Trần Văn Thái: TRẠI ĐẦM ĐÙN (1…HẾT)

7.

Nằm nghiêng một bên má, ngó chừng Đầu Trâu, tội nhân 125 đang nghĩ ngợi, tính toán để “hóa giải” bớt hiệu lực của những ngọn roi song mật. Mặt anh ta lại thộn ra một cách kỳ cục. Đầu Trâu liếc nhìn và mỉm cười, ra vẻ đã khám phá được mưu kế của nạn nhân. Y cười mà không phải cười, nghĩa là y nhếch mép để lộ mấy cái răng cửa đen thui khập khểnh, nom tàn nhẫn một cách khiếp đảm.

Chung quanh vẫn yên lặng như tờ. Không khí nặng nề như sáu, bảy trăm người có mặt đang coi xử tử hình một người trong khi chờ đợi đến lượt mình, chứ không phải một vụ đánh đòn trừng phạt tầm thường.

Đầu Trâu cầm ngọn roi mây nằm ngang trong tay, đắn đo từng bước trên bãi đất, đi vòng quanh người nằm đấy, kiểm soát lại bằng mắt những mối dây buộc vào cọc. Đó là một việc làm gần như vô ích vì từ khi Đầu Trâu nhận lãnh công việc đánh người, chưa bao giờ xảy ra vụ sút dây trói.

Không khí thật căng thẳng trong sự chờ đợi. Phạm nhân hồi hộp, não cân căng thẳng quá nên mọi người thấy anh ta nhắm mắt lại và hai hàm răng nghiến hằn lên sau lằn da má, như anh ta đang nhai gì trong miệng, sự sợ hãi hay sự thống khổ nhục nhã chẳng hạn. Một tiếng quát vang lên của Đầu Trâu khiến mọi người kinh hãi:

– Úp mặt xuống đất! Thằng kia!

Phạm nhân lập tức gục trán chống xuống đất, đưa miệng và mũi hơi cao hơn mặt đất để thở. Anh ta chỉ kịp thoáng nghĩ “Thôi, thế là chết”, rồi nhăn rút mặt lại, chuẩn bị một sự chịu đựng phi thường. Nhưng Đầu Trâu vẫn chưa múa roi. Y còn vờn chung quanh phạm nhân với những mục đích khác nhau.

Thứ nhất, về phương diện tâm lý. Nếu y đánh ngay, thần kinh hệ phạm nhân đỡ bị căng thẳng và cả những người chứng kiến cũng bớt khiếp hãi, hồi hộp. Mối nguy hiểm sắp sửa tới, ta kinh sợ, nhưng khi tới rồi, sự sợ hãi giảm đi và ta sẵn sàng chịu đựng.

Thứ hai, y nghiên cứu đặt những ngọn roi vào vị trí nào trên cơ thể, đánh làm sao cho “đẹp” và phạm nhân thấm đòn!

Đột nhiên mấy tiếng “vút vút” rít lên trong làm gió lạnh khiến mọi người rùng mình, vài tù nhân quá nhát sợ nhắm cả mắt lại như chính mình đang bị đòn. Người nằm dưới đất hơi quằn quại, một vài thớ thịt trên lưng, trên mông nổi lên lặn xuống. Toàn đã được những tù nhân có kinh nghiệm truyền cho một bí quyết chịu đòn. Khi bị đòn, phải cố gắng bắt tâm trí nghĩ đến những chuyện vui sướng đã qua, dồn hết tâm trí vào những chuyện đó, mặc cho xác thân bị hành hạ. Như thế, hiệu lực của ngọn roi sẽ giảm đi rất nhiều. 125 cũng biết “bí truyền” ấy, vậy mà khi chưa một ngọn roi nào chạm vào da, bắp thịt anh đã chuyển động gồng lên như đang chịu đòn. Cho hay từ lý thuyết đến thực hành biết bao khó khăn công sức, khác chi đang ăn theo khẩu phần C làm thế nào để được cải sang khẩu phần B vậy.

Nhìn người bạn tù cùng toán nằm trên mặt đất không mảnh vải trên người, tứ chi bị trói vào cọc ở bốn góc mường tượng như con chó sắp bị đưa ra làm thịt, anh cảm thấy nhục nhã vô cùng, tưởng đang sống dưới thời phong kiến mấy trăm năm về trước. Không biết vì xấu hổ hay thương xót cho số phận con người dưới chế độ phi nhân, anh lại ứa nước mắt, phải cúi mặt xuống đưa tay quệt thật nhanh. Vì ứa nước mắt như thế là không tiến bộ là vi phạm quan điểm của nhân dân, là đồng lõa với kẻ phạm lỗi.

May quá, không có ai thấy trước khi mắt anh đã ráo hoảnh.

– Đét..! Đét..! Đét..! Đét!!

Bốn năm đường roi mây quật tới tấp lên mình tội phạm giữa lúc bất ngờ nhất. Cây roi siết vào không khí lạnh bật ra những tiếng veo véo, tức thì thân thể phạm nhân nẩy lên như nằm trên tấm nệm lò xo. Rồi những tiếng “đen đét” như mưa rào tháng Tư vụt xuống khoảng bên dưới thắt lưng và trên hai mông đít.

Người nằm dưới đất bật lên khóc ai oán:

– Trời đất ơi! Cha mẹ ơi!

Đầu Trâu ngừng tay roi thốt giận dữ như một ông tướng bị lính xúc phạm đến danh dự:

– Câm mồm! Trừ năm roi!

“Trừ năm roi”, có nghĩa là năm roi vừa đánh không tính, phải đánh lại. Khi đó Đầu Trâu đã đánh được 15 roi rồi, nhưng chỉ kể 10 roi. Còn 40 roi nữa.

Phạm nhân úp mặt xuống đất, nức nở như muốn than van với đất nỗi đau đớn đang phải chịu. Nhưng đất dầy quá lại không có tai không nghe. Đầu Trâu chú ý nhìn những vết roi đang thành hình trên mông phạm nhân.

Vừa rồi, vết roi mới bầm, lúc này đã xẫm lại vì máu đã rớm ra.

Đã đến lúc Đầu Trâu vào bài, vì y đánh có bài. Y lùi lại một bước, nhắc tay roi lên và vụt xuống. Nhưng y tính sao cho khoảng roi chạm vào da thịt không dài quá 15 phân để bao nhiêu sức mạnh của bắp thịt cánh tay chỉ dồn vào một diện tích tối thiểu. Như thế, sự đau đớn gây ra cho kẻ bị đánh sẽ gấp bội.

Nhưng chưa phải có thế mà thôi. Đúng lúc đầu roi song mật vừa quất vào da thịt phạm nhân thì y “vặn” cổ tay cầm roi một cái, đồng thời giựt mạnh theo chiều dài của ngọn roi với một kỹ thuật lạ lùng. Tức thì làn da của phạm nhân bị bứt lên từng mảnh hoặc bị xé như cứa bằng dao.

Đến roi thứ 30, máu ở hai bên mông đít đã chan hòa. Trên cơ thể của phạm nhân, hai mông đít là bộ phận nhiều thịt nhất đã bị tơi tả rách nát. Phạm nhân chỉ còn rên hừ hừ, ngay cả lúc Đầu Trâu ngừng tay roi. Đám tù vây quanh thấy phạm nhân thở rất gấp, bụng y phồng lên xẹp xuống rất mạnh. Nhưng ít người rõ được thâm ý ác độc của Đầu Trâu, hậu quả của vụ trừng phạt này còn tác động lâu dài rất nguy hiểm đến đời sống của phạm nhân sau này.

Lúc bị đánh đau quá, khí lực trong người vận dụng lên hết để chịu đựng rồi thoát ra bên ngoài theo hơi thở, theo lỗ chân lông. Đến lúc hít vào thì hít phải hơi “đất” có chất “hàn”. Chất “hàn” đó liếm vào trong cơ thể, vào lục phủ ngũ tạng rồi gây nên nhiều ác chứng về sau. Hơn thế nữa, luôn luôn tù nhân bị đòn vì phạm lỗi nặng phải giam trong xà lim, cùm hai chân. Đít và lưng bị rách nát, tù nhân đau không thể nằm ngửa nằm nghiêng mà phải nằm sấp trong lúc cơ thể suy nhược. Hơi đất liếm vào phủ tạng nên tù nhân bị “chướng”, mất mạng như bỡn!

Cây roi trong tay Đầu Trâu lại vun vút trong gió lạnh liền một hơi đến chục lần. Phạm nhân luôn miệng “hứ! hứ!” như đang bị bào thịt rách da rồi nằm ngay đơ…hệt người ngủ say. Mặt anh ta nghiêng về một bên. Một số tù nhân thấy hai đường máu đỏ quạch từ hai lỗ mũi nạn nhân bò ra và bên mép sát đất cũng rỉ máu tươi. Đầu Trâu đánh cách nào mà tuy chỉ đánh trên lưng và mông đít, máu phạm nhân lại ứa ra đằng miệng, đằng mũi! Những người chưa thấy lần nào run lên cầm cập, một số toát mồ hôi đầm mình còn một số dấu mặt bật lên khóc nức nở như con nít. Họ không thể giữ sự thương tâm ở trong lòng lâu hơn nữa.

– Lấy một gáo nước lạnh!

Tội nhân đã chết giấc, phải dùng nước lạnh làm cho tỉnh lại đặng còn chịu đòn tiếp. Đánh một người đã chết giấc khác gì đánh vào thây ma. Mà thây ma còn biết gì là đau đớn! Nếu tiếp tục, đòn phạt sẽ vô hình trung trở nên vô dụng, phí công!

Đầu Trâu thong thả nghiêng gáo nước lạnh cho chảy thành một giòng nước nhỏ vào giữa mặt tội nhân rồi đưa lần xuống phía dưới cho chẩy trên lưng và mông đít. Gặp gió lạnh, máu đã đông lại từng mảng trên mông, giờ gặp nước bong ra và trôi xuống đất, để lộ những khoảng thịt bầy nhầy nát bấy! Bấy giờ, mọi người mới thấy rõ Đầu Trâu đã luyện khoa đánh đòn đến mức tinh vi tuyệt đỉnh: ngọn roi sau đè lên ngọn roi trước không sai mảy may khiến da thịt rách tung như thế. Có tù nhân quá khiếp sợ đòn của Đầu Trâu phê bình rằng: Đầu Trâu quen tay quen bài đến mức có thể nhắm mắt cũng không trật một ngọn roi ra ngoài vết roi trước, nếu hắn muốn.

Tội nhân chợt tỉnh, bỡ ngỡ nhìn lên trời cao vòi vọi và đỉnh núi xanh xanh phía xa xa, rồi lại não nề nhắm mắt. Sau đó vài giây, anh ta bàng hoàng mở mắt rồi chừng như tỉnh hẳn, nhận thức được việc đang xảy ra, anh ta gào lên một tiếng trong cổ họng. Tiếng gào đó dù không có âm thanh rõ rệt nhưng chắc chắn có ý nghĩa như một lời uất hận, một lời than thân, một lời nguyền rủa độc địa khiến những người nghe thấy đều rùng mình khiếp hãi. Đầu Trâu quắc mắt, nhe răng định quát…lại thôi.

Ngọn roi song mật lại veo véo trong gió lạnh. Còn hai chục roi, Đầu Trâu nhắm đánh vào khoảng giữa hai mông đít, trên ba đốt xương sống cuối cùng. Chỉ thấy tội nhân nhổm đít lên thật cao rồi rơi phịch xuống, quằn quại như con rắn bị đánh dập đầu. Cuối cùng, tội nhân nằm ngay đơ để chịu đựng mấy roi kết thúc.

Đấu Trâu hạ ngọn roi, bước lại trước mặt giám thị, lễ phép nói:

– Thưa đồng chí giám thị, đã đủ năm mươi roi!

giám thị không bỏ sót một chi tiết nhỏ nào từ đầu đến cuối, lạnh lùng gật đầu:

– Được rồi!

Rồi quay lại bảo đám đông:

– Cởi trói ra, cho về xà-lim.

Cùng với mọi người, Toàn sán lại gần tội nhân và thấy đốt xương sống đã bị đánh bật xương lòi tủy ra ngoài. Trong khi mỗi người cởi một đầu dây, Toàn khẽ vỗ vai người nằm đó, ra hiệu ngồi lên. Nhưng anh ta vẫn nằm nguyên vị khiến một người khác vừa đắp chiếc áo rách lên mình anh cho bớt lạnh vừa nắm tóc mai giật cho tỉnh lại. Cũng vô hiệu.

Lúc đó, Toàn mới thấy mồm anh ta đầy máu. Vài ba người hốt hoảng xúm lại nhấc lên, nhận ra thân thể anh đã mềm một cách khác thường, không phải cái mềm của thân người còn sống.

Một người rờ vào tim tội nhân, tim đã hết đập! Một người vạch mồm để coi máu ở đâu chảy ra nhiều như vậy. Khi đó, mọi người mới hiểu tại sao tim anh ta hết đập.

Thì ra anh ta đã nhai nát lưỡi để tự tử.

o O o

Cách đó 3 ngày, một buổi sáng, Toàn xung phong theo đoàn tù đi chặt củi ở rừng. Kể từ ngày ông già tóc bạc treo cổ tự tử trong rừng bằng giây luộc, anh còn xung phong nhiều lần nữa. Mỗi lần đi làm củi, anh lại nhớ mấy người bạn đi làm lò than.

Hình ảnh vụ Đầu Trâu đánh đòn bữa trước lại hiện ra trong óc Toàn, rõ ràng và đẫm máu. Nhất là cái kết cục, thật bất ngờ đáng sợ. Anh biết chắc suốt đời không thể quên nổi. Tuy đa số tù nhân tội nghiệp cho 125, nhưng mừng thầm anh ta đã được giải thoát khỏi cảnh ô nhục.

Bữa nay, số người vào rừng làm củi có tới 60 tức là 12 toán 5 người, do Trưởng Ngành Củi trong Tổ SảnXuất hướng dẫn và chỉ huy. Về phía ban Quản-trị có một giám thị và hai cảnh vệ võ trang, theo vào khu rừng xa khoảng 15 cây số, một khu rừng vẫn được khai thác lấy gỗ, củi lâu nay.

Từ hôm xẩy ra vụ xung đột vì mấy thìa nước rau luộc đưa đến kết quả một người bị đòn trừng phạt khiến phải tự tử ngay trước mặt sáu bảy trăm đồng cảnh và một người nằm bệnh xá điều trị trước khi phải thọ hình phạt chưa biết như thế nào, toán của Toàn chỉ còn hai mống. Hôm sau, có gần trăm tù nhân từ các nơi đưa đến, theo lệnh của ban Quản-trị bọn này được chia ra nhiều toán. Toàn được chỉ định làm Trưởng toán, coi 4 người khác trong phạm vi toán của anh. Toàn mừng thầm không phải vì Trưởng toán có quyền lợi gì hơn các toán viên nhưng ít ra đã được công nhận có hạnh kiểm tốt, tư tưởng đúng đường lối Nhà nước ấn định, có thiện chí xung phong trong mọi công tác v.v…

Nhận xét tổng quát, các tù nhân mới nhập Trại giam Đầm Đùn tang thương không kém những người đã bị giam lâu ngày tại đây. Người nào, người nấy đều bị mòn mỏi, tinh thần hoảng hốt, ghẻ lở, quần áo tả tơi, mặt mày hốc hác một vẻ đặc biệt “ốm đói” như bất cứ tù nhân nào của trại giam CS thời đó. Trong một lúc vắng vẻ, Toàn kín đáo và thân mật hỏi một trong hai người mới nhập toán, được biết họ từ một trại giam gần Thái Nguyên bị đưa về. Họ phải lẽo đẽo đi hơn 4 tuần lễ mới về đến Đầm Đùn sau khi đã rơi rớt quá nửa ở dọc đường, một số lớn chết gục trên đường thiên lý, một số bị bắn chết vì mưu toan trốn và một số rất ít còn đủ sức chạy thì trốn thoát nhờ chạy đại được vào giữa mặt trận, nơi hai bên đang rình rập nhau mà chưa được lịnh khai hỏa. Do đó, lính cảnh vệ không dám nổ súng vì sợ quân viễn chinh Pháp phát giác cuộc di chuyển tù nhân. Cũng do người này, Toàn được biết thêm tình hình chiến sự vùng Trung Châu Bắc Việt đang cực kỳ gay go, nghiêm trọng nên chính quyền CS phải cho di chuyển tù nhân các nơi vào các vùng xa xôi, núi non hiểm trở trong vùng Chí Nê và Tây Bắc Thanh Hóa v.v…

Hai người tù mới nhập toán mang số 982 và 983, một người có vẻ thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản, một người thuộc thành phần thợ thuyền lao động như thợ máy, và có bàn tay bốn ngón. Khi Toàn hỏi thăm người này thản nhiên kể lại trường hợp hy hữu nhờ nhanh trí và gan dạ anh ta đã thoát chết. Một bữa nọ ở Việt Bắc sau khi phạt cây, anh ta xúc đất đổ nền lấy chỗ dựng lều tạm trú trong rừng cho đoàn tù đang bới đất chợt thấy buốt đánh nhói nơi đầu ngón tay trỏ bàn tay trái như bị rắn độc cắn, anh ta vội nắm chặt ngón tay bị thương hãm cho máu độc khỏi chạy về tim và thấy một con bò cạp đen thui đang chui và lỗ nứt dưới đất. Biết bị bò cạp chích, anh ta vội giằng lấy con dao trong tay người bạn, kê ngay ngón tay bị chích lên hòn đá, chặt một nhát. Chẳng may khi đó, mắt đã bắt đầu hoa, anh ta chỉ chặt được có một đốt, liền ngay bên vết cắn, nên cái cảm giác buốt nhói vẫn còn. Anh ta phải chặt lại nhát thứ hai, cụt luôn hai đốt còn lại, rồi loạng choạng ngã xuống đất, miệng la rầm rĩ, tay vẫn bịt chắt vết thương cho khỏi mất nhiều máu. Mấy người bạn tù xúm vào nhấc anh lên và kiếm lá dịt vết thương cho cầm máu. Ấy vậy mà cũng phải gần hai tháng vết thương mới lên da non.

Nọc bò cạp độc đến nỗi chỉ một lúc sau, đốt tay bị chặt đen thui lại, đến quá trưa hôm sau bắt đầu thối. Anh ta đào một lỗ nhỏ chôn mấy đốt ngón tay, khi đó anh ta buồn bã một cách kỳ cục và có cảm tưởng như đang đào huyệt để tự chôn mình.

Theo thể lệ mới, công tác làm củi nặng nề hơn trước nhiều. Ngoài hai bó củi tù nhân phải gánh về, còn phải chặt thêm hai gánh củi nữa (4 bó) xếp ngay ngắn bên những đống của người khác, để tù nhân khác sẽ đến gánh về trại. Như thế luôn luôn có một số lượng củi đã làm sẵn xếp trong rừng. Cho thi hành công tác làm củi theo tiêu chuẩn mới ấn định lại, nhà cầm quyền CS nhằm hai mục đích:

– Sử dụng hết mức sức lao động của tù nhân.

– Đầy đọa tù nhân cho mau chết đặng loại bớt một số phần tử không có lợi, hoặc có hại cho xã hội chủ nghĩa.

Vì tiêu chuẩn đặt ra cao hơn trước nhiều nên khi vào tới rừng rồi, người nào người nấy hăm hở bắt tay vào việc ngay, chỉ sợ không đủ làm kịp số lượng bắt buộc. Toàn cùng ba người đồng toán chung sức làm một cây như mọi lần.

Trời tuy rất lạnh, nhưng làm củi chừng tiếng đồng hồ, người nào người nấy lột bỏ áo, buộc hai tay áo trước cổ, thân áo để lòa xòa trên lưng ướt đẫm mồ hôi. Riêng Toàn vì yếu phổi và chớm bị bệnh hen nên vẫn mặc áo trong lúc làm cây tuy anh cho đó là một sự phí phạm tai hại.

Chợt nhớ đến tù nhân 125 chết mấy hôm trước, Toàn ngừng tay dao hỏi người bạn cùng toán:

– Này, không biết xác của 125 ra bãi lúc nào nhỉ?

– Sau bữa cơm một tiếng đồng hồ. Khi ban Quản-trị đã xóa tên, cho “chạy giấy” xuống đem chôn ngoài bãi.

– Tội nghiệp! Lúc chôn 125 có được mặc quần áo không?

– Nghe đâu chỉ có các quần đùi rách, còn các áo thì…tuy cũng rách nhưng bị ai lột từ bao giờ.

Toàn hiểu ý câu nói của người bạn. Anh hỏi qua mục khác:

– Thế có được quấn manh chiếu không?

Người bạn lắc đầu:

– Lúc này chiếu khan lắm! Trong trại thiếu nhiều chiếu nên ban Quản-trị cho bó qua loa bằng bao cói cũ rồi cho khiêng xác 125 ra bãi chôn.

Ngừng lại, nhìn trước nhìn sau, người tù nọ hạ thấp giọng:

– Nghe nói lúc bỏ xác xuống hố, miệng 125 bỗng ứa ra nhiều máu tươi. Không biết anh ta còn uất ức điều chi vậy? Thấy Đầu Trâu múa roi mà tôi mất vía vì sợ, 125 uất ức Đầu Trâu chớ còn uất ức ai nữa! Anh em có tranh giành nhau chẳng qua vì đói, trong tâm vẫn thương xót nhau chớ đâu có thù ghét gì!

Bỗng anh chàng nọ bỏ dao xuống, lật đật cởi hai tay áo buộc trên cổ ngắm nghía tìm tòi, nói một mình:

– Trời ơi! Rận cắn ngứa quá, bị bệnh chấy rận thì bỏ mẹ!

Anh ta vừa lột áo ra cầm tay, Toàn đã rợn da gà khắp mình. Trên lưng áo, những con rận bò chi chít như kiến, mỗi lúc một nhiều. Tù làm việc nặng, nhiệt năng trong cơ thể bốc ra, rận gặp hơi ấm, bò lổm ngổm đi kiếm ăn.

Vấn đề rận, rệp và ròi (ở các vết thương lở loét lâu ngày) của tù nhân là một vấn đề nan giải vì nơi đâu có tù là có những thứ “chết tiệt” đó. Lâu ngày, tù cũng quen đi, ít bận tâm, chỉ những lúc rảnh rỗi mới phát động chiến dịch “tổng tấn công” rận và rệp.

Người nào chẳng may mắc vòng lao lý – đặc biệt là tù nhân trại giam CS- đều hiểu thế nào là rệp, ròi và rận, nhất là rận. Vì lý do thiếu vệ sinh chung, nên chỉ nằm một lúc trong trại giam là có rận, dù trước đó trong người không có một con. Rận truyền từ người nọ sang người kia bằng đủ mọi cách, nhưng có một cách nhiều người không biết là rận di chuyển nhờ hơi gió. Một cơn gió thổi lướt qua đủ để cả chục con rận đực, rận cái lợi dụng cánh gió bay sang người khác để sinh sôi nẩy nở. Vả lại mặt khác, cả Trại Đầm Đùn chỉ có một cái ao hàng ngày 7, 8 trăm người tắm rửa, giặt rũ, làm sao tránh được nạn rận, chấy. Rận nổi lền bềnh trên mặt ao ngoi ngóp chờ những người sau đến giặt là bám vào quần áo giặt của họ.

Vì thế, một trong những công việc chính và cần thiết cho tù lúc rảnh rỗi là ngồi ngoài nắng bắt rận. Buổi tối trước khi đi ngủ, tù nhân nằm trong bóng đêm, đưa tay lần áo trong, rờ rờ các nếp áo cũng bắt được rận như thường. Nhưng bắt rận một cách thiếu khoa học như thế cũng coi như chẳng có kết quả gì nên tù nhân truyền cho nhau nhiều cách bắt rận, tựu trung có mấy phương pháp chính tùy hoàn cảnh áp dụng:

– Dùng nước sôi ngâm quần áo cho chết rận và trứng.

– Giết rận bằng máy.

– Dùng sâu bọ cho chúng bắt rận thay người.

Phương pháp đầu rất hiệu nghiệm nhưng tù nhân không có điều kiện thực hiện. Trong trại giam CS người tù nào được quyền có nồi nước sôi ngâm quần áo trong khi một ấm nước đun sôi để uống cũng không thể có, không bao giờ có.

Theo phương pháp thứ hai, người tù trải quần áo lên trên một mặt phẳng và rắn, như mặt bể nước bằng xi măng hay mặt sàn gạch, rồi dùng một cái chai lăn mạnh lên trên quần áo để giết rận. Phương pháp này giết mau nhưng không giết hết vì rận khôn không kém người, thấy nguy là chúng chui vào ẩn núp giữa những khe nếp áo hoặc những đường khâu dầy, sức “cán” của chai không ảnh hưởng tới chúng. Như thế, phương pháp thứ hai cũng chỉ có hiệu quả phần nào thôi.

Còn phương pháp thứ ba, Toàn có nghe nói nhưng chưa có dịp áp dụng.

Hai tù nhân mới tới trại mấy bữa nay nhập toán do Toàn làm trưởng, cả hai đang bị rận cắn đỏ mẩn cả người cả cổ, luôn luôn thò tay vào trong áo gãi lấy gãi để, mặt “nhăn nhó như nhà khó ăn gừng”. Cả hai nhất tề cởi trần, phơi áo trên một tảng đá có ánh nắng rọi tới, dùng ánh sáng buộc rận ra khỏi các “hầm trú ẩn” của chúng.

Toàn bỗng thấy ngứa ngáy khắp người như hàng trăm con rận cắn anh một lúc. Sự thật, hơi nóng trong người khiến rận bị khích thích bò lung tung gây cho anh cảm giác đó. Anh bèn cởi khuy áo cho bớt nực, rồi quay nhìn hai người tù mới làm việc gần đó. Hiển nhiên hai người này đã có nhiều kinh nghiệm ở trại giam nên dù mới nhập trại đã dám xung phong đi rừng làm củi không bỡ ngỡ chút nào. Nhưng trong hai người, một người có vẻ làm nghề trí óc, còn người kia khỏe mạnh hơn làm đến đâu gọn gàng đến đấy, rõ ràng là một tay lao động, chuyên nghiệp. Số lượng củi anh ta làm ra tới lúc này coi đã bộn, ngổn ngang một đồng. Toàn so sánh với đống củi của mình, thầm phục trại viên kia làm giỏi thật sự.

Mặt trời đã gần đứng bóng. Ánh nắng một ngày đầu Xuân ấm áp, tưng bừng xao động trên ngọn cây, nhẩy múa trên bãi cỏ, lấp loáng trên những tảng núi đá rải rác đây đó. Cơn mưa phùn lúc sáng sớm đã tạnh hẳn khi mọi người vượt được già nửa quãng đường vào rừng. Mấy người tù ngước trông bầu trời mưa phùn trong sương muối và “nghe” thoảng hơi gió nồm, đã đoán rằng ngày hôm nay trời sẽ nắng ấm. Vậy mà đúng quá. Kinh nghiệm về thời tiết của người tù bị khổ sai nơi nước độc thật là kinh nghiệm xương náu.

Toàn bỗng thấy đói bụng. Anh sợ nhất thời giờ gần trưa là lúc anh bị cơn đói hành hạ, gần nửa năm mà anh chưa làm quen được với cơn đói buổi trưa, nhất là khi vào rừng làm củi. Những lúc đó, mặt anh thường nhợt nhạt, mồ hôi vả ra cùng mình.

Toàn lại leo lên ngọn cây đã chặt gần trụi hết cành, xách luôn cả con dao theo, làm như sắp chặt thêm nếu thấy giám thị hay lính cảnh vệ theo dõi việc làm. Đứng trên cao, anh đưa mắt quan sát một vòng. Hai chú cảnh vệ đã mỏi lưng và chán ngán công việc buồn tẻ của tù nhân, dựng súng một bên và chăm chú đánh cờ, giây lát mới ngửng đầu lên ngó chừng tù. Còn giám thị kè kè khẩu súng bên hông, thong thả đi từ nơi này đến nơi khác kiểm soát công việc của từng toán.

Tiếng rìu chặt chan chát vào thân cây, lúc mau lúc thưa, dội vào tận các vách đá. Thỉnh thoảng, có tiếng la báo hiệu rồi thân cây đổ rầm rầm.

Đứng trên cây cao, Toàn thấy mấy thửa ruộng bỏ hoang, sau vách đá. Trong năm, nơi đây là mấy ruộng mía rậm rạp xanh tươi, Mạnh và Tuyên đã lẻn đến ăn trộm mía như những kẻ chết khát. Nghe họ kể lại, Toàn chảy nước miếng vì thèm.

Toàn đảo mắt nhìn kỹ lại lần nữa. Không một ruộng khoai, ruộng cà, ruộng sắn. Nghĩa là không có một thứ gì ăn được. Để an ủi, Toàn lẩm bẩm:

– Thôi! Càng đỡ nguy hiểm.

Tù luôn luôn nhớ ăn trộm hoa mầu của nhân dân là một tội rất nặng sẽ bị cùm, nhốt xà-lim liền. Và rất có thể bị “phong vương”. Hình phạt phong vương thật khủng khiếp, từ trước đến nay, bị tội này, chỉ có một tù nhân sống sót không hiểu vì lẽ gì. Danh tính tù nhân đó được ghi vào niên giám với lời cước chú cần thiết để ban Quản-trị có tài liệu nghiên cứu thêm về tính cách hữu hiệu của hình phạt và sức chịu đựng của tù.

Nhưng ăn trộm hoa màu vô chủ cũng bị kết tội không kém nặng nề. Vì nếu vô chủ, hoa mầu đó thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, và là tài sản quốc gia. Mà ăn trộm tài sản quốc gia là kẻ phá hoại chế độ.

Toàn bất giác lạnh người vì sợ, tưởng tượng rằng nếu lát nữa đây trong giờ nghỉ trưa, có tìm thấy một trái mít rừng, anh cũng đành lắc đầu từ chối không dám sờ tới, sợ mất mạng!!

Toàn nghĩ thế nên bao nhiêu sinh lực trong người như toát thành hơi bay đi hết. Anh chán nản leo xuống tiếp tục tính toán thầm số lượng củi đã chặt được. Luôn luôn anh lo sợ không kịp đạt đúng tiêu chuẩn.

Một hồi còi ré lên, lệnh tạm nghỉ một tiếng đồng hồ được thông báo cho toàn thể tù nhân xa gần. Mọi người xếp dọn dụng cụ nghỉ mệt một lát lấy sức, đặng làm cho xong trước khi gánh một phần củi về trại.

Toàn còn đương lom khom thu xếp, tù mới 982 bước lại gần thì thầm:

– Hay quá, anh Trưởng toán à!

Toàn chưa kịp hỏi, 982 đã mừng rỡ, hí hửng:

– Tôi vừa kiếm được một thứ rất có ích cho anh em trại viên.

Toàn ngạc nhiên, đoán chừng là một thứ cây, quả hay lá gì có thể ăn được, nước miếng liền ứa ra đầy miệng. Nhưng Toàn vẫn dè dặt:

– Gì thế, bạn?

982 chỉ bụi trẻ mọc bên vách đá rồi nói:

– May quá, tôi tìm thấy một ổ kiến bò nhọt.

Đang đói, Toàn liên tưởng đến tổ ong và mật ong, tưởng tổ kiến này là thứ ăn được cho đỡ đói đã mừng. Tuy vậy, anh vẫn làm bộ, hỏi:

– Để làm chi vậy?

982 thản nhiên:

– Để bắt…rận!

Toàn vừa lạ lùng vừa chán nản vì anh lại đói cào đói cấu, ngơ ngác hỏi như người mất hồn.

– Có ăn được không?

982 bật cười:

– Mình không ăn được kiến bò nhọt nhưng nó “ăn” được mình!

Toàn chán phè, lơ đãng nhìn đây đó, hai tay bóp bụng.

982 nói đúng phần nào. Kiến bò nhọt là một loại kiến dữ tợn thường để lại kỷ niệm khó quên cho những người chẳng may bị nó đốt. Loài kiến này thường kiếm ăn trong đám cỏ bên vệ ao nên nhiều thợ câu đánh rớt luôn cần câu xuống ao vì bị bò nhọt đốt. Kiến bò nhọt mình lớn bằng hạt thóc màu đen lợt, cẳng cao, chạy rất mau, đặc biệt là lúc nào cũng đi kiếm ăn một cách hăm hở, dữ tợn, sẵn sàng tấn công con mồi hay địch thủ. Nọc kiến rất độc, cho ta một cảm giác buốt như kim châm kéo dài 1, 2 phút đồng hồ không hết, nhiều khi nọc làm sưng tấy cả ngón tay, không kém gì nọc ong.

Toàn sực nghĩ ra một chước để quên đói, tiếp tục nói chuyện với 982 về kiến bò nhọt. Sau nữa, đó cũng là một kinh nghiệm có khi cần đến. Ở tù, kinh nghiệm nào cũng có thể cần đến và có thể hữu ích. Anh chậm rãi hỏi 982:

– Kiến bò nhọt ở đâu? Làm thế nào để chúng bắt rận?

981 dẫn Toàn lại gần bụi tre. Trên một đốt tre ở lưng chừng cao, có một tổ kiến to phình dính vào thân cây, nhiều con kiến to cẳng cao chạy đi chạy lại hăm hở, dữ tợn, tha những thức ăn lớn gấp năm thân hình, chạy rất nhanh, 982 quan sát một lát, ấn định một kế hoạch, rồi quay sang bảo Toàn:

– Tôi sẽ bắt đàn kiến này về trại để chúng bắt rận cho anh em mình. Chỉ chúng mới bắt hết rận, trứng rận và cả rệp ở quần áo nữa. Đấy rồi anh Trưởng toán coi tôi nói có đúng không?

982 nghĩ giây lát, nói tiếp:

– Tôi bắt một phần đàn kiến này nhốt trong ống tre là đủ rồi.

Nói xong, 982 đi vòng ra phía sau bụi tre, lựa một khúc tre vừa lớn bằng chai la-ve, chặt một gióng cả đốt rồi ngắt một nắm lá vo tròn, lấy nhợ buộc chặt làm nút. Ống tre dùng để nhốt kiến và nút đậy kín ống. Về trại, 982 sẽ thả kiến bò nhọt vào giữa bọc quần áo của mình, của anh em khác để kiến “làm việc” rồi kiếm một vuông vải rộng bao kín quần áo không cho bò nhọt chui ra ngoài.

Bò nhọt còn là một giống kiến tham ăn và ăn rất phũ. Đánh hơi thấy mùi lạ, tanh tưởi, ngọt ngào, hay hôi hám như rận, chấy và rệp, bò nhọt sẽ tấn công như điên, chỉ trong vòng một đêm chúng sẽ cắn chết hết rận, trứng rận trong quần áo. bò nhọt sẽ tàn sát hết trước khi tha mồi về một nơi mà chúng làm kho chứa. Khi đó, chỉ cần đem bọc quần áo đã “tảo thanh” ra sân, rũ cho sạch kiến, xác rận và trứng rận!

Toàn nghe xong, hoan nghênh việc làm của 982, nhưng nói thêm:

– Nếu bò nhọt tảo thanh rệp, chúng sẽ “tảo thanh” luôn anh em trong trại. Sợ rằng anh em khó chịu nổi nọc của một chú bò nhọt.

Không ai ngờ kiến bò nhọt cũng ghét tù, cũng gieo tai họa cho tù.

—>8

Advertisements
This entry was posted in Chuyện Tù, Tội Ác Cộng-sản, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.