Dư Thị Diễm Buồn: VÉN MÀN SƯƠNG ẢO MỘNG (21…24)

CHƯƠNG HAI MƯƠI MỐT

Từ sáng sớm, trước khi đến sở làm, Đông ghé vào đem đồ ăn sáng cho tôi. Mặc dù trong dưỡng đường cho bịnh nhân ăn ngày ba bữa. Thế mà vú và cô Hai bảo rằng bịnh viện phục vụ cho nhiều bịnh nhân nên thức ăn không đầy đủ chất bổ dưỡng. Trưa có khi thì ba tôi, cô Hai và vú đem cơm trưa. Chiều thì Đông đem thức ăn vào và cùng tôi ăn chung bữa chiều.

Ngày nào Xuân Hà cũng ghé thăm sau giờ tan sở. Cô hay đem cho tôi những sách do Liêu Quốc Nhĩ dịch của bà xẩm văn sĩ Quỳnh Dao: Mùa Thu Lá Bay, Khói Lam Cuộc Tình, Bên Bờ Quạnh Hiu… Tôi đọc say sưa và mê lối văn gọn nhẹ, cốt truyện nồng nàn có hậu của bà.

Chiều nay, Thái Vân đến thăm, và ở lại ngủ đêm với tôi. Cô ả đội chiếc nón bài thơ, quai nhung vàng. Ả mặc quần sa-teng đen, áo lụa màu lá mạ rập rờn ánh bạc. Vừa gặp tôi là nó chống nạnh, hất hàm, hách dịch hỏi:

– Sao? Hai đứa bây cơm lành canh ngọt rồi chưa?

Tôi háy nó, cười lỏn lẻn:

– Xí, nếu cơm nguội thì tao rang lại. Nếu canh chưa ngọt thì tao thêm đường, thêm muối, thêm bột ngọt… mấy hồi.

Thái Vân trề môi, liếc xéo tôi:

– Thôi mụ ơi, chỉ một chút mà mụ cũng làm cho tên Đông ba sồn bốn sực kia ngất ngư gần chết rồi. Mầy mà ôm cái thói ghen tương khó thương dễ ghét đó, có ngày tao phải đội quần bỏ xứ. Mầy chớ quên rằng: “xấu lá xấu nem, xấu em, xấu chị” sao?

Tôi phun nọc liền:

– Mầy đang đội nón bài thơ, chớ có đội cái gì trên đầu đâu? Tao đang đau yếu, mầy tới thăm tặng cho tao mấy câu móc họng đó hay sao? Đồ con ác độc có nọc rắn, nọc rít, nọc bò cạp . Mầy chỉ có tài nói thì giỏi thôi. Mầy mà gặp cảnh ngộ của tao, mầy sẽ tru di tam tộc con tình địch của mầy liền.

Thái Vân, ôm vai tôi cười ngất:

– Thiệt không ai hiểu tao hơn mầy.

Nó lôi trong giỏ xách ra hai trái bắp nấu còn ấm, mấy cái bánh bò nước dừa, gói bánh khoai mì nướng. Mỗi lần Thái Vân đến thăm, không có thứ nầy, cũng có thứ kia: cốc, ổi, xoài tượng cắt mỏng, me chua, chùm ruột ngâm đường và cam thảo. Có bữa thì hột vịt lộn, chuối nướng, đậu phộng nấu… để hai đứa ăn lén. Có mục ngồi lê đôi mách để cười giỡn với nhau. Bỗng nó nhìn tôi bằng đôi mắt quỷ quái, hỏi:

– Ê Thể Hà, Đông với mầy có hun hít với nhau chưa? Cái hôn của hắn có điêu luyện không?

Tôi cảm thấy má mình nóng ran, bởi con ác tặc Thái Vân hỏi nhiều câu độc hại. Tôi toan bắt qua chuyện khác, nhưng con nầy quỷ quái lắm, cứ hỏi nà tới. Rõ là “Chỉ đâu mà buộc ngang trời. Tay đâu mà đậy miệng người thế gian”. Túng thế tôi ưả lời:

– Có hun sơ sơ thôi. Mầy đừng có hỏi điên nữa. Tao không trả lời đâu nghen.

Thái Vân vẫn nhìn tôi cười soi bói, ranh mảnh, gian tà:

– Tao không tin đâu, tên Đông đó sành đời lắm, còn mầy là thứ gà tồ ngây thơ vô số tội. Tên đó bày lắm trò, thì đá cũng đổ mồ hôi nữa là. Mầy vốn… nhạy cảm, thì chịu sao cho thấu hả mậy?

Tôi đỏ mặt, tức giận, nói không ra lời! Con hà bá Thái Vân nầy cười lớn như ống bô xe thùng bị bể. Nó vỗ vai tôi:

– Thôi đừng giận em Ba! Tao cố tình nói xóc óc, xóc họng để dụ khị mầy khai hết chuyện mùi mẫn của tụi bây, chớ tao biết mầy sẽ không bao giờ để hắn đi xa hơn cái hun đâu.

Tôi sừng sộ, hỏi:

– Còn mầy thì sao?

Thái Vân khựng lại, cười gượng trả lời:

– Tao hả? Hể tao yêu ai, tao mở đèn xanh từ đầu chí cuối. Không bao giờ tao phựt đèn đỏ, đổi đèn vàng. Còn khi nào hết yêu đương sự, tao đóng cửa một cái rầm, rút cầu một cái rột. Tao thanh toán tình yêu như khạc cục đờm, tao chấp nhận tình yêu như húp muỗng canh khoai mỡ, khoai từ. Buông bỏ hay nắm bắt đều dễ dàng như trở bàn tay! Ai như mầy vậy, coi việc gì cũng khó khăn. Coi tình yêu quá cao đẹp, quá lý tưởng, để khi đụng chuyện nhỏ như móng tay, nhẹ như sợi lông, cũng coi nặng như cái núi… Để rồi đau khổ, khóc hu hu cả lu nước mắt!

Chỉ mình tôi mà bận rộn mọi người trong gia đình. Tôi muốn về sau ba hôm nằm điều dưỡng ở dưỡng đường Duy Tân. Nhưng Đông không bằng lòng:

– Anh rất an tâm để em dưỡng bịnh ở đây. Có bác sĩ và y tá theo dõi, chăm sóc cho em. Phải nằm một tuần mới được về nghe không..

Tôi nhăn mặt:

– Nằm dưỡng bịnh ở nhà mình vẫn thoải mái hơn. Vả lại tối ngày ở đây chỉ ăn rồi ngủ, chán muốn chết. Cái xương chân nứt mà có gì đâu. Anh xem, hôm nay nơi bên trong xương bị nứt, bên ngoài cũng đã hết sưng, hết bầm rồi. Bác sĩ có thể cho toa mua thuốc về nhà uống cũng được vậy. Em không muốn ở đây nữa. “Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột” thật đúng quá đi. Em cảm thấy khó chịu, vì em mà làm bao nhiêu người xáo trộn công việc.

Đông nài nỉ:

– Thôi em rán ở đây thêm vài hôm nữa đi. Ai cũng vui vẻ tình nguyện phục vụ cho em để chuộc tội mà!

Tôi trợn mắt:

– Ai chuộc tội?

Đông cười cầu tài:

– Thì anh chớ ai!

Có tiếng gõ cửa, Đông vội bước ra mở. Bác sĩ đến khám bịnh. Tôi vuốt lại mái tóc cho gọn, Đông đỡ tôi từ từ ngồi dậy tôi duỗi thẳng hai chân. Chàng nhanh tay lấy gối kê lưng cho tôi dựa vào đầu giường sát tường. Ông bác sĩ trẻ, khoảng tuổi Đông bước vào, đi sau là cô y tá ôm chồng hồ sơ dầy. Miệng ông điểm nụ cười thật tươi, mắt long lanh sáng ngời. Ông nhẹ giọng chào hỏi tôi:

– Chào cô Thể Hà. Hôm nay trông cô hồng hào tươi tắn nhiều. Cô thấy trong người ra sao?

Tôi chào lại bác sĩ và trả lời:

– Chào bác sĩ, dạ cảm ơn bác sĩ, tôi đỡ lắm rồi, hai đêm qua chân không còn nhức nữa. Thưa bác sĩ, tôi muốn về nhà dưỡng bịnh có được không? Nằm ở đây yên tịnh, nhưng người nhà tôi thì đơn chiếc quá.

Bác sĩ không trả lời tôi ngay, mà lật lật hồ sơ và đưa lần lượt những tấm phim, hướng có ánh sáng chăm chú nhìn. Tôi cười cười liếc Đông. Nét mặt chàng vô thưởng vô phạt nhìn ra cửa sổ. Lay tay chàng, tôi nói khẽ:

– Đông, bác sĩ nói cho em về rồi kìa. Anh có nghe không?

Đông lườm tôi vì chàng biết tôi xạo. Tôi mất tự nhiên khi thấy bác sĩ cười duyên và đôi mắt đầy thiện cảm của ông nhìn tôi hơi lâu. Đông chợt hỏi:

– Thưa bác sĩ, hôn thê tôi có thể về nhà dưỡng bịnh được không?

Ông ta không trả lời Đông ngay, có vẻ ngần ngừ nhìn tôi, êm giọng bảo:

– Tôi nghĩ cổ về dưỡng bịnh ở nhà cũng tốt. Nầy cô Thể Hà, cô có muốn về không?

Tôi nhoẻn miệng cười tươi như hoa mùa xuân mới nở:

– Dạ thưa bác sĩ, tôi muốn về ngay hôm nay.

Bác sĩ vừa lật hồ sơ ghi chép, vừa hỏi thăm tôi vài chuyện bâng quơ không ăn nhằm gì đến cái chân đau của tôi. Sau đó ông dịu dàng lịch sự chào tôi rồi đi ra khỏi phòng. Trước khi đi, ông còn quay lại dặn dò tuần sau trở lại tái khám. Mặt Đông chầm dầm, lầm lì, giọng cụt ngủn:

– Tuần tới đổi bác sĩ khác!

Tôi lấy làm lạ, chưa kịp phản ứng thì anh lầm bầm:

– Thiệt là vô duyên! Người học cao hiểu rộng mà không lịch sự chút nào hết! Đã biết người ta đính hôn rồi, mà còn gọi bằng cô.

Tôi chợt hiểu, bật cười thành tiếng, đắc ý chêm:

– Bác sĩ gọi Thể Hà bằng cô là đúng mà ông Đông! Nầy ông nghĩ xem, Thể Hà đẹp lại trẻ hơn bác sĩ, thì làm sao gọi bằng chị được? Thể Hà cũng chưa thành hôn thì làm sao gọi bằng bà? Xin lỗi nghen ông Đông, ông nghĩ sai chớ người ta không gọi sai đâu! Vả lại, tôi thường nghe người miền Bắc các ông cũng hay gọi vợ hay gọi em dâu bằng cô lắm. Việc ông bác sĩ trẻ tuổi đẹp giai đó gọi Thể Hà bằng cô là đúng, chớ có gì là sai đâu?

Tôi sắp được về nhà nên vui vẻ, cố tình chọc ghẹo Đông thôi. Không ngờ anh sa sầm nét mặt, ném cái nhìn sắc bén về phía tôi chớ không thèm trả lời. Rồi nhanh tay, anh thu dọn đồ đạc để mau rời khỏi cái chỗ mà anh đã bắt đầu cảm thấy ghen tức, và không ưa nầy!

o O o

Tôi trở lại làm việc bình thường, sau ba tháng dưỡng bịnh. Có phải tôi hung dữ, ngang tàng, ương ngạnh, khó chịu, hay ghen bóng ghen gió, nên mới gây ra chuyện vừa qua không? Tôi lờ đi không trả lời câu hỏi đã tự đặt cho chính mình. Tôi để cho những người thân nghĩ sao thì nghĩ. Bởi họ rất bận rộn, không ai ở không mà truy cứu những chuyện không vui đã qua.

Đông và tôi sẽ thành hôn vào đầu năm. Thời gian đến ngày thành hôn của chúng tôi được thu ngắn hơn hai bên đã dự định. Vì hai bên đều muốn có mặt Xuân Hà trong ngày trọng đại của chúng tôi trước khi cô lên đường qua Mỹ du học. Ba tôi vui lắm, nhưng đôi lúc tôi bắt gặp ông tư lự u buồn. Nỗi buồn của ba, tôi biết rõ, vì ông sắp phải xa đứa con gái độc nhứt của mình. Tôi an ủi ông bằng cách bảo cô Hai:

– Cô Hai à, sau nghỉ lễ thành hôn hưởng tuần trăng mật trở về, con sẽ về bên nầy ở để được ăn đồ ăn cô Hai nấu và gặp mặt ba con mỗi ngày.

Cô Hai âu yếm nhìn tôi, cười:

– Bậy nà, con gái có chồng thì phải theo chồng chớ ai mà về cha mẹ mình ở hoài coi sao được. Mà thằng Đông có chịu cho con về không đã?

Tôi vừa gọt trái cam cho ba, vừa nói:

– Ảnh không cho sao được? Ba con chỉ có mình con. Con ở bển thì ba con sẽ buồn lắm, nếu ảnh muốn thì ảnh qua đây ở luôn.

Cô tôi chắc lưỡi:

– Cháu cứ nói xàm hoài, như vậy không ổn đâu, tội nghiệp chị vú ở nhà một mình cũng buồn lắm.

Ba tôi góp ý:

– Nhà hai bên cùng ở trong thành phố, con chạy tới chạy lui chớ không nên ở đây luôn được. “Nữ sanh ngoại tộc”. Con gái phải theo chồng là “Thiên kinh địa nghĩa” mà. Vả lại thằng Đông cũng là con một. Chị vú sẽ buồn nếu con về ở bên nầy. Nếu chị ấy không nói ra cũng là vì nể mặt ba và thương con đó thôi. Cho nên con phải cư xử sao cho vuông tròn.

Tôi nghĩ thầm, với tôi thì ở đâu cũng được, bên nào cũng là nhà của mình. Bởi má chồng là vú nuôi tôi từ nhỏ. Bà thương yêu tôi còn hơn con ruột của bà. Còn ba và cô tôi thì để rồi coi, họ nói cứng chớ họ sẽ khóc sướt mướt trong ngày tôi kết hôn.

Đông và tôi định ngày kết hôn sẽ tổ chức đơn giản trong vòng thân mật của hai gia đình như ngày đính hôn, để chúng tôi có thời gian đi hưởng tuần trăng mật dài và xa. Nhưng bên nầy thì cô Hai tôi, bên kia thì má của Đông, hai bà nằng nặc không chịu làm đám cưới đơn sơ. Hai bà viện đủ mọi lý do để ngày hôn lễ chúng tôi rình rang đầy đủ nghi lễ và trang phục như khăn vành áo mão của cả hai sắc thái theo phong tục Á, Âu. Cô Hai tôi bảo:

– Lúc nhà trai đến rước dâu thì cháu phải mặc áo dài gấm đỏ đầu đội khăn vành, mang hia long phụng để làm lễ bàn thờ và lạy tạ ba cháu cùng dòng họ.

Tôi nhăn mặt:

– Phải lạy mỗi người như vậy, biết bao giờ mới xong?

– Nói thì nói vậy chớ chỉ lạy bàn thờ ông bà và lạy ba cháu. Còn trong dòng họ, có ai để cháu lạy đâu. Họ chỉ bắt cháu xá thôi. Và còn thằng Đông mặc áo dài đội khăn đóng. Khi nhà trai rước dâu về thì cháu phải mặc áo thụng, đội nón cụ quai tơ, che lọng…

Tôi ngắt ngang lời cô Hai:

– Thôi, thôi không được đâu cô. Ở thôn quê rước dâu đi bộ qua các con đường làng thì mặc áo thụng, đội nón cụ quai tơ, che lọng trông mới đẹp. Còn ở đô thị dâu rể phải lên xe hơi ngồi dưới cái lọng, đầu đội nón cụ. Lọng và nón bự hơn cái lồng bàn, thì làm sao mà vào lọt cửa xe? Thôi mình nên chế khoản đó đi cô ơi.

Cô tôi tươi cười:

– Cháu nhiều chuyện quá đi, má chồng cháu sắp đặt vậy, cháu dám không nghe bả sao? Đến nhà hàng thì mặc đồ cưới theo điệu Tây phương và đội vương miện như hoa hậu.

Hai bà đã chuẩn bị từ mấy tháng trước, tôi và Đông chỉ còn nước vâng theo chớ làm sao dám cãi lại được. Nhưng khi nghĩ đến ngày đó, cứ thay đổi xiêm y mấy lượt, người ta sẽ tưởng tôi là cái hình nộm, mặc áo quần kiểu mẫu, đặt trong tủ kính ở các tiệm bán áo quần thời trang, để cho ông đi qua, bà đi lại ngắm nhìn. Thật là ngượng ngùng quá đi! Nghĩ đến mà phát sợ, nhưng tôi cũng không quên móc ngoéo cô Hai:

– Những trò mặc áo nầy, áo nọ, đủ kiểu, đủ màu sắc, con nghĩ không phải sáng kiến của má anh Đông mà là của cô đó, có đúng không? Vì má chồng con hịch hạc, dễ dãi chớ không phải gút mắt, tinh tế, có cặp mắt thẩm mỹ như cô đâu…

Cô Hai tôi chẳng những không giận mà còn cười hì hì nữa.

Thái Vân, một hôm đến thăm tôi, hăm he:

– Thời làm thiếu nữ của mầy càng lúc càng rút ngắn. Mầy nên đi đây, đi đó, rong chơi cho thỏa thích rồi hãy vào khuôn khổ, nề nếp.

Tôi trề môi, liếc xéo bà chị nửa mùa nầy:

– Từ nhỏ đến lớn, tao có lệch ra ngoài khuôn khổ bao giờ chưa? Tao đâu có bỏ nhà đi nhảy nhót từ đầu hôm cho đến quá nửa đêm hoặc hôm sau mới về nhà. Tụi gái choi choi thời buổi nầy mới đủ bản lãnh, nên tụi nó tha hồ hưởng thụ, tha hồ ăn chơi, mặc sức mà sống theo kiểu híp bi, híp beo và theo kiểu hiện sinh. Còn tao quê mùa chữ nghĩa không gắn đầy lá mít nên đâu dám đua đòi. Tao ưa ăn hàng, thích may quần áo đẹp, thích xem chiếu bóng, thích đọc sách, thích ngắm cảnh vật thiên nhiên. Vậy cũng là thuộc đợt sóng mới lắm rồi.

Thái Vân cười:

– Tao có xúi dại mầy đua đòi theo mấy cô tân thời cấp tiến đâu. Tao chỉ muốn rủ mầy đi ăn hàng, xem chiếu bóng nhiều hơn, rồi đi lên Thủ Thiêm xem đồng cốt, qua cầu Chữ Y coi bói, lên Lái Thiêu mua dâu, nem, mua giò bì về ăn lai rai. Tao chỉ muốn mầy làm đợt sóng cũ. Tụi mình mà đi hộp đêm, đi phòng trà, đi nhảy nhót càng lộ cái vẻ quê mùa của mình ra, nên tao dại gì làm chuyện đó.

Tôi đem cô em chồng ra khoe:

– Xuân Hà bơi lội giỏi, lái xe lả lướt, khiêu vũ như én lượn, bướm bay. Vậy mà cô ta nề nếp, ngoan hiền, lại chịu đọc sách để trau giồi kiến thức. Và tao chỉ bắt chước cô ta đọc nhiều loại sách thôi. Tao bắt chước mầy ăn hàng, xem chiếu bóng. Nhưng coi bói toán, tin đồng cốt, thì cho em xin hai chữ bình an đi. Mầy và Xuân Hà, đứa nào tao cũng chiều một vài điểm.

Thái Vân chợt buồn:

– Thấy Xuân Hà tao mắc thèm và sầu não. Phải chi ba má tao không qua đời sớm! Phải chi chú thiếm tao đừng quá tham lam…

Tôi gạt ngang:

– Thôi, nhắc chuyện buồn làm chi. Mầy đẹp có thua Xuân Hà đâu, tướng tá mầy sang có vẻ mệnh phụ. Ông Trời sẽ ngó lại mầy.

o O o

Má chồng tôi mấy hôm nay thức khuya dậy sớm chuẩn bị cho những món ăn cầu kỳ mất nhiều thời giờ như: chạo tôm, gỏi ngó sen, cù lao, chả đùm… để đãi Xuân Hà trước khi cô sang Mỹ du học. Còn tôi thì cả tuần nay bị cảm cúm bất thường nên không giúp gì được cho bà mà còn làm bà bận rộn nấu nồi xông, và nấu cháo cho tôi. Tôi mới vừa ngồi xuống bàn, thì có sẵn món cháo cá tôi thích ăn và ăn hoài không bao giờ biết ngán. Thế mà không biết tại sao hôm nay tô cháo làm tôi ngao ngán không muốn ăn chút nào. Tôi bỏ đi lên phòng, leo lên giường nằm trùm mền. Má chồng tôi chạy lên lo lắng, tăng lăng tíu líu:

– Con thấy trong người thế nào? Có nóng lạnh chi không? Con đã uống thuốc chưa? Để má gọi điện thoại bảo thằng Đông về đưa con đi bác sĩ nghen.

Tôi cảm động:

– Cảm ơn má, con không sao đâu. Có lẽ trời trở gió nên con bị cảm thường thôi. Má chớ lo, anh Đông hôm nay bận lắm.

Má chồng tôi càm ràm:

– Bận gì dữ vậy, cuối tuần phải nghỉ ngơi chớ. Trên thế gian nầy tới khi chết mới hết chuyện để làm thôi. Con phải ngó chừng nó nghen, thằng đó dạo nầy hay đi sớm về tối hoài.

Tôi mệt mỏi, dã dượi cũng phải bật cười, trấn an bà rằng:

– Má à, mấy hôm rày ảnh bận rộn vì nghiệp đoàn thương mại họp thường niên mà. Nếu ảnh bay bướm thì đã có trước khi gặp con. Nhưng con sẽ để ý, có má là bùa hộ mạng của con rồi, ảnh không dám làm gì đâu, má đừng lo.

Bà cười hiền trìu mến nhìn tôi rồi đi xuống nhà dưới. Tôi mệt nhọc trong giấc ngủ trưa. Đông mở cửa phòng bước vào ngồi xuống cạnh giường rờ lên trán tôi hỏi:

– Má nói từ sáng đến giờ em không ăn uống gì hết, chắc em đói rồi? Hãy xuống ăn với anh một chút gì đi, rồi anh đưa em đi bác sĩ.

Tôi nắm tay chàng gượng ngồi dậy, nhưng nghe đầu choáng váng, chóng mặt. Trước mâm cơm tươm tất tôi cũng không ăn gì được. Và mấy lần tôi bợn dạ, đành buông đũa.

Chúng tôi đi bác sĩ về. Đông cho xe chạy sát vào cửa lớn của nhà. Vừa tắt máy xe, chàng nhanh chân chạy sang ẵm xốc tôi lên, rống họng gọi lớn:

– Má à mở cửa, mở cửa!

Tôi lính quýnh cố thoát ra khỏi vòng tay chàng nhưng không được. Tôi đấm thình thịch vào lưng vào vai chàng, cằn nhằn:

– Để em xuống đi, anh làm gì kỳ vậy? Má ra thấy được thì em mắc cỡ chết. Mau bỏ em xuống. Bỏ em xuống đi mà…

Chàng chẳng những không thèm nghe mà còn cười trêu chọc tôi nữa. Má chồng tôi mở cửa. Tôi thẹn quá vùi đầu vào ngực chàng và lấy tay che mặt lại. Bà hỏi nhanh:

– Chuyện gì vậy Đông? Vợ con có sao không? Bác sĩ nói thế nào?

Đã vào nhà cả buổi rồi mà anh cũng không để tôi xuống. Tôi dẫy dụa thoát khỏi vòng tay chàng, mắc cỡ quá đi nhanh thẳng vào phòng để rửa mặt và chải tóc. Tai tôi văng vẳng nghe được tiếng cười nói vui mừng của mẹ con Đông….

Nằm trong phòng tôi nghe được tiếng chào hỏi của Xuân Hà với má chồng tôi. Sau đó tiếng chân chạy thình thịch của Xuân Hà và tiếng cười nói của bà mẹ chồng theo sau. Xuân Hà đi lần về phía buồng tôi:

– Chúc mừng chị Hai có bầu. Từ rày chị phải ăn uống đầy đủ cho cháu em nhen, nghe tin chị có bầu em mừng lắm, chẳng muốn đi chút nào. Em muốn ở lại xem mặt đứa cháu của em trai hay gái, giống ai.

Tôi cười cho ý nghĩ của Xuân Hà:

– Thì cô đi học cho giỏi để sau nầy còn dạy cháu nữa. Tôi sẽ chụp hình cháu thật nhiều để gởi cho cô. Sanh xong, tôi sẽ bảo anh Đông điện tín cho cô biết ngay trai hay gái. Cô nhớ đặt cho cháu cái tên cho đẹp nghen.

Tôi và Xuân Hà tíu ta tíu tít quên còn có hai người đang ở trong phòng nhìn tôi với ánh mắt thương yêu trìu mến, là chồng tôi và má chồng của tôi.

Hôm đó, không hẹn Thái Vân cũng đến thăm khi Xuân Hà chưa về nhà cô ta. Xuân Hà hứng chí rủ rê:

– Ba đứa mình đi chợ Bến Thành, tảo thanh hàng bán đồ ăn vặt. Hai chị nghĩ sao?

Thái Vân bảo:

– Cô có xe, thôi tụi mình đi Đa Kao ăn mì Cây Nhãn, xẹt qua chợ Bà Chiểu ăn bánh nghệ, rồi trở về Sài Gòn vào Pôle Nord ăn kem sầu riêng, kem xoài… Và đừng quên uống sô-đa chanh đường phải không?

Nghe đến các món ăn nó kể, tôi tuy bị thai hành nhưng cũng muốn ăn. Tôi trề môi:

– Mầy rõ ràng là con ham ăn. Cái bụng mình như cái lon sữa bò, chớ đâu phải cái thùng thiếc? Ăn bánh nghệ đủ rồi. Hôm khác tụi mình mới đi ăn mì Cây Nhãn. Hôm nay bổn cung sẽ làm khổ chủ, đãi công chúa Xuân Hà, và con thế nữ Thái Vân.

Con Thái Vân liếc tôi một cái thật bén:

– Tao không thèm là thế nữ đâu. Tao là Quận Chúa, chỉ thua Công Chúa một bực thôi.

Xuân Hà dịu dàng:

– Hôm nay em và chị Thái Vân tuân lịnh chị Thể Hà. Chiều mai em mời cả hai chị đi Chợ Lớn ăn mì, ở tiệm Hải Ký Mì Gia, rồi qua tiệm Hảo Sen ăn đồ ngọt ướp lạnh trong nước đá, hoặc để trong tủ lạnh.

Vậy là chúng tôi đồng ý qua Bà Chiểu ăn bánh nghệ. Bánh nghệ có từng sợi như bánh tằm, nhưng được xếp theo hình cụm mây, hay hình bông, hoa nổi bật trên nền lá chuối xanh tươi. Bánh thường được ăn cặp với thịt heo xỏ xâu nướng vàng, có rắc đậu phọng. Ngoài ra bánh nghệ còn ăn cặp với mít luộc, huyết heo luộc, rau sống, bánh tráng nhúng nước cuốn chấm với nước mắm, dưa kiệu, và tương ớt cay. Chỉ nhìn dĩa bánh nghệ chan mỡ hành nằm trên những miếng thịt xỏ xâu nướng vàng và đậu phọng bên trên, cùng huyết heo, mít luộc. Ôi! Thật là hấp dẫn vô cùng làng nước ta ơi!

o O o

Má chồng tôi đã thức dậy lục đục từ lúc trời còn tờ mờ sáng. Khoảng bảy giờ sáng thì cô Hai, ba tôi, ba má, anh chị và các cháu anh Hưng đến nhà chúng tôi, để tiễn đưa Xuân Hà ra phi trường, sang Mỹ du học. Có buổi tiễn đưa nào mà không buồn! Máy bay đã cất cánh, đưa Xuân Hà qua vùng xa xứ lạ. Mọi người ra về với ý nghĩ và tâm trạng khác nhau, nhưng trên mặt ai cũng dàu dàu, mắt đỏ. Má chồng tôi thì thút thít khóc. Riêng tôi, tâm trạng có lẽ khác hơn họ, tôi cũng buồn vì rồi đây không biết đến ngày nào mới gặp lại cô. Nhưng trong lòng tôi rất vui, bởi từ ngày hôn phu cô tử nạn, cô sống trong khổ đau không lối thoát… Cô ít nói biếng cười, tối ngày vò võ sống héo hắt. Cho đến ngày nhận được tin sang xứ người du học, cô mới nguôi ngoai và cười nói. Tôi luôn cầu nguyện Ơn Trên phù hộ cho cô gặp may mắn. Cuộc đời mai sau của cô rồi sẽ thắm tươi và hạnh phúc, trong chuỗi ngày sống nơi xứ lạ quê người.

Xuân Hà đi rồi nhà ở đường Pasteur bỏ trống, mấy tháng sau Đông đề nghị với tôi bán đi vì không ai chăm sóc. Chúng tôi chuyển ngân hết số tiền bán căn nhà nầy qua cho Xuân Hà.

Xuân Hà gửi thư về thăm chúng tôi, cô nói:

“…Anh chị không phải gởi tiền nhà qua cho em. Em thật sự không cần thiết. Ăn ở và tiền học phí em không phải trả đồng nào hết. Tiền anh chị cho đem theo em vẫn còn nguyên và gởi vào ngân hàng. Cuối tuần, em làm thêm trong thư viện của trường cho nên tiền tiêu vặt không hết. Anh chị đừng lo cho em về vấn đề tiền bạc.

Sao, chị Thể Hà! Cháu em chắc quấy mẹ lắm phải không? Chị cũng sắp sanh rồi, phải giữ gìn sức khỏe. Nhớ hồi lúc mới qua đây, em ăn uống gì cũng không được, vì thức ăn dân bản xứ vị khác biệt nên rất khó ăn. Cho nên mấy tháng đầu em sụt cân nhiều. Nhưng bây giờ quen rồi, em lên cân lại… Em có quen với nhóm bạn người Á Đông. Đó là những du học sinh, gồm có hai người từ Tàu, một người từ Đại Hàn và hai người từ Nhật. Du học sinh Việt Nam trường em thì em chưa gặp, nhưng chiều hôm qua, em nhận được cú điện thoại của một sinh viên quê ở Cần Thơ, Việt Nam. Anh ta cho biết sang Mỹ học hai năm rồi và hẹn gặp em chiều cuối tuần nầy…

Em nhớ anh chị, nhớ bác Hai rất nhiều. Chị sanh xong thì nhắc anh Nhựt điện thoại cho em ngay nhen… Em thăm bác Hai, thăm anh chị, chúc chị mẹ tròn con vuông”.

Con gái chúng tôi tên Vũ Huỳnh Thể Dao, chào đời vào chánh mùa thu năm Canh Tuất 1970. Cháu là nụ hoa nhỏ của vợ chồng tôi, là viên ngọc quý của hai bên ngoại, nội. Bà mẹ đỡ đầu là Xuân Hà, tháng nào cũng gởi quà, áo quần, nón, vớ… về cho cháu. Con bé có nhiều nét giống cha, đôi nét giống mẹ. Sau ngày sanh cháu, Đông muốn tôi nghỉ việc, tôi cùn quằn không chịu nên nại đủ lý do:

– Ở nhà có má, có chị người làm, có con Bé giữ em bế bồng… Nếu má bận thì còn có cô Hai, có ba em… Anh thấy không? Họ thương yêu cưng chiều con của mình đến nỗi phải thấy mặt cháu hàng ngày mới chịu, nên em đâu cần phải ở nhà. Ở nhà, con người sẽ rũ ra, tâm tình vo tròn trong nồi niêu soong chảo, trong mong ngóng chồng, sẽ sanh lòng ích kỷ, ghen tương… Ra bên ngoài hăng hái làm việc tâm hồn được cởi mở. Nhờ có giao thiệp với những người chung quanh, mình mới mở rộng tầm mắt, mở mang kiến thức, mới biết trời cao đất rộng…

Đông cười cười nheo mắt, nhìn tôi:

– Khi đi làm em cũng ghen dễ sợ vậy. Anh thử đi đâu về trễ xem có bầm dập với em không?

Tôi tức cười, trả treo:

– Vậy hồi cưới em đến giờ anh có bầm dập chưa? Chỉ nói xạo không hà.

Tôi ôm con vào lòng, cười nói với cháu:

– Con à, bây giờ mẹ có tâm can bửu bối rồi. Ai thèm ghen với ba chi cho mệt phải không con?

Đông choàng tay ẵm con, nói:

– Không được, cho dù ông, bà thương cháu, nhưng em cũng biết chẳng ai săn sóc con bằng mẹ. Vả lại chúng ta có thiếu thốn chi đâu mà em phải đi làm? Thật sự, sau ngày cưới là anh muốn em ở nhà rồi, nhưng lúc đó em dữ quá, nên anh không dám đề nghị. Và anh cũng không dám đi sớm, về trễ thì làm sao em có cớ để ghen…?

Tôi cười thành tiếng, thọc lét anh:

– Anh lại muốn khiêu chiến nữa rồi. Lúc nào cũng muốn chọc ghẹo người ta. Với miệng hùm, lưỡi beo của anh, ai mà cãi cho lại. Thôi nghỉ thì nghỉ, nhưng từ rày trở đi ông không được càm ràm mẹ con chúng tôi là gánh nặng của ông đó nghen ông Đông…

o O o

Thái Vân vẫn chưa kết hôn. Nó vẫn đi đi, về về với người yêu nó hiện giờ ra trường làm ở miền Trung. Tôi có gia đình, có con nên bận rộn hơn lúc đi làm còn độc thân. Tôi đã nghỉ việc, không còn khoảng thời gian lớn ở sở chiếm hết giờ giấc của tôi. Nhưng, tôi và Thái Vân ít khi có thời gian riêng để tâm sự. Mặc dù nó thường về thăm ba và cô Hai, có khi còn ngủ đêm tại phòng cũ của tôi. Dạo nầy trông nó hốc hác tiều tụy, không còn vui tươi rộn rã như dạo trước. Tôi có hỏi thăm bạn trai nó, nhưng nó quanh co như không muốn nói, nên tôi không hỏi nữa.

Năm sau, công chúa Thể Quỳnh của chúng tôi ra đời. Con bé giống bà nội, nên má chồng tôi dành độc quyền giữ nó, chỉ có đêm thì nó ngủ ở phòng chúng tôi. Lúc chưa có cháu nào, tôi nghĩ chắc tôi phải vất vả với con lắm, vì chồng tôi là con một được chiều chuộng từ thuở nhỏ, vả lại anh là người làm ăn buôn bán, gánh vác việc bên ngoài thì thời giờ đâu mà phụ giúp vợ săn sóc con cái.

Tôi lại là người thích nếp sống tự lập, ít chịu gò bó trong khuôn khổ nhứt là vấn đề dính dáng đến tiền bạc. Cho nên khi nghĩ đến mỗi sáng phải hỏi tiền đi chợ, đầu tháng phải hỏi tiền trả công người làm, mua gạo thóc, áo, quần, thuốc men mà tôi rùng mình… Biết đâu, vui thì chồng tôi móc bóp đưa liền, khi có chuyện gì thì lời qua tiếng lại về chuyện xài nhiều xài ít, mua dư, mua thiếu… Nghĩ đến đó tôi thấy ngại ngùng vô cùng. Tôi nghỉ việc thì sẽ không có tiền lương riêng của mình để tự do tiêu xài. Rồi sẽ phải xem sắc mặt của chồng mỗi khi muốn mua sắm. Tôi phải dâng cơm hầu nước, rồi bao nhiêu công việc lặt vặt trong nhà đang chờ. Tôi phải lo việc nhà, vì chồng làm việc kiếm tiền bên ngoài, thì trong gia đình vợ phải chăm lo mọi thứ chớ! Nghĩ tới nghĩ lui tôi thấy tức tối, bực bội vô cùng, nên lầm bầm trong miệng: Mình thật xui xẻo, từ rày sẽ gặp phải cảnh “chồng chúa vợ tôi”. Rồi những cảnh lục đục thường tình của gia đình sẽ xảy ra, trong việc xài nhiều xài ít, tiền của vợ, tiền của chồng… Chà, đàn bà có bao nhiêu thứ phải chi dùng: tiêu, hành, tỏi, nghệ, nước mắm , dầu lửa… Mà ke re, cắt rắt từ đồng từ cắc thì phiền ơi là phiền!

Việc phiền muộn nầy luôn chập chờn, khi tôi nhớ lại cảnh vợ chồng ông Sáu tài xế xe đò, lúc tôi còn nhỏ ở Sùng Hiếu. Nhà ông bà cách nhà tôi một con đường, đêm đêm hai vợ chồng đánh đấm cãi cọ với nhau chung qui cũng vì tiền, làm cả xóm không ai ngủ nghê được.

Mặc dù trong nhà có má chồng tôi, bên tôi thì có cô Hai, có ba. Nhưng lúc nào cũng có người làm công việc nhà, nấu ăn giặt giũ… Và tôi có mướn thêm con Bé khoảng mười bốn tuổi ẵm bồng hai cháu. Còn tối thì hai cháu ngủ trong nôi đặt ở phòng sát giường ngủ chúng tôi. Chị người làm và con Bé giữ em ngủ ở nhà dưới.

Tiền chợ, tiền trả công cho người làm, tiền chi dụng trong nhà hàng ngày, đều do má chồng tôi lo như từ thuở trước khi cưới tôi. Một hôm, Đông để tiền trong bao thư đưa cho tôi bảo:

– Tiền nầy em cần dùng mua sắm gì thì mua. Hết thì nói cho anh biết anh đưa thêm… Anh định khi con lớn, em phụ với anh vấn đề sổ sách tiền nong của hãng. Để em có công việc làm mà không đòi đi làm ở chỗ khác.

Tôi cười, nhìn chàng:

– Em không rảnh đâu. Con gái của anh làm em đầu tắt mặt tối rồi, còn thì giờ đâu mà đi làm việc khác. Anh đưa tiền cho má đi, chừng nào cần em sẽ xin má.

– Tiền nầy em giữ để tiêu vặt. Anh đã đưa tiền chi dụng cho má rồi. Không lẽ ăn cây cà rem, uống ly nước đá em cũng đi xin tiền má sao? Anh cũng đã hẹn, trưa ngày mai anh sẽ về chở em đến mở trương mục tiết kiệm, cho vợ chồng mình và con bên ngân hàng Việt Nam Thương Tín, con gà đẻ trứng vàng đó.

Tôi mở to mắt, cười:

– Khỏi cần, em có mở chung trương mục với ba và cô Hai rồi. Trương mục của em là trương mục con gà đẻ trứng kim cương, hồng ngọc…

Anh nhìn tôi, cười:

– Lúc đó em chưa là vợ anh. Em hãy để tiền lại cho cô Hai và ba hết đi. Bây giờ tất cả những gì của anh cũng là của em mà. Cho nên anh đã nhờ luật sư chứng nhận trước pháp luật: tất cả động sản, bất động sản của anh, em là người duy nhứt thừa hưởng trọn vẹn.

Tôi cảm động, nhìn chồng:

– Anh không cần làm như vậy đâu. Hãy để tên má đi, và còn tên Xuân Hà nữa.

Anh trả lời tôi:

– Má và Xuân Hà mỗi người đều có phần riêng của họ rồi, em không phải ngại. Má còn muốn anh chuyển cả tài sản của bà, cả sổ tiết kiệm qua cho em và con mình nữa kìa. Má nói không cần để riêng tư làm chi, để dành cho ai đây ngoài dâu và cháu nội bà.

Thấy tôi càng gầy ốm bởi thức khuya dậy sớm với con, Đông có vẻ xót xa. Tôi trấn an chồng:

– Con mình, mình phải chịu cực chớ bộ. Mỗi tối, trước khi đi ngủ em dặn chị người làm châm đầy mấy bình thủy nước sôi, máy lọc nước nấu chín, và chuẩn bị sẵn sàng sữa bột, mọi thứ linh tinh cần thiết cho con rồi, chỉ khi con thức giấc đòi ăn thì pha liền không mất nhiều thời giờ đâu. Em không gọi con Bé khuấy sữa vì sợ nó là con nít ham ngủ, hoặc nhờ chị người làm, sợ chị mệt mõi với công việc suốt ngày ngủ gà ngủ gật rồi pha không đúng liều lượng, con uống sẽ bị bịnh. Khi con lớn, không còn bú đêm nữa thì em sẽ mập trở lại. Chỉ sợ lúc đó anh nói em là bà phì-lũ, rồi liếc ngược liếc xuôi mấy người đẹp bên ngoài, quên vợ quên con thôi.

Rồi từ đó, đêm đêm mỗi lần hai con cựa quậy, thức giấc là Đông đến gần giường con trước khi tôi đến. Có khi chàng phụ tôi khuấy sữa cho cháu bú. Mỗi lần cháu lên cơn sốt bởi mọc răng hay đứng chựng… thì chàng bồng bế, vác cháu trên vai suốt cả đêm.

Thể Dao lên hai tuổi, Thể Quỳnh chưa đầy một tuổi. Công việc săn sóc con vẫn như vậy, nhưng sao tôi cứ bận lắt xắt tối ngày. Lúc nào chàng về sớm, con chưa tắm thì chàng dắt chúng tắm rửa sạch sẽ, đôi lúc chàng còn đút cơm cho chúng ăn. Bởi Đông biết những công việc săn sóc con cái hằng ngày đều do tôi làm hết, vì tôi sợ người làm không chu đáo lo cho hai con tôi bằng mẹ tụi nó.

Một hôm Thái Vân đến thăm vợ chồng tôi. Nó ăn mặc sang như phu nhân của Tổng Thống Kennedy với bộ tailleur xám ngời ánh bạc. Nó diện toàn bộ nữ trang bằng ngọc trai vỏ vàng trắng. Mới bước vào nhà bếp, nó hít hà:

– Mầy nấu món gì mà thơm quá cỡ thợ mộc vậy Thể Hà? Tao có phước ăn ké không đây?

Nhỏ bắt gặp mấy gấp tre nướng tôm càng và cá duồng bó lá ổi, thì la lớn hơn:

– Eo ơi, cô Hai và bác gái làm hai món nầy làm lưỡi của con Thái Vân quá lỏng rồi.

Tôi bảo:

– Cô Hai và má chồng tao hôm nay đi chùa và ăn cơm chay ở đó luôn. Tao làm hai món nầy đãi mầy đó. Lặt rau, gọt dưa leo phụ tao đi.

Thái Vân vào buồng tôi thay áo ngắn tay màu vàng nhạt có thêu rải rác bông nho tim tím, quần sa teng đen. Nó xuống giúp tôi vài công việc lặt vặt. Tôi khen:

– Dạo nầy mầy ăn mặc sang quá!

Thái Vân thở dài:

– Tao học thêm nghề hớt tóc cho đờn ông. Tiệm tao lúc trước chỉ uốn tóc, và cắt tóc cho phụ nữ, bây giờ nhận hớt luôn cho dờn ông. Tao hớt tóc khéo. Tụi Mỹ tới lui nườm nợp. Vậy mà tao vẫn eo nghèo ót ngọt. Anh Bá của tao hôm tuần rồi bị cướp ngoài đường giật tiền!

Tôi há hốc mồm, hỏi nó:

– Trời đất, bọn cướp vặt bây giờ loạn như vậy sao? Anh ta có bị gì không?

Thái Vân buồn giọng:

– Mất cả tháng lương mới lãnh, người thì không sao.

Tôi chép miệng, an ủi nó:

– Tiền mất còn đi làm kiếm lại được, người không bị gì thì tốt rồi.

Thái Vân mở bóp, chìa cho tôi xem tấm ảnh chàng thanh niên Mỹ:

– Đây là Tom, khách hàng trung thành của tao.. Nó là Mỹ dân sự làm việc ở USAID. Nó muốn chụp hình, tao giới thiệu nó đến tiệm Thắng ở đường Hai Bà Trưng. Mấy tấm ảnh chụp quá đẹp nên nó tặng tao một tấm.

Tôi xem tấm ảnh nó khoe. Tôi cười cười, chọc quê:

– Bộ mầy không sợ anh chàng Bá, Bá Lý Hề của mầy ghen sao?

Nó cười nhạt:

– Ảnh ít khi để ý đến chuyện riêng tư của tao.

Tôi hỏi vặn:

– Ít khi để ý? Không có nghĩa là không bao giờ hỏi tới chuyện của mầy chớ? Rủi anh ta bắt gặp tấm ảnh nầy, hỏi mầy thì sao?

– Tao sẽ tùy cơ ứng biến. Nhưng tao nghĩ ảnh là người hiểu biết, nên không hỏi đâu.

Tôi dí dỏm:

– Người đời thường nói: “Là lượt là vợ thông lại. Nhễ nhại là vợ học trò” Mầy mướt quá tao đâm lo. Nếu anh Bá của mầy thật sự như mầy nói, thì tao không biết có nên buồn dùm mầy hay chúc mừng mầy đây?

o O o

Đông hối hả chở ba và tôi về dự đám tang của bà ngoại, và chúng tôi trở lại nhà trong ngày hôm đó, vi công việc làm ăn của Đông và hai cháu nhỏ. Ba tôi ở lại trót tuần sau mới về. Bà ngoại tôi qua đời vì lạc đạn trong cuộc nội chiến Quốc Cộng gây ra.

Quê ngoại tôi bây giờ xa lạ quá! Bờ đất dưới mé sông có hàng dừa Tam Quan mà ngày xưa cứ mỗi sáng sáng tôi thường ngồi ở đó ngắm sương mù, hay nhìn hoàng hôn xuống trong những chiều nắng ráo, gió mát vi vu. Theo thời gian và sự đổi dời của Tạo Hóa, bờ sông nhà ngoại tôi đất lỡ, nước cuốn hàng dừa trôi mất lâu rồi.

Cháu nội út của ông Năm Ghè dắt ông qua dự đám tang bà ngoại tối một chút thì về, vì bây giờ ông đã yếu không còn ngồi lâu được. Bà Năm Ghè nghe nói đã chết vì hậu sản khi sanh đứa con thứ mười bốn. Bà Bảy Lấc, má cậu Ba Thơ đã qua đời mấy năm trước. Cậu Ba Thơ cũng già lụm cụm nhưng vẫn phục sức như xưa: bộ đồ và, cái nón chỉ trên đầu trọc và xâu chuỗi hột lớn bằng trái mù u cố hữu dài tới rún như ngày nào. Mợ Ba Thơ thì tóc bạc trắng… Mấy đứa con lớn đã lập gia đình ở riêng, và cậu mợ bây giờ có cháu ngoại, cháu nội đầy đàn.

Đường đất nối liền Quốc Lộ Bốn từ cầu Ông Hưng ra Vàm gần nhà ngoại tôi không con đi bộ được nữa, vì “họ” đào hầm đặt chông, giật sập cầu đá. Còn cầu cây thì giở không cho bắc ngang qua rạch qua mương…

Những cây dừa cao, cây xoài, bị miểng đạn pháo cắt ngang ngọn, có cây bị chẻ đôi, có cây trơ cội… Còn rải rác những hầm hố sâu do bom đạn cày nát hai bên bờ sông… Đó là chứng tích của giặc thù đã dầy xéo quê nhà, mà chúng biện minh là để mở đường giải phóng làng thôn…

Công việc làm ăn của chồng tôi gặp nhiều khó khăn. Và gần như hầu hết các ngành nghề tư khác đều chịu chung hoàn cánh vì ảnh hưởng giặc giã chiến tranh. Trọng điểm buôn bán ở miền Tây của chúng tôi, nay chỉ còn đại lý ở thành phố Cần Thơ. Còn các thành phố khác như Long Xuyên, Rạch Giá, Cà Mau thì công việc liên lạc lấy nhu yếu phẩm ở Cần Thơ chớ không trực tiếp với Sài Gòn như trước nữa. Ở miền Trung thì càng khó khăn hơn, vì Việt Cộng luôn đào hầm, đắp mô đặt mìn, phá hoại đường lộ, nên sự vận chuyển thường hay bị bế tắc.

Ba tôi dạo nầy yếu lắm, nên khi Đông đi làm thường đưa mẹ con tôi đến thăm. Chiều đi làm về chàng ghé qua rước. Ba và cô Hai cho biết lâu rồi Thái Vân không thấy về thăm thường xuyên như dạo trước. Kỳ về sau cùng cách đây ba tuần, và nó cho biết có lẽ đi xa Sài Gòn một thời gian nên sẽ ít có dịp về thăm. Tôi biết ngay là nó đi thăm bạn trai, hoặc ra ở ngoài đó với hắn một thời gian. Vì cho đến bây giờ, cô Hai và Ba tôi vẫn chưa biết nó sống bên ngoài, với một người đàn ông như vợ chồng.

Để cháu chơi với ông ngoại và bà cô Hai. Hôm nay, tôi dắt con Bé theo phụ tôi vào phòng lôi mùng mền chiếu gối đem ngâm xà bông và thuốc tẩy, để một hồi cho chị người làm qua giặt, vì lâu ngày rồi không dùng đến sợ nó ẩm, mốc.

Chiếc giường hộp của tôi có mấy hộc tủ bên dưới, là nơi kín đáo nhứt trong nhà, nên tôi thường để những đồ quý, hay những vật kỷ niệm ít khi đụng tới. Tôi chưng hửng khi dở hộc tủ cuối cùng ra, những kỷ vật khi má tôi qua đời ba tôi còn giữ lại cho tôi. Chúng tôi coi nó như những món vật vô giá, quý báu vô cùng, nay bỗng dưng không cánh mà bay mất.

Nhà tôi chỉ có ba và cô Hai, thỉnh thoảng có Thái Vân đến ngủ đêm. Tôi chắc chắn là Thái Vân lấy rồi.

Tôi nhớ rất rõ, trong gói đồ bị mất gồm có: Đôi bông tai bằng ngọc thạch của bà nội mua làm quà cưới má tôi. Mặt dây chuyền Phật Bà Quan Âm và dây chuyền bằng vàng, đôi xuyến vàng, hai chiếc cà rá. Một chiếc bằng hột sa-phia màu hồng ngọc, chiếc kia cẩn những hột xoàn tấm, bao quanh một hột xoàn năm ly ở giữa. Tôi tức giận quá! Tại sao nó lấy những món đồ gia bảo của tôi? Những món đồ đó nó biết là chúng tôi trân quý đến chừng nào! Cho dù túng thiếu cách chi chúng tôi cũng không cầm bán.

Không phải tôi đã cho nó mượn trên dưới gần năm chục ngàn đồng rồi sao? Vậy mà nó còn lấy đồ của tôi nữa? Tiền tôi cho nó mượn, đến bây giờ cô Hai và ba tôi vẫn không biết. Ngày cưới tôi, dòng họ nội ngoại đã cho số tiền lớn, tôi lấy tiền đó bỏ vào số tiền lấy từ tiết kiệm của ba và cô Hai. Tôi thở dài tức tối lầm bầm: Trời ơi, vậy mà nay nó còn ăn cắp đồ của tôi!

Tôi đi tìm Thái Vân. Nhưng không có nó ở nhà. Bà hàng xóm của nó đi qua, thấy tôi gõ cửa, dừng lại hỏi:

– Cô tìm ai trong nhà nầy?

Tôi lễ phép trả lời:

– Thưa bà, tôi tìm chị Thái Vân, chủ của nhà nầy.

Bà hàng xóm có vẻ chưng hửng, nhìn tôi từ đầu đến chưn hỏi lại:

– Cô là gì của cô Thái Vân?

– Thưa bà, tôi là bạn học cũ.

– Bộ cô không phải đến để đòi nợ cổ hả? Tội nghiệp cổ, còn trẻ mà gặp phải thằng chồng ghiền cờ bạc, thì coi như tàn đời rồi. Thằng chả tối ngày chỉ biết ăn bám và đánh đập khảo tiền vợ, thì làm sao cổ chịu cho thấu? Thật là cái thứ đàn ông trời đánh thánh đâm không ra gì. Đời giặc giã, người ta chết nhiều quá, sao mà mấy thằng cha đó không chết phứt cho rồi. Để cái ngữ đó sống chi cho chật đất.

Bà ta ngừng nói, nhìn tôi thân thiện:

– Tôi tên là Nguyệt Nga, cô gọi tôi bằng chị Nguyệt Nga hay chị Nga như cô Thái Vân cũng được. Còn cô tên gì?

Tôi thấy ngờ ngợ, nhìn bà hàng xóm của Thái Vân mới vừa rủa sả thằng chồng không giấy chứng nhận của nó một hơi. Tôi tránh trả lời câu hỏi tên của chị ta, nhưng tôi nhỏ nhẹ:

– Cảm ơn chị, tôi nghe nói chồng của chị Thái Vân là bác sĩ mà?

Chị Nguyệt Nga cười lạt:

– Mới học bác sĩ thôi, nhưng rớt lên rớt xuống, buồn đời nên hai năm trước đã đi lính. Tưởng hắn đi lính rồi sẽ trụ hình sửa đổi tánh tình, không ngờ còn đánh bài nhiều hơn. Tội nghiệp cô Thái Vân ngậm đắng nuốt cay chịu đựng, làm vất vả mà có tháng còn không đủ tiền trả tiền nhà mướn cho tôi nữa.

Tôi giật mình, vì Thái Vân mượn tiền tôi mua nhà nầy rồi mà:

– Thưa chị Nguyệt Nga, vậy là chị Thái Vân mướn căn nhà nầy của chị hả?

– Ờ, cổ mướn cũng năm bảy năm rồi. Thấy hoàn cảnh cổ tội nghiệp nên đã ba năm, tôi không có lên tiền nhà.

Tôi chào chị Nguyệt Nga rồi lầm lũi bước đi. Chị Nguyệt Nga như sực nhớ. Gọi vói theo:

– Cô ơi, cô tên gì? Để tôi nói lại với cô Thái Vân.

Tôi lấy khăn tay vừa lau nước mắt, vừa trả lời chị ta:

– Chị khỏi nói chi hết, tôi sẽ trở lại. Cảm ơn chị.

Trên đường về nhà, lòng tôi đau như cắt. Nó đã nói láo và lường gạt tôi. Từ nhỏ đến giờ tôi coi nó như chị em ruột thịt, không hề nghi kỵ một chút gì. Thật tức quá! Tôi phải tìm nó để hỏi cho ra lẽ.

Chiều hôm đó, tôi tìm đến tiệm uốn tóc Thái Vân làm. Bà chủ tiệm cho biết nó nghỉ việc mấy tuần nay. Suốt đêm hôm ấy tôi không ngủ được vì tức tối con Thái Vân vô ơn, bạc nghĩa.

Sáng ra, tôi sửa soạn cho hai đứa nhỏ, Đông chở mẹ con tôi về bên nhà ngoại. Cho hai cháu ăn uống và dỗ chúng ngủ xong, tôi dặn con Bé phải trông chừng em, và giao chúng cho ba và cô Hai tôi đi tìm Thái Vân nữa. Nhưng tôi nói dối với họ là đi chợ Bến Thành, mua ít áo quần và sữa bột Bích Chi cho hai cháu.

Theo địa chỉ mới của người bạn cùng nghề với nó cho. Gặp Thái Vân, tôi hằn học hỏi ngay:

– Thái Vân, mầy lấy nữ trang vốn là kỷ vật của má tao để lại cho tao hả?

Thái Vân chối:

– Nữ trang gì? Mầy để đâu? Tao không có lấy.

Tôi giận lắm:

– Mầy không lấy thì ai lấy? Chẳng lẽ ba, hay cô Hai lấy sao? Tại sao mầy phải lấy bảo vật của tao?

Thái Vân không trả lời. Tôi cay đắng:

– Bạn trai mầy làm bác sĩ thiếu gì tiền sao để mầy làm như vậy? Chẳng lẻ thằng chả xúi mầy sao? Phải trả nó lại cho tao. Mầy đã mượn tao gần năm chục ngàn rồi còn ức hiếp gì nữa mà đi lấy đồ của tao?

Thái Vân cứng họng trước sự quyết liệt của tôi. Nhưng nó nói:

– Mầy đã cho tao mượn trước sau là năm mươi hai ngàn, tao sẽ trả lại mầy khi tao có tiền. Còn nữ trang của má mầy tao cũng đã bán. “Bần cùng sanh đạo tặc” mà. Mầy về đi, tao mặt chai mày đá rồi, những lời nói của mầy không lọt lỗ tai tao đâu. Vô ích!

Tôi giận quá, rít lên:

– Mầy là con vô liêm sĩ. Cha con tao đối xử với mầy thế nào mầy biết rồi, sao còn nhẫn tâm lấy đồ của má tao đem bán vậy? Mầy còn có phải là con người không? Đầu óc, lương tri, thể diện mầy để ở đâu vậy Thái Vân?

Thái Vân không chút ngượng ngùng, còn mắng xối xả lại tôi:

– Mầy đừng có lớn tiếng mắng chửi tao. Chừng nào có tiền tao sẽ chuộc lại trả cho mầy. Đối với người nghèo đi vào đường cùng như tao: đầu óc, lương tri, thể diện là xa xí phẩm. Đừng có đem nó ra mà hù tao. Mấy thứ đó như nước đổ đầu vịt, nước chảy lá môn, chẳng có ăn nhằm gì với tao đâu. Mầy đừng nhiều lời vô ích. Mầy hãy đem giọng công nương về dạy người ăn kẻ ở, chồng con mầy đi. Đừng có làm thầy đời với tao. Chừng nào có tiền, tao chuộc lại trả cho mầy. Mầy về đi, tao không muốn nói chuyện vói mầy nữa.

Tôi tức muốn hộc gạch, tức muốn nín thở, bật khóc thành tiếng! Từ nhỏ đến giờ, đây là lần đầu tiên tôi cãi lộn, nói nặng nhẹ người khác. Tôi tức tưởi ra về, đầu óc nặng nề, không biết làm cách nào đây? Dĩ nhiên là tôi sẽ giấu nhẹm chuyện nầy với ba, với cô Hai với cả chồng tôi. Tôi vô cùng hối hận đã thương yêu giúp đỡ nó. Tôi nói qua màn nước mắt với nó, trước khi bỏ đi:

– Tao sẽ hận mầy suốt đời Thái Vân à! Tao với mầy từ nay dứt khoát không còn tình nghĩa chi nữa. Coi như tao đã quá ngu dại nên lầm mầy. Tao cũng không muốn gặp mặt mầy nữa. Mầy phải trả những kỷ vật của má tao lại đây. Mầy phải coi chừng, trên đời nầy tao không thấy ai tham lam, lường gạt, mà sống vui sống khỏe cả. Mầy ác đức lắm! Mầy làm những chuyện đại nghịch lỗi đạo thì Trời sẽ không dung, đất sẽ không tha cho mầy đâu.

Thái Vân chẳng thèm nói thêm lời nào, bỏ đi. Tôi chửi bới đã đời rồi đi về. Tôi ghé qua tiệm bán nước giải khát bên đường gọi ly nước đá lạnh lớn. Bà chủ quán hơi ngạc nhiên thấy tôi uống một hơi hết sạch ly nước to như vậy. Nhưng bà không nói gì, lặng lẽ đi nơi khác. Nếu bà có hỏi, thì tôi sẽ không ngần ngại trả lời với bà rằng: “Đó là liều thuốc trị bịnh tức giận!”. Bởi lúc còn nhỏ, ba tôi thường dạy là “lúc nào con tức giận chuyện gì, thì đừng bao giờ nói chi hết, mau rót ly nước lạnh lớn uống vào là cơn giận hờn sẽ xuống ngay”. Uống xong ly nước, tôi trả tiền bà chủ quán, lau sạch nước mắt thất thểu đi về nhà, kẻo ba và con tôi chờ. Lòng tôi tan nát buồn bã vô cùng. Trên đời nầy sao có đứa vô ơn bạc nghĩa như vậy? Nhớ tới đâu, tôi mủi lòng chảy nước mắt tới đó.

Hai đứa con tôi, thấy mẹ mừng quýnh. Đứa lớn ôm chân, đứa nhỏ bỏ tay qua đòi bồng. Tôi ôm con vào lòng nựng nịu, bao nhiêu hờn giận con ngạ quỷ ma vương Thái Vân đó tan biến hết.

Dù cho tôi có ngụy trang khéo léo đến đâu, cũng không làm sao qua được cặp mắt của ba tôi. Đợi không có ai gần đó, ông nhỏ giọng, hỏi:

– Con đi đâu mà khi trở về mặt mày buồn so vậy? Đừng có nói láo với ba là bụi bay vào mắt con như hồi con còn nhỏ nghen.

Tôi thật thà kể lại vụ Thái Vân lấy đồ kỷ niệm của má tôi để lại cho tôi. Nghe xong, ba tôi chưng hửng, ông chép miệng:

– Tai sao nó phải làm vậy? Túng thiếu thì nói chớ, lưưng làm không đủ nuôi sống mình nó sao? Lạ thiệt, hay nó trở chứng cờ bạc?

Tôi chảy nước mắt không trả lời ba tôi. Nó làm sao có can đảm nói túng thiếu? Vì nó đã gạt tôi một số tiền lớn rồi mà! Thiệt đúng là “hảo tâm không được hảo hồi báo” còn bị đau lòng vì mất của! Cái tên Thái Vân từ đây không còn tồn tại trong cuốn sổ đời của tôi nữa.

Chiều, Đông đến rước mẹ con tôi về nhà. Sau khi tôi cho con ăn uống tám rửa, dỗ dành cháu ngủ xong cũng hơn chín giờ tối. Má chồng tôi lên hôn hai đứa nhỏ, trong lúc chúng ngủ say. Bà quay sang nói với tôi:

– Hôm kia, Thái Vân có đến tìm con. Má nói con đi chợ, bảo nó ngồi chơi đợi con về. Nhưng nó nói bận việc, hôm khác sẽ trở lại. Con nhỏ dạo nầy trông tiều tụy lắm.

Tôi giật mình, và nghĩ ngay là con nầy chắc muốn giở trò gì nữa đây? Tôi vội hỏi:

– Nó chỉ nói vậy rồi đi, hả má? Nó còn nói gì thêm nữa không?

Má chồng, nhìn tôi dò xét:

– Nó chỉ nói có bấy nhiêu rồi ra về. Sao còn hỏi vậy?

Tôi chép miệng, thở dài nói trớ:

– Con nghe nói dạo nầy nó hay đi đánh bài, mượn tiền mươn bạc thiếu người nầy người nọ lung tung. Từ rày nó có đến đây mượn tiền, thì má đừng cho nghen má.

Má chồng tôi chép miệng:

– Má cho nó mượn năm ngàn rồi.

Tôi tức muốn điên:

– Thật là cái thứ trời thần đất đỏ mà! Sao má cho nó mượn chi vậy?

Má chồng tôi thật thà:

– Nghe nó nói đến tìm con, má hỏi có chi không. Nó nói là đi mua thuốc uốn tóc cho bà chủ tiệm, chẳng may bị móc túi lấy hết tiền. Nó ghé đây mượn đỡ, cuối tuần sẽ trả lại.

Tôi không nhịn được khóc ồ lên. Má chồng tôi dỗ dành:

– Thôi bỏ đi, lỗi đâu phải ở con mà khóc? Chắc là nó túng quẩn nhứt thời mới làm như vậy, chớ thật ra bản tánh Thái Vân không xấu. Nếu nó trả thì tốt, không trả thì coi như má cho nó. Con đừng buồn tức chi cho mệt. Kệ, bỏ đi con. Đã thiếu nợ rồi thì nó sẽ không dám đến đây quấy rầy nhà mình nữa.

Đông lấy khăn tay đưa tôi, càm ràm:

– Mất rồi thì thôi, còn khóc chi cho tốn nước mắt. Bỏ đi, đụng chuyện gì em cũng khóc!

Tôi lấy khăn chặm nước mắt, nhưng vẫn còn ấm ức tức tưởi. Má chồng tôi nói:

– Nước mắt là khí giới tối hậu của vợ con, vì nó không chanh chua, cay đắng nên khó mà mở miệng đanh đá chửi mắng người khác. Có vợ tánh tình như vậy là phước của con.

Muốn tôi quên đi chuyện phiền muộn, Đông ngồi xuống choàng tay ôm đầu tôi ngã vào ngực chàng, cười cười bảo:

– Má nói là anh có phước, đúng không em? Nhưng sao lúc nào anh cũng bị em ăn hiếp hết vậy?

Má chồng tôi bật cười thành tiếng rồi bỏ đi ra ngoài. Giấu ba và cô Hai về vụ tiền bạc cho Thái Vân mượn thì được, nhưng tôi không thể giấu chồng, mặc dù tiền bạc cho nó mượn trước ngày chúng tôi thành hôn. Vì trên đời nầy, sau ba tôi, người đàn ông mà tôi kính trọng thương yêu nhứt là chồng tôi. Chàng là người sẽ cùng tôi đương đầu gánh vác tất cả những chuyện buồn, vui, khi khỏe mạnh, lúc ốm đau, khổ ải, nhọc nhằn, khó khăn… Tất cả, tất cả những hệ lụy hay hạnh phúc trên cõi đời nầy đều phải san xẻ cho nhau. Nếu chuyện Thái Vân lường gạt và ăn cắp đồ, mà không nói cho chàng biết, thì tôi sẽ tự xấu hổ, và không xứng đáng với lòng yêu thương tin tưởng của chàng.

Nghe tôi kể xong, chàng chép miệng hỏi:

– Vậy, em định thế nào?

Tôi nhũng lời:

– Em cũng không biết làm sao bây giờ?

Đông đưa ý kiến:

– Hay em hỏi coi chị Thái Vân cầm đồ ở đâu, đưa giấy cho em đi chuộc lại.

Tôi suy nghĩ một hồi, rồi nói với Đông:

– Nếu được như vậy thì tốt. Em chỉ sợ nó bán mất rồi, không biết ở đâu mà chuộc lại.

– Em có muốn anh hỏi chị ấy dùm em, đồ cầm ở đâu không?

Tôi, sợ chồng dính vào chuyện bực mình, nên nói với chàng:

– Con quỷ Thái Vân là con ngựa bọ trời. Việc nầy giữa em và nó, anh để em giải quyết.

Đông nhìn tôi, nghiêm giọng:

– Anh chỉ không muốn vì chuyện vừa qua, mà em buồn bực hoài. Nếu Thái Vân trả đồ lại thì tốt, còn không thì coi như chúng ta bị mất trộm. Như vậy em mới thấy đỡ khó chịu. Nhưng anh nghĩ, Thái Vân sẽ trả đồ lại cho em.

Tôi sáng mắt, nắm tay chồng:

– Thiệt hả? Sao anh biết?

– Linh tính cho anh biết. Thôi đi ngủ đi, dạo nầy em càng ốm o thêm rồi đó.

Tôi mỉm cười âu yếm, nhìn chồng:

– Đâu có, cô Hai nói em lúc rày mập hơn trước mà.

Có lẽ Đông thừa biết, khi tôi buồn thì nước mắt giọt ngắn giọt dài, khi vui thì tươi cười như hoa mới nở. Hỷ nộ ái ố hiện rõ trên nét mặt tôi, không làm sao che giấu được. Chàng bảo:

– Hèn chi má nói đúng lắm.

Tôi ngạc nhiên, hỏi;

– Má nói đúng gì anh?

Chàng bẹo má tôi:

– Má nói em ít để giận hờn lâu trong bụng. Tánh tình em như con nít vậy. Thôi, ngủ đi bà xã!

—> Chương 22

Advertisements
This entry was posted in Dư Thị Diễm Buồn, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s