng té sấp té ngửa đến nơi mà vẫn gượng đứng vững được. Rồi lại tiếp tục bước. Con người dị hình đó mặc quần xà lỏn rách bươm, hai cẳng chân khẳng khiu như hai cây sậy đã chết khô, trên dưới bằng nhau chỉ có khúc đầu gối là lớn nhất. Trên mình đeo nham nhở nhiều mầu: màu trắng cháo lòng, màu nâu bạc và mầu đen, mỗi màu là một áo và mỗi áo là hai ba màu

Một dải khăn trùm kín đầu quấn quanh cổ buộc múi dưới cằm cũng rách tơi tả.

Trời rét căm căm, gió thổi lật tung dải áo phía trước khiến người đó phải lấy tay chặn ngang bụng. Khi không, hắn ngồi thụp xuống, có lẽ chóng mặt nên thấy đưa tay lên ôm trán. Ánh nắng ngày đầu Xuân chiếu rõ vào mặt. Hai mắt hắn trũng sâu như lỗ đáo và nhắm nghiền.

Sự xuất hiện bất ngờ, và lạ lùng trên gây ra những tiếng than khe khẽ trong đám tù:

– Trời ơi! Trời ơi! 325 lần mò đi đâu thế kia?

– Tội quá, hắn tỉnh dậy hồi nào không ai biết!

– May ra thì sống được đấy!

Một người sốt sắn, nêu ý kiến:

– Đề nghị ông Trưởng toán vào bếp xin cho hắn phần cơm hay cháo. Đầu năm, anh em ai cũng được hưởng bữa cỗ mà đồng cảnh 325 chẳng được miếng nào! Tội nghiệp!

Dăm, bẩy người động lòng trắc ẩn, rời mâm bước ra hiên, đứng ngó hình người quái gỡ nọ với vẻ thương xót pha lẫn tò mò. Thật ra, họ không ngờ giữa lúc mọi người cùng trại tin chắc tù nhân số 325 phải “ngoẻo” trước khi mùa Xuân tới thì y sống lại và chập choạng bước đi dưới nắng Xuân như quỷ hiện hồn. Sức chịu đựng của người tù thật phi thường.

Tù nhân xì xào bàn tán về trường hợp quái đản nọ…

Ngoài sân, bộ xương người lại run rẩy đứng lên, tiếp tục bước tới nhà Tiểu Công Nghệ. Hình như từ bộ xương ấy có phát ra tiếng rền rỉ vì có người nghe loáng thoáng trong gió lạnh:

– Các…ông ơi! Cho tôi xin một miếng! Đói quá! Đói…quá!

Toàn rợn người trước người trước hình ảnh ghê rợn và tiếng rền rỉ như tiếng mèo gào đêm giữa buổi sáng mồng 1 Tết. Rồi thốt nhiên anh thấy thương xót lạ lùng.

Lúc đó, anh đã xong bữa. Hai mẩu xương thuộc phần của anh đã bỏ xuống mâm sau khi kỹ càng mút đi, mút lại cả chục lần. Đưa mắt nhìn bao quát một lượt trong trại. Toàn thấy vẫn còn người chưa xong bữa tiệc…xương. Phía sau lưng anh, mấy người cũng đã ăn xong nhưng vẫn cầm khư khư mẩu xương trong tay. Họ quay nhìn ra sân, nơi có hình người rách gầy ốm đang chận choạng bước.

Không ai biết rõ 325 bị tội gì, chỉ biết anh ta bị giam tại Trại Đầm Đùn đã hơn năm nay và ba tháng gần đây, ngay từ đầu mùa Đông anh ta mang bệnh, nằm liệt giường liệt chiếu. Nhờ có hạnh kiểm tốt, tính tình hiền lành, hay làm ít nói, xung phong hăng nhất, nhiều thiện chí học tập nên mặc dầu ốm đau không sản xuất cho Trại, anh ta vẫn được bỏ mặc cho sống lây lất. Bất cứ người tù nào mang bệnh như anh là cầm chắc cái chết rồi. Vì ban Quản-trị trại giam chỉ ra lệnh cho nhà bếp một tiếng là người tù bệnh cứ nằm chịu trận đói lả trên giường cho đến lúc hấp hối, thở hắt ra mà vẫn còn cố đợi một miếng cơm, một chén cháo loãng hay một chén nước cơm chắt không bao giờ mang tới. Ngoài đời sống tự do, những thức ăn kể trên tầm thường không đáng kể, nhưng trong trại giam Cộng sản, những thức đó có ảnh hưởng trực tiếp đến hơi thở, mạch đập của người tù. Cả những thức không ăn bằng miệng được cũng rất quý báu. Có người tù may mắn lượm được khúc xương sống cá dài hơn ngón tay -khúc chót đuôi- vứt sau nhà bếp. Anh ta run rẩy vì sung sướng, gói khúc xương đó trong một mảnh giấy cất trong túi áo. Bữa ăn, để tăng thêm khẩu vị, người tù kín đáo lấy khúc xương cá ra, đặt vào giữa hai bàn tay khum khum, đưa lên gần mũi hít mạnh mấy hơi lấy hương vị cá rồi thè lưỡi liếm một cái. Trên thực tế, liếm một đốt xương khô còn có gì nữa, nhưng trên phương diện tâm lý, bữa ăn đó người tù trại giam Cộng sản mơ màng đến cá và nhớ lại những bữa cơm ăn với cá trong dĩ vãng. Và bữa cơm anh ta thấy dễ nuốt hơn dù chỉ “ăn” cá bằng mắt, bằng mũi và bằng tưởng tượng.

Ít lâu sau, sơ ý đánh mất cái xương cá, người tù băn khoăn, bứt rứt, khổ sở và mất tinh thần đến nửa tháng trời mới tìm lại được sự bình tĩnh.

Câu chuyện “cái xương cá”, nhiều tù nhân biết, nhất là Toàn vì người tù ăn cá bằng tưởng tượng cùng toán với anh. Mỗi bữa cơm, cứ đến chén thứ hai và là chén chót, Toàn thấy người nọ ngó chừng giám thị rồi lấy vẻ tự nhiên, kín đáo giở gói xương cá thường xuyên mang theo. Nhưng lúc người nọ quay lại phía sau, đưa cái xương ra ngửi ngửi trước khi thè lưỡi liếm một cái thật lẹ thì Toàn quay nhìn chỗ khác, để che dấu sự buồn tủi chính trong lòng anh. Nhưng riết rồi Toàn cũng không chú ý đến hành vi của người bạn tù nữa.

Trường hợp tù nhân 325 mới thật lạ lùng. Từ đầu tháng Chạp ta, anh lâm bệnh nặng luôn luôn mê man đến nỗi buổi sáng anh em đặt anh ta nằm theo chiều nào, buổi trưa anh em trở về trại vẫn thấy anh nằm nghiêng chiều đó, không nhúc nhích. Rận, chấy trong người 325 như sung, bò lổm ngổm từng đám trên mấy manh áo rách. Thỉnh thoảng, tiện dịp, một người bạn tù tự động đem chiếc áo ra sân rũ thật mạnh mươi cái cho rận rớt bớt rồi đem vào đắp lên mình bệnh nhân như cũ. Nhưng vì nằm riết lại không tắm rửa, một tai bệnh nhân bị lở loét. Một buổi sáng, người tù nằm trõng bên bỗng giật mình vì phát giác từ bên trong tai bệnh nhân có những vật gì bò ra. Nhìn kỹ là “ròi”. Ròi cắn tai bệnh nhân loét hết, làm chẩy máu đỏ lòm mà bệnh nhân không biết, hoặc giả có biết nhưng không còn đủ sức để phản ứng. Anh em thương hại năn nỉ với giám thị xin cho phép lau rửa vết thương giúp và xin bệnh xá cho thuốc bôi vào vết thương. Nhưng ròi không sợ thuốc của bệnh xá và tai cứ lở loét thêm.

Chừng như ròi trong trại giam Cộng sản cũng đói như tù nên đến gần Tết, chúng gặm gần hết, một tai tù nhân.

Thỉnh thoảng, có đồng cảnh thương hại làm phước đem cái gối đầu bằng mây đan của 325 ra sân đập xuống đất một chặp khiến ròi và rệp trong gối văng ra bò lổm ngổm. Toàn trông thấy phát nổi da gà, lợm giọng, không biết làm cách gì cho khỏi buồn nôn, phải bỏ một trái ớt vào miệng nhai để thay dầu gió. (Lúc nào Toàn cũng có ớt rừng tươi hay khô dắt trong người, như các tù nhân khác trong trại. Anh cũng tin ăn nhiều ớt tránh được bệnh ngã nước).

Đến gần ngày cuối năm, bỗng nhiên tù nhân 325 có vẻ tỉnh táo lại, ngồi lên được một mình và chìa tay xin ăn. Anh ta đã biết đói. Nhân dịp gần Tết, nhiều tù nhân được nhà tiếp tế, động lòng thương hại, chia sẻ cho vài mẫu bánh, dăm cái kẹo, một hai trái chuối. Xin được đến đâu, 325 ăn hết đến đó một cách ngon lành…Rồi đến bữa cơm, anh ta xin ăn và nhờ anh em đem phần cơm vào tận giường nằm. Mấy ngày sau, anh ta bắt đầu tỉnh người lại, khi đó mới biết mất nửa tai lúc nào không hay nhưng cũng không tỏ ra vui hay buồn. Anh em chỉ thấy 325 thường đưa tay đặt vào nơi trước kia là vành tai mà rờ rờ rồi lặng người đi, suy nghĩ…

Giữa đêm giao thừa, anh ta lên một cơn sốt nóng li bì. Sáng mồng 1 Tết tỉnh dậy, trong trại vắng tanh nhìn lên nhà Tiểu Công Nghệ thấy mọi người đương ngồi ăn cơm, cơn đói bỗng nổi lên dữ dội, 325 ngồi nán lại trên giường dăm phút cho tỉnh hẳn rồi bước đại xuống đất, chập chững lần lên nhà Tiểu Công Nghệ để kiếm bữa…

Tay chân còn yếu và đầu óc còn bàng hoàng chưa tỉnh hẳn, quãng đường không xa quá một trăm thước, 325 phải đi một lúc lâu. Khi tới bực thềm nhà Tiểu Công Nghệ, 325 không làm sao bước lên nếu không được Toàn và một người nữa ra dìu vào đặt ngồi bên một mâm cơm đã sạch trơn.

Toàn nhìn vị trí của vành tai bị ròi “nhắm” cụt gần nửa vừa buồn cười, vừa thương hại. Anh ngửi một mùi hôi từ người 325 bốc ra nên ngồi lùi ra xa một chút. Trong khi đó, 325 nhìn lần lượt những người ngồi quanh như những người xa lạ chưa gặp bao giờ, rồi lạnh lùng nhìn xuống mặt đất, tìm kiếm. Mãi mãi mới thấy 325 nhặt được mấy hạt cơm vãi còn dính đất đưa lên miệng mấp máy nhai. Sau cùng, 325 nhặt cục xương trâu bỏ trên mâm đưa lên miệng gặm lại rồi mút lấy mút để. Một tay 325 giữ mẫu xương đưa vào miệng gặm, tay kia lượm 4, 5 mẩu xương khác cầm chặt trong tay như sợ người ta đem đi mất.

Một tháng sau, Toàn vẫn thấy 325 giữ đủ 5 cục xương. Lúc rảnh rang và tỉnh táo, ngồi chồm hổm trên trõng, anh tù nọ lại đưa cục xương lên miệng mút chơi như ta ngậm và mút hột khi ăn trái nhãn. Sau này, Toàn có dịp nhìn kỹ, nhận thấy những mẩu xương đó đã nhẵn thín, những cạnh gồ ghề do vết dao chặt trở nên trơn tru, thì ra những cục xương trâu đó mòn đi thật!

Mãi khi 325 khỏi hẳn bệnh, phải đi lao tác cùng với anh em, phần khác sợ mút xương là vi phạm quan điểm của nhân dân, lúc đó 325 mới chịu liệng bỏ những cục xương trâu quý báu một cách ngập ngừng tiếc rẻ. Anh thú thật, nhờ có mấy cục xương đó, anh đã dằn được nhiều cơn đói. Phải chi hàm răng đủ mạnh, anh cũng dám nhai nát mà nuốt từ lâu.

Chiều mồng 3 Tết, lại xảy ra một vụ lộn xộn trong bữa ăn.

Bữa “tiệc vây” sáng ngày mồng 1 Tết chỉ còn là một kỷ niệm trong ký ức tù nhân. Ân huệ đặc biệt của đảng và chánh phủ không dài quá một bữa cơm. Vì vậy, từ bữa cơm sáng mồng 2 Tết lại là những bữa cơm thường lệ, ăn theo khẩu phần. Thực đơn bữa cơm chiều mồng 3 Tết (cho một mâm 4 người ăn) gồm bốn món như sau:

– Một dĩa nhỏ rau muống luộc (đếm được 20 cọng rau).

– Một chút mắm tép.

– Một tô nước rau luộc.

– Một dúm muối hột.

Tù nhân sớt muối làm hai phần, múc một thìa nước rau luộc pha vào muối làm nước chấm thay nước mắm. Đã lâu lắm, tù nhân không được ăn nước mắm dù đó chỉ là muối hột ướp với cua đồng (thay cá), cua ngấu thành thứ nước đen thui. Đó là nước mắm thượng hạng của tù, mỗi tháng được ăn nhiều nhất bốn lần.

Bữa cơm này là bữa cơm cuối trong ba ngày Tết. Đáng lẽ ra, ngày mai tù nhân bắt đầu lao tác nhưng vì nhằm Chủ Nhật nên tù nhân được nghỉ thêm một ngày, làm công tác vệ sinh chung trong trại rồi ngày mốt mới đi làm, toán xay lúa lại xay lúa, toán cuốc đất lại vác cuốc đi làm, toán đi rừng làm củi lại vào rừng v.v…Chỉ còn toán làm than là năm nay ăn Tết luôn trong rừng bên những lò than, gắn liền đời sống của họ vào kết quả của từng lứa than ra lò.

Trước Tết, có mấy tù nhân gánh than về trại, Toàn hỏi thăm sức khỏe của Mạnh, Thanh và Tuyên, được biết họ vẫn bình yên. Không khí ở trại than tương đối được tự do khiến Toàn càng ao ước được đi làm than với các bạn. Còn tại Trại Đầm Đùn, não cân lúc nào cũng căng thẳng, tù nhân luôn luôn hốt hoảng trong một tình trạng lo lắng, hồi hộp, khiếp sợ thường xuyên.

Toàn vừa ăn vừa nghĩ cách vận động xin vào rừng làm than cùng mấy người bạn. Dường như các tù nhân đều nghĩ rằng hết bữa nay là hết Tết, hết nghỉ ngơi, ngày mai cuộc đời vất vả, nhọc nhằn lại tiếp tục nên ai cũng chán nản, buồn bã nhọc nhằn lại tiếp tục nên ai cũng chán nản, buồn bã ít nói, bữa cơm càng mau rồi.

Cả bốn người trong toán đã buông đũa, đặt bốn chén sát bên nhau để chia phần nước rau luộc trong tô. Thói quen của bọn bốn người này là uống nước rau muống luộc sau bữa. Đó cũng là một cách súc miệng nhưng thay vì nhổ ra, họ lại nuốt để những thứ cơm, rau, mắm v.v…còn dính vào miệng trôi hết xuống dạ dày mà có người ví như “thùng nước vo gạo” kẻo phí của trời. Ăn còn chẳng đủ, làm gì có của đổ đi!

Vả lại, như trên đã nói qua, trong Trại giam Đầm Đùn, cái gì cũng cần thiết, từ cái kim, sợi chỉ, mảnh vải rách nát, nước điếu thuốc lào, cục xương trâu đã ăn rồi, nghĩa là bất cứ cái gì cũng cần thiết đối với tù nhân. Các thực phẩm còn cần thiết hơn một bậc nữa.

Mấy thìa nước rau muống luộc trong bữa ăn cũng quan trọng không kém mấy thìa cơm, một miếng cháy, vì không có một miếng nước, rau luộc tức là cơ thể thiếu chất “rau”. Mà thiếu chất rau, tù nhân “phù thũng” mấy hồi? Trong Trại Đầm Đùn, bị phù thũng thì cầm chắc sắp được mặc “sơ mi cói”. (Tù nhân đáp “chuyến tàu suốt” cũng không được mặc “sơ mi…cây”).

Bốn chén được đặt gần nhau, một người nhấc tô nước rau lên lần lượt sớt vào bốn chén còn lại nước rau trong tô, y lại sớt thêm lần nữa, gia giảm cho phần nào phần nấy bằng nhau như có cân lượng hẳn hòi, không thể hơn kém nhau dù nửa thìa, theo đúng khẩu hiệu: Một giọt nước rau luộc là một giọt máu của tù.

Trưởng toán ngồi yên, “án binh bất động”, quan sát việc chia nước rau luộc. Toàn còn chần chờ đợi cho cặn lắng xuống đáy chén, hai người kia đã nhấc chén của mình định đưa lên miệng. Trưởng toán nhanh nhẹn như cắt, thoắt nắm chặt tay một người tù trong toán, dằn xuống và quắc mắt giận dữ nói:

– Hồi nãy, anh có ăn sang phần mắm tép của tôi một miếng. Vậy, phải bớt phần nước rau của anh một nửa. Cũng như sáng hôm kia, tôi đã phải bù một phần canh thịt của tôi.

Vừa nói, Trưởng toán cầm chén của người nọ, dợm sớt nước rau qua chén mình thì người tù nọ dằng lại để phản đối, không dè lỡ tay làm đổ nước rau xuống đất. Thoáng cái, mặt đất hút hết, chỉ còn để lại, một vết xẫm loang trên nền nhà. Trưởng toán tái mặt vì tức, bàn tay cầm chén run run như người đang lên cơn rét, lặng người nhìn kẻ tranh chấp quyền lợi với mình, chưa kịp có thái độ thích ứng thì người kia đã như người mất trí, cuống quýt nhấc một chén khác còn đầy nguyên đưa vào miệng.

Không khí bữa ăn đột nhiên trở thành nghiêm trọng. Toàn đoán ngay sẽ có sự không hay nên vội cầm chén của mình ngồi lùi ra, rồi nói để giải hòa hai bên:

– Tôi xin các anh bớt nóng để giữ hòa khí với nhau. Anh nào cần, tôi xin nhường một nửa…

Không ai lưu ý đến lời hòa giải của Toàn. Trong khi người kia ngậm vành chén vào miệng, Trưởng toán vội nắm chặt vành chén dằng ra. Dằng không được, Trưởng toán nổi giận thêm, thốt ấn mạnh chén vào đối phương khiến người tù mất thăng bằng ngã về đằng sau. Lúc anh ta lổm nhổm ngồi lên, miệng đã đỏ lòm. Vành chén đã bị mẻ một miếng, cứa vào môi anh ta. Một tay cầm chén mẻ, tay kia đưa lên xoa miệng, chìa tay ra coi thấy đỏ lòm những máu, người nọ nổi khùng, lạnh lùng “hừ” một tiếng căm giận rồi xuất kỳ bất ý đập thật mạnh vào giữa mặt Trưởng toán bằng chiếc chén vỡ trong tay. Mọi người chỉ kịp nghe chén bể vụn, nhìn lại thấy mặt Trưởng toán đã đỏ lòm, máu phun ra có vòi. Trưởng toán kêu “ối” một tiếng đưa tay lên bịt chặt mặt, thoáng cái, hai bàn tay bê bết chan hòa những máu rồi máu chảy qua các khe ngón tay, nhỏ giọt xuống đất.

Nhìn những giọt máu tóe ra như những ngôi sao trên mặt đất, Toàn thấy chóng mặt. Anh vốn yếu tim, không dám lại gần can gián đôi bên nữa.

Không khí trong trại căng thẳng thêm khi tù thấy máu đổ. Có người nói:

– Trình giám thị ngay và xin phép đưa người bị thương lên bệnh xá.

Rồi có người chạy nhốn nháo và tiếng quát:

– Yêu cầu giữ trật tự. Cấm đi lại nháo nhác. Ngồi hết cả xuống…

Tiếng quy-lát súng kéo xành xạch khiến nhiều người tái mặt. giám thị xách súng chạy tới, mũi súng lăm lăm chỉa vào đám tù nhân gây…rối.

Theo lệnh của giám thị, tù nhân răm rắp ngồi xuống bên mâm cơm, không nhúc nhích. giám thị đã có nhiều kinh nghiệm về các vụ xung đột của tù nên tiến thẳng đến bên mâm cơm lưu huyết. Y nhìn bộ mặt be bét những máu, dõng dạc hỏi:

– Đầu đuôi ra sao? Vì lý do gì làm mất trật tự?

Người tù rách môi vừa cất tiếng phân trần đã nghe quát:

– Im mồm! Chưa tới anh.

Trưởng toán vuốt máu chan hòa trên mặt, nhắm mắt và nói:

– Trại viên 125 đã đập chén vào giữa mặt tôi. Hắn đã ăn sang phần mắm tép của tôi lại cướp nước rau luộc để uống hết, làm đổ hết phần nước rau của anh em trong toán…

Người tù rách môi định phân trần, giám thị đã chỉa súng vào ngực y và quát hỏi dữ tợn:

– Anh có đả thương Trưởng toán không?

– Dạ…thưa ông giám thị, Trưởng toán không cho tôi uống phần nước rau của tôi…Anh ta lại…

giám thị cắt ngang:

– Im! Trả lời câu hỏi: Anh có đả thương người này không?

– Dạ…Dạ…có! Tôi trót nóng vì…

– Câm miệng!

Một chiếc còng khóa liền tay hai thủ phạm phá rối trật tự. giám thị ra lệnh:

– Lên Văn phòng khai.

Hai tù nhân cùng một toán, cùng cảnh tù tội, lúc bình thường đôi khi còn thương vay cho nhau, nay vì một sự thèm ăn thèm uống nhất thời mà thành đối thủ sắp phải buộc tội lẫn nhau để dành phần phải về mình. Họ lo sợ khi nhớ ra rằng ở trong tù “cái sẩy nẩy ra cái ung”, chỉ vì một miếng nước rau, một miếng mắm tép mà hết sống bởi không chịu nổi những hình phạt của trại giam.

Tối hôm đó, nghe điểm danh trước khi tù nhân ngủ, Toàn không nghe tiếng hô số của hai người bị còng tay dẫn lên Văn phòng hồi chiều. Không ai dám hỏi, chỉ đưa mắt ra hiệu cho nhau giữa những người cùng toán.

Một làn không khí nặng nề bao phủ khắp trại và hình ảnh máu me, trừng phạt khủng khiếp theo dõi người tù cả trong những giấc ngủ. Đêm khuya, những người khó ngủ thường nghe những tiếng ú ớ nói mê của đồng cảnh. Hôm nay, tù nhân được chứng kiến một cảnh tượng khó quên khiến nhiều người dị đoan cho rằng: Năm nay, tù nhân phải chịu nhiều cảnh đau đớn, khổ não khác thường. Vận nước càng điêu linh bao nhiêu, nạn nhân của chế độ càng phải chịu nhục nhã, khổ ải bấy nhiêu.

o O o

Sáng Chủ Nhật, theo thường lệ có lễ chào “quốc kỳ”.

Những tù nhân có kinh nghiệm và tinh ý đều nhận ra ở giữa sân, trước cột cờ, có đóng bốn cái cọc thấp lè tè như cọc dùng để cột trâu ngoài bãi cỏ. Họ giựt mình sợ hãi nhưng không dám hỏi han bàn tán. Nhiều người bỗng trở nên rụt rè, khép nép, bất giác kiểm điểm lại quần áo coi có gì cần sửa cho gọn gàng sạch sẽ hơn không. Khốn nạn! Còn gì nữa mà sửa, anh nào cũng quần một manh, áo một mảnh. Họa hoằn lắm, có anh mặc chiếc áo mới, quần lại tơi tả, rách bươm như sơ mướp. Tình cảnh đã bi đát, thê thảm đến như thế mà có người còn bông lơn một cách vô duyên:

– Ối dào! Cho nó…thoáng!

Không ai cười ai hết vì không có can đảm và thì giờ cười người khác. Bất cứ một sự chẳng may nào cũng có thể khiến người tù “được” mặc quần không đũng!

Một tên lính cảnh vệ bận đồ ka-ki nội hóa, đội nón lá, lăm lăm khẩu súng trường hách dịch nhìn bẩy tám trăm tù nhân một cách giận dữ. Theo lệnh của giám thị, tù nhân răm rắp sắp hàng chuẩn bị làm lễ chào cờ.

Trại bên kia tù nhân Pháp cũng đang chuẩn bị hàng ngũ để làm lễ chào “quốc kỳ” của những người cầm tù họ.

Lá cờ đỏ rực một cách tàn bạo, lúc nào cũng như vừa ăn gan uống máu nạn nhân của chế độ, từ từ tuồn lên ngọn cột trong khi sáu bảy trăm cái miệng hết hơi vì đói vì bệnh, cố gào lên những lời thù hận của bài quốc ca. Tiếng hát chào cờ vọng vào tận những lùm cây xa xa dưới chân núi.

Thủ tục chào cờ xong, trái với lệ thường, tù nhân không được giải tán để về trại ăn cơm sáng mà còn phải đứng lại nghe một tin làm tái mặt nhiều người. Đó là tin một tù nhân bị trừng trị vì phạm tội phá rối trật tự trong trại. Y đã đả thương Trưởng toán sau khi “vi phạm quan điểm của nhân dân”: Ăn lấn sang khẩu phần của người khác, làm hư hao thức ăn và làm hư hại “nghiêm trọng” đồ dùng của trại giam (Toàn đoán ra là bị can đã làm bể một chén sành bới cơm cho tù). Ngoài hư hao về vật chất, thương tích trên cơ thể, thiệt hại về năng xuất, bị can còn nêu một gương xấu có phương hại cho kỷ niệm chung của trại.

Viên giám thị nhìn mặt các tù nhân để nhận định tầm mức ảnh hưởng gây ra bởi những lời tuyên bố đanh thép của y rồi trịnh trọng dằn từng tiếng:

– Hình phạt cho kẻ phạm lỗi lần đầu: 50 roi.

Có những tù nhân nuốt nước miếng ừng ực. Có những anh mặt tái đi vì sợ tuy biết chắc mình vô can trong vụ này.

Sau khi tuyên bố lý do áp dụng luật lệ, giám thị ra lệnh giải tán hàng ngũ. Nhưng giải tán để đứng vây quanh kẻ phạm lỗi đặng chứng kiến sự trừng phạt mà cảnh giác.

Cả một đám đông sáu, bảy trăm người mà không nghe một tiếng xì xào. Chỉ thỉnh thoảng nghe những tiếng ho sù sụ không giữ nổi trong lồng ngực. Tù nhân khép nép trong trật tự, đứng bao quanh một khoảng đất trống giữa bãi chào cờ, lấy bốn cái cọc tre đóng trên bãi làm trung tâm điểm.

Bỗng mọi người nháo nhác quay nhìn về một phía. Rồi không ai bảo ai, các tù nhân tự động đứng dãn ra, để hở lối đi cho một tội nhân khấp khễnh bước vào với sợi xiềng lòng thòng giữa hai cẳng. Toàn chỉ quan sát sơ qua là biết tội nhân trước lúc đó đã bị xiềng thượng khẩn, nghĩa là đã bị ban Quản-trị quy cho một tội nặng. Vì không có vải rách hoặc lá chuối khô quấn vào cạnh khoen sắt, cổ chân tội nhân đã tóe máu.

Hình như y không lưu ý đến cổ chân chảy máu, chỉ lộ vẻ ngơ ngác đần độn có lẽ vì quá sợ hình phạt sắp phải chịu. Mới từ chiều hôm qua là lúc xẩy ra vụ đánh lộn với Trưởng toán vì mấy thìa nước rau luộc, đến sáng hôm nay, mặt y già xọm và hốc hác trông thấy.

Vào bên trong hàng rào người, y thẫn thờ nhìn viên giám thị rồi đứng lặng người, khoanh tay ngó khoảng đất giữa 4 chiếc cọc. Thốt nhiên tội nhân chẩy nước mắt ròng ròng.

Y chưa khóc được bao lâu thì ngoảnh cổ ngó một người đang bước tới. Thốt nhiên lại yên lặng như tờ. Cả đến những tù nhân mắc bệnh ho kinh niên, ho sù sự luôn miệng, lúc đó cũng…tịt cả ho. Chỉ vì họ thất đảm trước sự xuất hiện của một nhân vật tuy giữ địa vị tầm thường mà có “quyền hành” ghê gớm. Mấy trăm người có mặt đều thì thầm trong trí hai tiếng khủng khiếp: Đầu Trâu.

Phải! Đầu Trâu đã tới làm nhiệm vụ. Y cầm lắt lẻo trong tay một khúc roi dài chừng hơn thước tây. Đó là một khúc “roi mây mật”, khi đánh, roi quất vào thịt cứ “ngọt lịm” đi như mật.

Vài tù nhân lúc rảnh rỗi bàn phiếm về tác dụng ghê gớm của cây roi mây mật đã giải thích một cách hài hước như vậy. Nhưng khi trông thấy Đầu Trâu xách roi, hồn vía họ bay tuốt lên mây.

Bỗng Đầu Trâu nhìn sững kẻ sắp là vật hy sinh dưới ngọn roi của y rồi ra lệnh:

– Nằm xuống!

Tội nhân lắp bắp trong miệng hai tiếng “vâng ạ” lúng túng cởi áo. Trời rét ngọt, gió bấc vùng núi thổi đều từng ngọn như mũi dao lách vào da thịt. Thoáng cái, tội nhân chỉ còn đeo trên mình có chiếc xà lỏn rách. Đầu Trâu đưa mắt một cái, tội nhân rụt rè mấy giây rồi cởi quần ra, liệng xuống đất. Y run lên cầm cập, lấm lét nhìn Đầu Trâu. Có lẽ y nghiến hai hàm răng vào nhau cho bớt sợ nên Toàn thấy xương quai hàm của y giây lát lại nổi lên rõ mồn một.

Lệ đánh đòn của Trại giam Đầm Đùn là như vậy. Khi chịu đòn, tội nhân phải trần truồng không mảnh vải trên người. Nếu mặc quần áo thì đó là quần áo chứ không phải tội nhân chịu đòn. Tội nhân lạnh lùng nằm sấp xuống đất, dang hai tay và hai chân. Một người đã chờ sẵn theo lệnh của giám thị với vật dụng cần thiết: đó là bốn sợi dây luộc, nhỏ bằng ngón tay. Người nọ buộc hai cổ tay, hai cổ chân tội nhân bằng bốn sợi dây, còn bốn đầu dây buộc vào bốn cây cọc, siết thật chặt.

Bốn sợi dây căng thẳng nằm lơ lửng cách mặt đất chừng ngón tay khiến thân thể người tù nằm đó có vẻ dài thêm ra. Hắn nằm nghiêng một bên má, ngó về phái Đầu Trâu như an đành với số phận, hai hàng nước mắt bỗng lại ròng ròng. Toàn thấy cảnh tượng như vậy cũng muốn ứa nước mắt. Đây là lần đầu tiên được chứng kiến nên anh vừa hồi hộp vừa thương tâm. Nhưng cảm giác rõ rệt nhất trong lòng anh là sự sợ hãi kinh khủng. Nhất là cái khung cảnh đã làm cho anh mất vía, bàng hoàng như đang sống trong một cảnh tra tấn của quỷ dữ dưới âm ty địa ngục vẫn tả trong các kinh sách Nhà Phật.

—>7

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.