PHẬN RAU RĂM (Khuất Đẩu)

Nhà thơ Tô Thùy Yên qua nét vẽ của họa sĩ Đinh Trường Chinh. (Hình: damau.org)

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay
(ca dao)

Trong một lần cứu trợ thương phế binh VNCH, do Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn tổ chức (2014), nhà thơ Nguyễn Duy có gửi thư mời Tô Thùy Yên, nhưng ông không về được, chỉ gửi bài thơ Ta Về, như một chút tình đồng cảm. Bài thơ đã được đem đấu giá (không rõ được bao nhiêu tiền) để đóng góp ít nhiều vào quỹ. Điều ấy chứng tỏ ông thương người ở lại xiết bao.

Và trong một bài thơ dài (không nhớ tên), ông đã dùng 3 chữ “phận rau răm” để nói về thân phận mình. Tôi thấy không chữ nào nói lên được tình cảnh chua xót của hàng chục ngàn thương phế binh bị bỏ lại bên đời bằng ba chữ ấy, nên tôi xin mượn để đặt tên cho bài viết này.

Vì sợ chết, sợ thương tật và nhiều thứ sợ khác nữa, so với họ, tôi chỉ là một thằng hèn, (trốn lính đến những 15 năm), nên không xứng đáng để nói và viết về họ. Tôi không như một nhà văn cùng xứ, lấy cả một đoạn văn dài của Phan Nhật Nam đem vào truyện của mình, bảo rằng không đi lính, không biết lính thua trận như thế nào, nên phải mượn ký của người khác, chứ không phải đạo văn. (có được sự đồng ý)

Tuy nhiên, là một sinh vật cùng một phận người, cùng chung tiếng nói và nhất là cùng sống chung một thời quỷ ám, trước nỗi đau của họ tôi cũng cảm thấy xót xa như ông Tô vậy.

Trước 75, họ trở về trên đôi nạng gỗ hay chiếc xe lăn, mất mát quá nhiều, nhưng dưới mắt của đồng bào miền Nam, họ vẫn được trân trọng gọi là “bại tướng cụt chân”, vẫn được nhận trợ cấp hằng tháng của chính phủ, và được một số ưu tiên trong sinh hoạt đời thường.

Nhưng sau 75, dưới cái nhìn của những người thắng cuộc, họ không còn là công dân cho dù là hạng bét, họ trở thành rác rưởi thua cả đĩ điếm. Muốn dọn sạch, nhưng không thể đưa họ vào trại cải tạo, cũng không thể ném họ vào vùng kinh tế mới. Đành phải để họ lê lết mảnh hình hài thiếu chân thiếu tay theo cái kiểu dành cho những con chó con con mèo chờ chết.

Những năm ấy, những người lành lặn, đủ cả chân tay, sống được đã là một chuyện khó tin, huống chi là những người thua thiệt nhiều bề như họ. Vậy mà họ vẫn sống, không phải bằng chống nạng cày bừa vì ruộng đâu mà cày, cũng không là con buôn vì chân đâu mà chạy chợ trên buôn chợ dưới, chân đâu trốn thuế vụ. Họ cũng không hạ mình đi ăn xin khắp hang cùng ngõ hẽm. Họ sống được là nhờ củ khoai không chỉ bẻ làm đôi mà phải bẻ đến làm tám của vợ con, bè bạn, chòm xóm…những người cùng phận rau răm như họ.

Những kẻ thắng cuộc sau khi “đốt” và “hốt” đã dần dần giàu lên. Đổi mới cho dù trở lại như cũ, vẫn là đổi mới, và khuôn mặt chế độ đã bắt đầu trở nên sáng sủa. Tiếc thay hay giận thay, cái đám thương phế binh què cụt ấy lại như một vết chàm xấu xí cứ phơi ra trước thế giới cái điều mà lịch sử viết bằng máu khẳng định rằng, chính cuộc chiến vừa qua là anh em cùng một mẹ giết nhau và thằng anh đã đánh cho thằng em tơi bời hoa lá tối tăm mặt mũi què cụt chân tay như vậy đó.

Cái vết chàm đáng nguyền rủa ấy ngày càng đen đúa xấu xí, khi có những kẻ thiện nguyện như các cha của dòng Chúa Cứu Thế và những tình nguyện viên lặn lội tận những miền quê xa hút, tận rừng núi quạnh hiu, góp nhặt những mảnh hình hài gần như không còn nhận ra họ là người nữa để trợ giúp chút ít tiền (100 đô), cho họ ăn một bữa cơm có chút cá chút thịt và uống một cốc bia để thấy những ngày cuối đời không đến nỗi lạnh lắm.

Chính vì vậy, mà lần nào tổ chức, họ cũng bị ngăn chặn, trù yểm, hạch xách, và mới đây, dường như những linh mục tận tụy khôn khéo giỏi luồn lách đã bị chuyển đi.

Nhưng những người thuộc phận rau răm, đâu chỉ có vài chục ngàn thương phế binh, mà còn có cả nhiều chục ngàn những người bị lùa đi cải tạo nhưng không đủ 3 năm, thường được gọi đùa một cách cay đắng là rớt H.O.

Và còn đó những người bị ném vào những vùng ma thiêng nước độc, những vùng khỉ ho cò gáy, “sống chết mặc bay” gọi là kinh tế mới.

Còn nữa, những người bị cướp mất đất như ở Thủ Thiêm hay vườn rau Lộc Hưng, những cô giáo gói trong bọc nilon để được kéo qua sông khi trời lụt, những em bé trên vùng cao trần truồng trong mùa rét như những con thú hoang…

Miền Nam bây giờ đâu chỉ có một triệu người buồn mà rất nhiều triệu người như thế đó. Mai đây, sẽ còn nhiều thêm khi giá điện nước tăng, giá xăng lùi một bước để tiến ba bước.

Những người từng tuyên bố không cho Cộng sản vào Sài Gòn ăn phở, những người thề đánh CS đến giọt máu cuối cùng nhưng đã bỏ chạy trước giờ thứ 25. Những người ấy chỉ tiếc 7 tấn vàng bị bỏ lại chứ không hề tiếc và ân hận đã bỏ lại cả một miền Nam ngơ ngác vào tay những kẻ ác.

Nhưng rồi những ngày tháng khốn khó cũng qua đi. Bằng tự thân và nhờ đất đai miền Nam mầu mỡ, sông biển đầy cá tôm, người miền Nam cũng cố đứng dậy được trên đôi chân hay đôi nạng gỗ.

Thế mà, có những kẻ, chưa hề một ngày sống trên quê hương đau khổ, trở về nước như những kẻ xa lạ, lại chê ỏng chê eo. Rằng sao không thế này, rằng sao không thế kia.

Mới đây, có một người được gọi là nhà này nhà nọ, lại chê cái đám rau răm ở lại này sao không biết lợi dụng Tầu rủng rỉnh bạc tiền qua ăn chơi để bưng bê hầu hạ khỏi phải lội xuống bùn đầy đỉa, mà lại đi căm thù người anh em đại Hán(g).

Đâu có phải cứ (bị) sống trong cái chuồng CS đều là CS cả. Đâu có phải ai cũng giàu có ngất trời, đâu có phải ai cũng nhà lầu xe hơi. Sài Gòn, Nha Trang, Cần Thơ…ăn chơi, hàng quán mọc lên như nấm, tiếng dô dô át cả tiếng ô tô chạy. Nhưng đó là con cháu bè đảng của một triệu người vui (giờ rất nhiều triệu), từ đâu tới ai cũng biết, chứ đâu phải dân rau răm.

Tôi thành thực xin lỗi ông Tô, trộm nghĩ, không chỉ một chút rượu nồng mà cả thùng rượu đổ xuống chưa chắc đã giải oan cho cuộc bể dâu này. Ông về trời sau khi đã sống hết phận rau răm, như vậy là tốt rồi, mong linh hồn ông thanh thản.

Khuất Đẩu
30/5/2019

(Bài này được viết để tiễn ông trước khi thân xác sẽ hỏa thiêu vào ngày mồng 1 tháng 6, tại Mỹ).

©T.Vấn 2019

 

This entry was posted in Khuất Đẩu. Bookmark the permalink.