Dư Thị Diễm Buồn: NGOÀI NGƯỠNG CỬA CHIÊM BAO (16…18)

CHƯƠNG MƯỜI SÁU

Hôm nay, Thể Hà lái xe đường dài gần ba giờ đi thăm con. Bởi con bé Thể Quỳnh học kỷ sư trường đại học University of Illinois ở Champaigne. Thật ra thì vợ chồng Thể Hà muốn con học như chị và em nó theo ngành y. Vì con nhỏ có thừa khả năng để xin vào các trường y khoa, nhưng cháu học đâu nửa năm thì về nói với vợ chồng nàng:

– Con cũng muốn học y khoa như chị Thể Dao, nhưng con thử sáu tháng rồi, con thấy nghề nầy không thích hợp với con, nên con thưa với ba mẹ là con chuyển nghề. Con thích học kỷ sư chế tạo các đồ dùng bằng điện hơn. Thí dụ như là điện thoại bỏ túi, điện thoại xe hơi…

Mới nghe con nói, Thể Hà hơi khựng, vì nàng biết con mình có khả năng vào ngành y được mà bỏ đi thì tiếc quá. Nhưng nàng biết tánh của nó. Thể Quỳnh từ nhỏ đã có tánh tình cứng rắn như con trai. Chuyện gì nó muốn rồi thì trước sau gì nó cũng phải làm cho bằng được. Nó ăn nói tự nhiên, không rụt rè e ngại, ngừa trước đón sau như Thể Dao. Tánh tình Thể Quỳnh cởi mở, hoạt bát, năng động. Trong trường, nó đang học cũng có học sinh Việt Nam học lớp cao hơn. Nhưng học sinh Việt Nam lẻ tẻ, ít ai biết ai. Có khi học chung với nhau một hai năm liên tục mà không biết bạn mình là người Việt.

Khi Thể Quỳnh vào học năm thứ nhứt, sau mấy tháng học, con bé đã quen với một số bạn học người Mỹ gốc Việt từ các tiểu bang khác lại. Cô ta mời họ họp lại thành nhóm học sinh Việt Nam để giúp đỡ lẫn nhau về việc học hành, và hoạt động trong lãnh vực văn hóa, thể thao… Đến khi trường tổ chức ngày International, Thể Quỳnh mời gọi nhóm bạn mình họp lại để dự phần tổ chức chung như những học sinh, Nhật, Tàu, Ấn Độ, Đại Hàn…

Được các bạn học hưởng ứng nhiệt tình, mỗi đứa một tay, ai làm gì được thì hết lòng với việc ấy. Nữ thì nhờ mẹ chỉ dạy làm những món ăn Việt Nam như: gỏi cuốn, mì, hủ tíu xào, cơm rang, chả giò đem bày bán trong gian hàng ngày lễ, để gây quỹ cho nhóm và gây tiếng vang cho sinh viên trường biết rằng người Việt Nam chúng tôi cũng hiện hữu ở đây như các bạn.

Những điều con mình hoạt động ở trường, đã làm cho vợ chồng Đông Nhựt hết sức vui lòng và cảm động. Ngày International được tổ chức trong hội trường lớn chứa hàng mấy ngàn sinh viên và phụ huynh học sinh. Trên cao của bốn bức tường là rừng cờ các nước, đủ màu, đủ sắc thái của dân tộc họ. Và mỗi lá cờ của mỗi nước có mỗi linh hồn và ý nghĩa cho dân tộc nước đó. Thể Hà ngày xưa nàng cũng có thời ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, nhưng sự hồi hộp và niềm bồi hồi, xúc động như hôm nay thì không có.

Con gái nàng đây, vô tư lự, hồn nhiên không phải lo sợ đói khổ, không sợ đạn pháo của giặc, không sợ bị chèn ép, bất công, không sợ vô cớ bị bắt tù đày mà chính bản thân mình không biết phải tội vạ gì? Mà ba mẹ cháu đã bồng bế gia đình liều chết trốn chạy khỏi quê hương.

Thể Quỳnh cùng các bạn tung tăng đi đi lại lại, mắt sáng ngời niềm tin tưởng, miệng như trực sẵn nụ cười, mặt mày tươi rói, giọng nói, tiếng cười trong trẻo, như tuôn ánh sáng, như lạch nước mùa xuân rạt rào niềm yêu đời. Cả bọn thanh niên sinh viên nhìn đời bằng cặp mắt màu hồng thắm. Thể Quỳnh ôm vai Đông Nhựt, thỏ thẻ:

– Ba mẹ xem, cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam mình tươi và đẹp quá phải không ba? Mình lại đó chụp tấm hình chung với các bạn con để làm kỷ niệm đi ba.

Thể Hà nhìn lá cờ phất phới trong rừng cờ của Mỹ, của các nước trên thế giới mà lòng bồi hồi cảm động muốn rơi nước mắt, nàng hỏi con:

– Sao các con có lá cờ vừa to, vừa đẹp và mới tinh như vậy?

Thể Quỳnh nhoẻn miệng cười:

– Chúng con đã chuẩn bị cho ngày lễ nầy từ mấy tháng rồi mẹ à. Mẹ thấy không? Mấy nam sinh viên Việt Nam đều mặc quốc phục áo dài gấm, có in đồng tiền màu xanh dương, đội khăn đóng cũng xanh đẹp quá. Họ mua ở California đó mẹ, của ai nấy bỏ tiền ra mua, chớ nhóm tụi con đâu có tiền quỹ. Lúc đầu thì họ mắc cỡ không chịu mặc, bọn con gái chúng con nói, chúng con sẽ mặc áo dài. Và chỉ cho họ thấy mấy người con trai nước Anh mặc củn sọc màu mè, mấy người Ấn Độ mặc quốc phục của họ, người Mễ Tây Cơ, người Ý, người Nga… đó cũng đều ăn mặc cổ truyền của tổ quốc họ cả. Còn lá cờ thì con nhờ người bạn học hôm về thăm gia đình ở California mua dùm. Nhưng ba anh ấy mua tặng không lấy tiền, và còn mua cho thêm mấy dây cờ cánh bướm treo lên chỗ gian hàng sinh viên Việt Nam cho phân biệt với gian hàng các quốc gia khác. Ba mẹ xem kìa, ôi đẹp quá! Thật là đẹp quá đi!

Đông Nhựt hỏi:

– Ngoài cờ và sắc phục ra, các món ăn ở gian hàng, các con còn có làm gì hay trưng bày gì nữa không?

Thể Quỳnh nhanh nhẩu:

– Có chớ ba, chúng con nhờ ông thầy đờn đến biểu diễn đờn tranh và đờn lục huyền cầm. Má của chị Hạnh ngày xưa ở Việt Nam dạy học, bác dạy cho chúng con hợp ca bài Việt Nam Việt Nam và biểu diễn điệu múa Trống Cơm. Sinh viên Việt Nam ở trường con năm nay thế nào cũng trúng giải cho ba mẹ coi.

Những thanh niên thể vóc khỏe mạnh, tâm hồn trong sáng ở trong hoàn cảnh đầy đủ, tự do, yên bình. Họ tự phát triển tài năng thiên phú của mình đem hiến dâng cho đất nước, thì thử hỏi nước nầy không tiến bộ, không giàu mạnh, và sản sinh ra những nhân tài sao được? Tốt lành như vậy thì còn làm theo, mơ mộng những lý tưởng hảo huyền, viễn vông chi nữa? Đời người sống trên thế gian nầy được bao lâu? Có bao nhiêu người sống được trăm tuổi? Sao mà tạo nghiệp khổ đau cho người khác và cho cả chính bản thân mình? Thể Hà thở dài ngao ngán! Theo thiển nghĩ của nàng, người lập ra cái thuyết Cộng sản là một người không bình thường! Đó là một tội nhân thiên cổ.

o O o

Thể Hà từ lúc qua xứ người đến giờ chưa được đi đâu xa. Cứ cái sở làm, cái nhà, cái chợ. Cuối tuần thì đi thăm con. Lâu lắm mới có dịp đi xa là thăm gia đình Thái Vân, gần đây chồng nó vướng phải bịnh hiểm nghèo nên đôi tuần đi thăm một lần. Thể Hà không có bạn bè, trong sở nàng làm cũng có đôi phụ nữ Việt Nam, nhưng nàng chỉ nói chuyện xã giao với họ, vì việc làm, vì gặp gỡ hằng ngày trong sở, chớ chẳng có ai là bạn thân thiện, hoặc để nàng trao đổi tâm sự.

Đầu mùa xuân, mà ngoài trời vẫn còn lạnh lắm. Bầu trời xám đục, mây hạ thấp, tuyết lất phất bay, trong nhà lò sưởi vẫn còn chạy ở 69 độ F liên tục ngày lẫn đêm. Bà Châu lo nấu nướng từ trưa để đãi vợ chồng Thái Vân bữa cơm chiều nay.

Thể Hà lúi húi xếp áo quần, và những thứ cần dùng cá nhân vào va-li để ngày mai nàng cùng vợ chồng Thái Vân đi miền Bắc California một tuần. Chuyến đi nầy là do Thái Vân nhờ nàng đi theo. Thái Vân đi chùa tạ ơn, vì nàng đã cầu nguyện Trời Phật phù hộ cho Tom được qua cơn bịnh hiểm nghèo. Lúc đầu thì Thể Hà không bằng lòng đi, nhưng Đông Nhựt và bà Châu khuyên nàng nên đi với họ, vì bác sĩ cho biết Tom chỉ tạm thời khỏe thôi, không biết sẽ trở bịnh lúc nào, nên có Thể Hà đi theo cũng đỡ cho Thái Vân nhiều lắm. Nếu gặp trường hợp không may bất ngờ, cũng còn người bên cạnh tỉnh táo giúp đỡ nàng.

Thái Vân không biết đã nghe lời ai mà cầu nguyện, để rồi phải đi chùa mãi tận miền Bắc California. Ngồi máy bay từ phi trường O’Hare đến San Jose mất hơn 4 giờ bay, Thể Hà cảm thấy muốn nhợn ói và vì ngồi một chỗ nên chân cẳng, bàn tọa nàng ê ẩm khó chịu vô cùng.

Gần 5 giờ chiều, giờ California (đi sau Illinois 2 giờ) máy bay nới hạ cánh tại phi trường San Jose. Thái Vân giỏi lắm, nàng xốc vác, lanh lẹ, tay xách, nách mang hành lý cho mình còn mang luôn cả đồ cho chồng. Còn Thể Hà thì khóm róm, chỉ đẩy có cái va-li áo quần mà mắt lờ đờ, mặt mày phờ phạc trông phát mệt! Nếu có người hỏi trong hai phụ nữ, và một nam, ai là bịnh nhân thì họ sẽ chỉ Thể Hà vì nàng giống như con gà mắc nước.

Vợ chồng Thái Vân đã đặt khách sạn và mướn xe hơi từ lúc mua vé máy bay. Nên khi đến phi trường là đi lấy xe. Tom ngồi ghế trước, lật bản đồ ra xem để chỉ đường cho vợ lái đến khách sạn. Vào khách sạn, Thái Vân nói chuyện với nhân viên bằng tiếng Anh giòn rụm như bẻ cây, không thua gì người dân bản xứ.

Mọi thủ tục ở khách sạn xong. Ba người họ rửa mặt mày cho mát mẻ, chải lại tóc, rồi Thái Vân lái xe chở ra vùng có khu chợ người Việt tìm hàng quán để ăn.

Tiểu bang California nổi tiếng người Việt Nam đông nhứt nước Mỹ. Ba người chiều nay ăn bánh canh giò heo. Tô bánh canh lớn đầy đặn bốc khói, nước lèo trong vắt, cọng bánh canh bột lọc nõn nà nằm vun chùn dưới những miếng thịt giò heo xắt mỏng, thêm hai dụm heo được nấu mềm, bên trên còn thịt heo bằm trộn với tôm, mấy lát gan heo vừa chín tới. Những chùm sao mỡ lóng lánh dưới ánh đèn cộng với mùi hỗn hợp nồng nàn của tiêu cà, hành xắt nhuyễn cùng ngò rí.

Thể Hà còn đang sật sừ vì chuyến bay xa, vì đói bụng nên khi ngửi mùi thức ăn nàng tỉnh táo ngay, không còn giữ phong độ nho nhã, hay yểu điệu quý phi nữa, nàng hít hít mũi mùi bánh canh tỏa rộng. Tom ngồi ngay ngắn, ăn uống thong thả. Và hình như anh đã quen bản tánh tự nhiên của vợ mình nên tỉnh bơ, không để ý, chẳng cần biết có hai người phụ nữ ngồi cạnh mình. Ngày xưa, phải, ngày xưa, hai người đàn bà nầy cũng có một thuở vàng son chẳng kém thua ai, giờ đây họ ngồi cúi đầu xuống tô bánh canh húp rồn rột, nhai chóc chách ngon lành không đếm xỉa chi đến thiên hạ sự!

Trước khi rời quán ăn, trở về khách sạn, Thái Vân hỏi người chạy bàn, để rồi cô nàng lái xe đến tiệm bán các loại bánh. Cô ta vào tiệm giống như ma đói, cái gì thấy cũng mua, nào là bánh bò, bánh da lợn, bánh tằm mì (làm bằng bột khoai mì), đậu phộng nấu, tàu hủ bánh lọt, bánh tai yến, bánh mì chiên tôm chan tương ngọt. Thái Vân nheo mắt, cười hí hí với Thể Hà:

– Để tối nay tao với mầy dằn bụng trước khi đi ngủ.

Thể Hà lắc đầu cười:

– Vừa trong tiệm ăn ra, tao no muốn chết. Mầy lại đi kiếm tìm những thứ khác để ăn nữa, thì bụng nào mà chứa đây? Đến chết cái nết không chừa về cái tánh ăn hàng vặt của mầy.

Thái Vân, cười tủm tỉm:

– Tại sao phải chừa? Ăn vặt có gì xấu đâu? Ăn bánh canh mau đói lắm mầy à. Tao chỉ sợ không mua mấy thứ ăn lặt vặt nầy, một hồi mầy kêu đói tao không biết tìm đâu ra đồ ăn cho mầy. Lúc ăn được không ăn, mai mốt muốn ăn mà không ăn được, sẽ đau khổ hối hận thì làm sao chịu cho thấu? Nên khi nào ăn được thì ăn, ta còn ăn, ta cứ ăn mầy ơi!

Khê nệ xách một túi đầy vẫn thấy chưa đủ, Thái Vân còn mua thêm mấy hộp sữa đậu nành, và mỗi người một ly nước mía lớn. Chưa kịp vào xe, vừa đi, họ vừa thưởng thức nước mía mới ép ngọt ngào. Bên thành ly còn đóng bọt trắng và nồng nàn mùi mía, mùi trái tắc. Thể Hà không biết làm sao mua nước mía nầy về để mẹ chồng, chồng và các con nàng được thưỏng thức. Vì họ cũng như nàng, bao nhiêu năm qua rồi, từ dạo rời quê hương, hôm nay là lần đầu tiên Thể Hà mới được thưởng thức lại hương vị nước mía.

Thể Hà quen rồi, sáng nào nàng cũng thức sớm như những ngày đi làm, ngày cuối tuần, hoặc những ngày nghỉ lễ cũng vậy, nàng không sao ngủ trưa dược. Trong khi chồng con trùm mền mê man tàng tịch trong giấc điệp, dẫu trời có sập họ cũng không hay.

Nàng đến cửa sổ trên lầu năm của khách sạn, nhìn xuống đường. Nắng ở đây rực rỡ, chói chang, trải trên cây lá xanh tươi đầy sức sống của đầu mùa xuân.

Có cây trổ hoa màu tím tím, màu hồng nhạt, màu vàng anh, màu xám tro, màu đỏ… trước sau sân nhà tư nhân, công tư sở. Nằm dọc theo hai bên lộ nhỏ, sát cạnh đường xe chạy là dành cho người đi bộ. Nhà cao, nhà thấp chập chùng, chen chúc. Nhà cửa ở California nổi tiếng mắc gấp ba bốn lần ở những tiểu bang khác. Nhà mắc phần lớn là do thời tiết nơi đây ôn hòa, không lạnh xé thịt da, không nắng cháy. Có nhiều hãng xưởng lớn. Dân đông, dễ buôn bán, làm ăn… nhất là người Á Đông.

Xe cộ nườm nượp, dập dìu vì trọng điểm buổi sáng trước giờ làm việc. Bên ngoài trời ấm áp nhộn nhịp như vậy, nhưng trong lòng Thể Hà không cảm thấy vui, vì nàng nghĩ đến những người trong gia đình.

Giờ nầy chồng nàng đã đi làm việc được ít nhứt cũng ba giờ rồi, vì ở California đi chậm hơn Chicago phải 2 giờ. Chiều nay, má chồng nàng sẽ nấu thức ăn, để cuối tuần bà cùng con trai đi thăm cháu nội.

– Ê, sao không ngủ thêm chút nữa, thức sớm quá vậy mậy? Bộ nhớ chồng hả?

Tiếng lè nhè của Thái Vân hỏi. Thể Hà quay lại mỉm cười:

– Số tao là số con rệp, cứ khoảng 5 giờ sáng là không ngủ được nữa. Sao mầy cũng thức sớm vậy? Mọi khi mầy ngủ trưa lắm mà?

Nó cười quơ vội chiếc áo khoác choàng lên người vừa đi vào phòng tắm vừa nói:

– Mầy thức sớm, làm sao tao dám ngủ trễ. Nói giỡn chớ sửa soạn đi ăn sáng rồi đi chùa luôn, từ đây đến chùa phải mất ít nhứt là 2 giờ 30 phút lái xe lận, chưa tính đi lạc.

Thể Hà bước theo Thái Vân, đứng dựa lưng vào vách gần cửa, nói chuyện:

– Mầy chọn chùa chi xa quá vậy? Sao không chọn mấy chùa gần cho tiện, nơi nào cũng thờ Phật. Cốt nhứt là do tấm lòng thành của mình thôi.

Thái Vân vừa rửa mặt vừa trả lời:

– Mầy nói cũng đúng, tao đã thử nhiều chùa rồi nhưng không kết quả. Lúc Tom còn nằm ở bịnh viện, tao gặp được một bà người Việt Nam cũng đi nuôi chồng. Bả bày cho tao bảo về thử cầu nguyện chùa nầy sẽ thấy linh ứng. Thật vậy, mặc dù không được đáp ứng như ý muốn, nhưng kết quả cũng tốt lắm. Nên tao nhứt quyết bắt Tom cùng đi với tao đến tận nơi để cầu nguyện. Tom chưa tự chọn cho mình một tôn giáo nào hết, ổng không mấy tin tưởng Chúa Trời, Chúa Giê-su, Đức Mẹ, hay Phật, Bồ Tát. Nhưng khi tao đi chùa hay đi nhà thờ nào thì ổng cùng đi theo.

Thái Vân mở cửa phòng tắm, bước ra:

– Mầy coi, thuốc Tây, thuốc Tàu gì cũng đã điều trị hết rồi, nhưng chỉ cầm cự thôi. Đi chùa may ra còn có hy vọng thì tại sao không đi thử? Không lẽ tao để Tom nằm đó chờ chết? Cho nên tao không bỏ lỡ một dịp may nào hết. Tao phải chạy chữa cho Tom bằng mọi cách. Dù biết rằng mò kim đáy biển, tao cũng phải thử. Để sau nầy, tao sẽ không muốn hối hận vì lương tâm cắn rứt. Khi Tom qua đời mà tao nghĩ rằng mình chưa chạy chữa đúng mức cho chồng.

Thể Hà nghe lòng mình trũng xuống, nhẹ giọng:

– Mầy nói phải lắm, còn nước còn tát.

Khoảng đường từ khách sạn đến chùa Kim Sơn, Tom để Thể Hà ngồi trước với Thái Vân, vì anh cần ngồi rộng rãi một mình ở phía sau và anh cũng có ý cho nàng và Thái Vân ngồi gần để dễ trò chuyện hơn.

Đường lên chùa đã xa mà còn khúc khuỷu, ngoằn ngoèo, khó đi. Xe phải chạy lên dốc vùng đồi núi âm u, thưa nhà, ít chợ, vắng vẻ đìu hiu. Thái Vân chạy lạc mấy lần, nhưng rồi cũng đến nơi.

Họ đậu xe ngoài bãi, đi bộ vào chùa cũng không xa lắm. Hai bên đường cây cao bóng mát. Gió thổi vi vu làm các cành lá va chạm vào nhau tạo thành âm thanh rạt rào giữa chốn son lâm u tịch nầy. Hôm nay là ngày thường chớ không phải cuối tuần hay ngày vía lớn. Vậy mà khách thập phương đến thăm viếng chùa cũng không ít, bởi bãi đậu đầy xe.

Cơn gió mạnh hốt những chiếc lá khô bay long lóc trên mặt đường nhựa, trên sân tráng xi-măng. Tiết trời khô ráo, đang nắng chói chan. Bỗng vầng mây đen từ đâu bay tới che phủ mặt trời. Không gian nhạt nhòa, u ám, báo hiệu cơn mưa lớn sắp đổ xuống nơi nầy. Từng cơn gió lành lạnh thổi mạnh cây cành quằn quặt, nghiêng ngã.

Chùa Kim Sơn tọa lạc trên ngọn đồi cao. Cổng chánh vào có tượng Phật Thích Ca thật lớn ngồi tòa sen đặt trên bục cao chắn ngang đường, tạo thành hai lối bên hông đi thẳng vào chùa.

Chùa xây cất chưa xong. Mặc dù có nơi thờ các chư vị Phật, có nơi hành lễ, có thư viện, có nhà ăn… đầy đủ tiện nghi cho một ngôi chùa. Nhưng Thể Hà nghĩ rằng đây chỉ là chỗ tạm thời thôi. Vì trước thư viện có họa đồ kiểu mẫu của ngôi chùa nầy, vẫn còn nhiều nơi chưa xây cất. Bên hông chùa, ở phía trước, phía sau, thợ thầy, xe ủi đất đang rầm rộ làm việc.

Thể Hà thán phục, người nào có cặp mắt tuyệt vời chọn vùng đồi núi nầy để xây cất chùa. Ở đây hẻo lánh, nhưng yên tịnh, cảnh sắc có khác chi non Bồng nước Nhược, trong những truyện phim Tàu qua cách dàn dựng phong cảnh trên thượng giới, phong cảnh xứ của Tiên, của Phật?

Đứng trước sân chùa, du khách nhìn được rõ ràng bốn phía. Những ngọn đồi cao, đồi thấp chen chúc chập chùng. Những cây to cỡ một hai vòng tay ôm, cao chót vót, đứng sừng sững dưới trời. Cây già, cây tơ, cây lớn, cây nhỏ… cành lá sum sê đầy nhựa sống, tạo thành một vùng rộng lớn bao la một màu xanh thăm thẳm.

Tiếng mưa rơi từ xa âm thanh nghe ào ào, gần dần, gần dần càng lúc càng rõ. Cơn gió thổi mạnh lùa theo vách núi luồn lách qua hóc núi, khe đá hòa cùng cái thâm sâu của sơn lâm tạo thành nhiều âm thanh hỗn hợp dồn dập, ào ạt, rền vọng, vút lên, rít mạnh. Phải chăng đó là tiếng hú của núi rừng?

Từ mái hiên phía sau chùa, tiếng đại hồng chung trầm bổng rền vang. Ngoài trời, mưa vẫn rơi nặng hột, nước mưa rạt rào, trắng xóa trong ánh nắng le lói của trời trưa bóng ngã trên núi cao. Mưa trong nắng. Mùi lá cây rừng, mùi hoa cỏ hòa mùi trầm nhang theo làn khói trắng tỏa bay. Thể Hà có cảm tưởng mình đang ở ngoại thế như cảnh Đào Nguyên, Thiên Thai.

Từ cửa ra, vừa đi vừa nói cười rôn rổn, không giữ gìn ý tứ của Thái Vân:

– Mầy làm gì đứng ở đây một mình vậy Thể Hà? Cảnh chùa thế nào mậy? Tao thấy buồn quá. Tao mà đi tu thì lựa chỗ nào vui kìa, chớ chỗ như vầy tao không đi tu đâu.

Nãy giờ Thái Vân và Tom ngồi đàm đạo với một sư trẻ ở nhà khách. Thể Hà lẻn ra ngoài đây ngắm cảnh sắc chung quanh chùa. Nàng mỉm cười:

– Mầy đừng có nói điên. Nơi nầy đúng là chỗ thanh tu. Nhìn cảnh sắc ở chùa trang nghiêm, yên tịnh, được bao bọc chung quanh bởi núi rừng hùng vĩ như xa trần đời thế nầy, thì ai không muốn đi tu?

Con mắc toi cười khúc khích, rồi ngâm nho nhỏ: “Tu đâu cho bằng tu nhà / Thờ cha kỉnh mẹ hơn là đi tu”.

Thể Hà lườm Thái Vân, gắt nhỏ:

– Mầy có im cái miệng lại không? Già cái đầu còn nói bậy nói bạ ở đây, coi chừng mang tội cái miệng nghen mậy. Chồng mầy đâu?

Thái Vân cười hí hí:

– Mầy suốt đời tăn hăn tó hó khó coi! Tao nói giỡn, Trời Phật biết tâm ý của tao mà. Ờ, hồi nãy Tom ngồi trong nhà khách, tao không cho, bắt ổng phải vào chánh điện để dạy ổng thành tâm cầu nguyện. Đã lặn lội đến đây rồi thì phải tỏ lòng thành trước đức Phật chớ. Ông sư nói sắp tới giờ cúng, nên tao đi tìm mầy. Thôi vào đi, cúng xong rồi thọ trai chi đó để bọn mình còn về nữa kẻo tối. Tao ngại lái xe đường đồi núi ban đêm lắm.

Thể Hà theo sau Thái Vân trở vào. Trong chánh điện ngoài tượng Phật Thích Ca lớn, còn có nhiều tượng của các vị Phật ngồi, đứng, trên ba dãy bàn thờ được đúc bằng xi-măng cốt sắt kiên cố. Vị Phật nào cũng được sơn son, thếp vàng sáng ngời, mặt mày hiền lành, thanh tú, và sáng rực rỡ dưới ánh nến lung linh. Chưa bắt đầu lễ cúng mà khách thập phương đã quỳ gần nửa chánh điện. Thể Hà, liếc thấy Thái Vân và Tom quỳ sau lưng các sư sãi.

Các sư tụng kinh có ca, có kệ. Giọng khi trầm, khi bổng, khi lên, khi xuống nhịp nhàng rền vang hòa vói tiếng mõ, tiếng chuông, tiếng đại hồng chung rền vọng, cùng mùi trầm nhang nồng nàn, làm lòng Thể Hà chùng lại. Nàng nguyện cầu cho mẹ chồng, cho gia đình mình từ trên xuống dưới được khỏe mạnh, các con có tâm hồn tinh tấn, minh mẫn, học hành được sớm đỗ đạt, thành tài.

Thể Hà cúng xong đứng lên bước ra. Nàng rón rén, lưng khom khom, cố không gây tiếng động, đi vòng đến sau lưng bên phải của Thái Vân và Tom ngồi bên trái đang cầu nguyện. Thể Hà len lén nhìn, mắt Tom nhắm nghiền, đôi chân mày châu lại. Anh ta đọc những lời cầu nguyện do Thái Vân đọc trước. Mặc dù hai người cố đọc thật nhỏ, nhưng những người ngồi gần cũng nghe được, vì không khí trong chánh điện trang nghiêm và yên lặng. Quý tăng ni khi cúng xong rút lui vào trong. Và bây giờ mới nghe được tiếng lào xào nhè nhẹ của khách thập phương cầu nguyện. Thể Hà chầm chậm đi theo sau vợ chồng Thái Vân. Nàng hỏi Tom:

– Anh cảm thấy thế nào? Khoảng đường dài ngồi xe từ phố lên chùa, và nơi đây đông người, chắc anh không được dễ chịu?

Tom lắc đầu cười, trả lời Thể Hà:

– Trước khi đến đây, tôi cũng nghĩ như chị vừa nói. Nhưng điều làm cho tôi ngạc nhiên là cảm thấy mình khỏe hơn lúc ngồi máy bay từ Chicago đến San Jose.

Thái Vân mặt mày tươi rói, hỏi chồng:

– Thật hả? Như vậy em mừng quá! Hơ-ni, phải đặt hết tâm trí và lòng thành của mình khi cầu nguyện, thì Phật Tổ mới cảm động hộ độ cho anh mau khỏi bịnh.

Thể Hà hỏi Thái Vân:

– Ngoài Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, mầy dạy Tom cầu các vị Phật, các vị hiền Thánh Tăng nào?

Thái Vân bảo:

– Tao bắt ổng học hai bài mật chú: Quán Âm Linh Cảm Chơn Ngôn và bài Dược Sư Quán Đảnh Chơn Ngôn. Tao có nghe ông già bà cả mình thường nói, Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai linh ứng lắm. Có lần tao nghe người ta kể, hồi thời Pháp thuộc, có ông thương gia người Pháp ở Sài Gòn bị bịnh lao cấp tính sắp chết. Bà vợ đành bó tay ngồi khóc. Chị bếp Việt Nam thấy vậy khuyên ổng bả đi chùa cầu Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Họ túng thế nên đi thử. Ai dè ổng hết bịnh. Vợ ổng cải đạo Gia Tô theo đạo Phật. Bả xuất tiền cất ngôi chùa ở Phú Nhuận. Những người biết chuyện gọi chùa đó là chùa Bà Đầm, hiện giờ vẫn còn. Tao còn nghe ai trì tụng Kinh Dược Sư thì khuôn mặt càng lúc càng rạng rỡ như ánh lưu ly, đẹp đẽ hơn xưa.

Thể Hà chặn lại:

– Có thiệt không đó? Mầy đừng có hứng chí rồi cương ẩu nghen.

Thái Vân quên mình đang ở chùa, quắc mắt nhìn Thể Hà, rồi mắng vãi :

– Chuyện Trời, chuyện Phật, tao dại gì đặt dóc để mắc khẩu nghiệp hay sao? Rất có thể tao quên vài chi tiết, cũng rất có thể tao cao hứng thêm vào vài chi tiết. Nhưng vận sự vẫn có thiệt. Nếu không tin thì tìm những người lớn tuổi ở lâu vùng Tân Định, Phú Nhuận, Bà Chiểu, Ngã Năm Bình Hòa hỏi sẽ rõ. Mầy đừng có đem đầu óc lợn xề của mầy ra mà phán đoán tao nghen mậy.

Thể Hà mắc cười, nhưng cố nín. Nàng làm mặt bình thản, lim dim đôi mắt, chấp tay trước ngực:

– A-di-đà-Phật! Con nầy hôm nay hành hương, lạy Phật, nhưng cái miệng nó vốn hỗn ẩu, dữ dằn, nó mắng tui như tát nước đó bà con làng nước ơi!

Hai đứa không nhịn được, vội lấy tay cố bụm miệng để tiếng cười không phát ra làm ồn những người chung quanh.

Thái Vân đưa tay mình kéo lại chiếc khăn choàng cổ phủ kín lại để giữ ấm cho chồng. Tom cảm động cử chỉ của vợ, anh âu yếm nắm tay Thái Vân bóp nhẹ. Thể Hà quay đi giấu giọt lệ vui mừng, vì nàng biết chắc rằng Thái Vân thật sự đã yêu và đã được “đối phương” yêu.

Thể Hà chợt nhớ lần nào đó xa lắm, xa thật là xa ba nàng đã nói: “Má con sống với ba có mấy năm, tình nghĩa vợ chồng đang keo sơn nồng mặn thì đột ngột bả bỏ ba mà đi. Bả xa ba quá sớm! Để cho ba thương yêu, để ba đau khổ vô cùng. Nhưng ba vẫn thầm cảm ơn Thượng Đế đã an bài cho ba có một người để nhớ để thương để đau khổ. Nếu không thì kiếp làm người của ba như một cây chết, như một cái giếng khô…”.

Thái Vân quay qua nói với Thể Hà:

– Bây giờ bọn mình xuống phòng ăn.

Thể Hà chợt nhớ ra, vội nói:

– Mày đi đi, tao quên để tiền vào thùng phước sương cúng nhang khói cho chùa.

Thái Vân nói nhanh:

– Tao cúng rồi, mầy khỏi cúng.

Thể Hà cười, liếc xéo Thái Vân:

– Nói bậy nà, phần mầy khác, phần tao khác chớ. Mầy cúng đó là phần của mầy, còn tiền của tao cúng mới linh nghiệm cho gia đình tao. Phật Trời mà mầy cũng muốn ăn gian hả con quỉ?

Thái Vân lắc đầu cười ngất, nắm tay chồng đi về phía phòng ăn, chỗ nhiều người đang sắp hàng chờ, dài ra tận đến ngoài mái hiên.

Vợ chồng Thái Vân may mắn mới đến thì được xếp ngồi vào chiếc bàn riêng trống, ở cuối phòng. Thể Hà ở ngoài bước vào còn đang dáo dác quay qua quay lại tìm kiếm, thì thấy Thái Vân quơ quơ tay ra hiệu cho biết đã có chỗ ngồi dành cho nàng.

Phòng ăn kê bốn dãy bàn dài theo chiều dọc và chiều ngang tạo thành hình chữ U. Trong lòng chữ U thì có những chiếc bàn nhỏ ngồi hai người, hoặc bốn người. Tất cả bàn được kê thứ tự, có khoảng trống để đi lại rộng rãi. Đồ chay, bánh, trái cây để ăn tráng miệng không dọn lên bàn, hay để cho khách tự gắp, tự múc lấy, mà có những bà, những ông làm công quả cho chùa lấy sẵn những thức ăn để trên dĩa giấy. Muỗng nĩa bằng nhựa, khăn giấy, ly giấy đựng nước trà nóng, nước lọc cũng được sắp sẵn, rót sẵn cho khách.

Thái Vân và Thể Hà lên đứng vào hàng chờ đến phiên mình nhận đồ ăn. Thái Vân lãnh một phần cho mình, một phần cho chồng đang ngồi chờ ở bàn. Thể Hà lãnh phần mình thì trở lại bàn. Nàng đi đến giữa phòng ăn, nhìn qua dãy bàn bỗng dưng khựng lại.

Nàng vừa bắt gặp dáng dấp của một người mà nàng quen biết. Người đàn bà kia lưng quay về hướng nàng đi xuống, đầu chị ta cúi thấp vì đang ăn. Thể Hà đi ngang qua nhưng vẫn nhìn không rõ mặt nên không khẳng định được đúng là người quen hay là mình nhìn lầm?

Đến bàn ngồi ăn, nàng vừa ăn mà chốc chốc cứ liếc mắt hướng về người đàn bà đó. Tom đang nhỏ nhẻ ăn không để ý, nhưng Thái Vân thì thấy rõ, nàng không nói gì, theo dõi hướng nhìn của Thể Hà. Thái Vân vẫn không xác định được Thể Hà đang nhìn ai? Tom ăn xong. Anh ta đứng lên đi lấy thêm nước. Thái Vân cười cười chọc quê, hỏi:

– Thể Hà, mầy ăn, mà sao cặp mắt cứ láo liên nhìn đàn ông vậy? Không có chồng có mấy ngày lại sanh chứng “dê” rồi? Bộ vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm hả?

Thể Hà bị Thái Vân hỏi trặc trẹo vừa mắc tức cười vừa cảm thấy ghét, nạt vội:

– Đầu óc mầy lúc nào cũng bẩn thỉu, dơ dáy. Rõ là “xét bụng ta, ra bụng người”. Tao bây giờ có chờ vên vên kêu thôi. Mầy chỉ giỏi tài đoán bậy không hà.

Thái Vân cũng chưa chịu để Thể Hà yên:

– Mầy còn ngon lành lắm, Thể Hà à.

Rồi Thái Vân làm bộ, rờ tóc chỉ trỏ vào tay, vào eo Thể Hà trề trề môi, nói:

– Tóc mầy uốn lại, quần áo mặc thời trang hơn, màu sắc tươi trẻ, bó sát eo, trang điểm cho đậm đà hơn, đeo nữ trang thêm thì mầy sẽ còn ăn tiền lắm.

Thể Hà không nhịn được bụm miệng cười, vì không khéo sẽ phun thức ăn ra khỏi mồm:

– Đủ rồi, mầy điên vừa thôi. Tao biết trong mắt mầy, tao là đứa quê mùa. Nhưng không sao. Mầy nghĩ thế nào cũng được, tao không phiền đâu. Thôi, đừng có nói bậy để chọc ghẹo tao nữa. Mầy thử đứng lên đến gần người đàn bà mặc áo dài dỏ mỏng te, tóc búi cao, đang ngồi quay xéo về hướng mầy đó. Nhìn cho kỹ nghen, coi còn nhớ ra bà ta là ai không? Rồi nói cho tao biết. Nếu mầy đoán đúng, ngày mai tao sẽ bao mầy chầu phở Hòa ở San Jose.

Thái Vân mắt sáng rỡ, lấy xách tay te te đi đến bàn có người đàn bà ngồi mà Thể Hà vừa chỉ. Thể Hà giựt mình, không ngờ Thái Vân phản ứng nhanh như vậy. Nàng không nói gì, ngồi yên theo dõi, coi cô ta muốn dở trò gì đây? Thái Vân đi gần đến bàn bà mặc áo đỏ thì chậm lại, rồi làm bộ đụng nhẹ vào bàn bà ta, và làm rớt cái bóp. Nàng nở nụ cười nhỏ nhẹ xin lỗi.

Thể Hà biết ngay con nầy bổn cũ soạn lại, giở cái trò hồi học trung học thường dùng khi nó trở chứng muốn làm cho con trai hay ai đó để ý đến nó.

Thái Vân lại khom xuống lượm cái xách tay vừa rớt, chầm chậm đứng lên cố ý nhìn cho rõ mặt người đàn bà đó, rồi đi thẳng đến bàn lấy hai ly nước trà đem xuống. Thái Vân đẩy cho Thể Hà một ly. Nhếch mép khinh khỉnh cười nửa miệng:

– Tao chịu thua. Thấy bà ta hơi quen quen như đã gặp rồi ở đâu vậy? Nhưng thật sự tao không nhớ là ở đâu. Có lẽ tao quen bả vì cùng đầu ông Trời và ở nước Việt Nam.

Thái Vân vừa nói, vừa cười khanh khách như muốn trêu cho sự lẩm cẩm của Thể Hà. Thể Hà nghiêm giọng:

– Mầy hãy bình tĩnh, tay hãy vịn thật chặt vào bàn cho khỏi té, và vểnh cái lỗ tai mà nghe tao nói đây.

Bỗng Tom trở lại nói với vợ, là anh ta ra nhà ngoài nói chuyện với sư trụ trì, dặn chừng nào ra về thì mới gọi anh ta. Thái Vân gật đầu, Tom vừa bước đi thì nó quay sang Thể Hà gắt:

– Nói đi, nếu đúng là tao biết người đó thì chẳng những tao không phải keo kiệt chỉ trả tiền chầu phở như mầy đâu. Tao hứa sẽ đài thọ tất cả mọi tổn phí ăn uống tiêu vặt của mầy từ đây cho đến ngày mầy về.

Thể Hà đắc ý, lí lắc:

– Nói nhớ giữ lời nghen! Mầy sẽ hài lòng và cảm thấy đài thọ rất xứng đáng cho lần thắng nầy của tao. Nghe đây! Ngày xưa, mầy mướn ở bên cầu Chữ Y chớ gì? Bà chủ nhà của mầy có phải tên là Nguyệt Nga không? Nhớ lại coi, và nhìn cho kỹ bà đó có phải là bà Nguyệt Nga của mầy không?

Chẳng nói chẳng rằng, Thái Vân xô ghế, chạy ùa lại bàn bà mặc áo đỏ đang ngồi ăn, hỏi lớn:

– Xin lỗi, chị có phải là Nguyệt Nga không?

Người đàn bà ngạc nhiên, chưng hửng, mở to mắt trả lời:

– Dạ tôi là Nguyệt Nga, xin lỗi chị là ai?

Thái Vân ôm chầm lấy chị Nguyệt Nga, chị ta muốn mất thăng bằng, làm hai người thiếu điều muốn ngã sấp lên nhau. Chị Nguyệt Nga vẫn chưa khỏi ngạc nhiên, còn Thái Vân hụt hẩng lời nói trong tiếng khóc ngất:

– Em đây, em là Thái Vân đây! Chị còn nhớ đứa con gái xấu số nầy không?

Chị Nguyệt Nga qua phút ngỡ ngàng, ôm chặt Thái Vân, hai người như nhập thành một, và chị thảng thốt kêu lớn, giọng chan hòa nước mắt:

– Trời ời! Thái Vân ơi, Thái Vân ơi! Không ngờ chị em ta còn gặp lại nhau đây!

Mọi người có mặt trong phòng ăn nghe thấy đều xúc động. Thể Hà mắt đỏ hoe, kéo hai người lại ngồi xuống bàn, nói chuyện. Thể Hà lên tiếng trước:

– Thật bất ngờ quá, chị Nguyệt Nga hôm nay sao chị đến chùa nầy? Bộ chị đi nghỉ hè ở đây, hay dọn về San Jose rồi sao?

Nguyệt Nga lau nước mắt, trả lời:

– Thằng con thứ ba của tôi có nhà cửa và tiệm làm móng tay ở San Jose. Vợ nó sanh đứa con thứ hai, tôi lên đây nuôi và ở lại trông chừng hai đứa cháu nội. Mấy hôm rày, gia đình thằng con tôi về đám cưới con em con bà dì của vợ nó. Tiện dịp, tụi nó đi nghỉ hè luôn hai tuần. Đâu còn mười ngày nữa chúng nó mới trở về. Ở nhà buồn, tôi đi xe đò lên đây cúng chùa. Tôi nói thiệt tình nghen chị Nhựt, tôi định goi điện thoại thăm gia đình chị và báo tin với chị tôi đã dời về đây, nhưng ngày qua ngày bận rộn với hai đứa cháu nội rồi tôi quên. Thành thật xin lỗi chị nghen. Chèn ơi, thiệt tình chúng mình có duyên quá, mình không đến đây sớm, cũng không đến trễ, mà đến đúng lúc và cũng vào ngày hôm nay. Lạy tạ Phật Trời phù hộ cho tôi gặp lại được cô Thái Vân. Ờ, mà sao chị cùng đi với cô Thái Vân vậy chị Nhựt?

Thể Hà cười nhẹ:

– Tôi xin lỗi chị mới đúng. Bởi Thái Vân là chị tôi, nhưng từ lâu tôi chỉ nói với chị là bạn học thôi. Chị không giận tôi chớ?

Chị Nguyệt Nga xua tay:

– Không, không đâu, gặp lại cô Thái Vân tôi mừng không hết, có đâu mà giận chị.

Ba người phụ nữ ngồi nói chuyện huyên thiên. Đã gần 30 năm rồi Thái Vân và Nguyệt Nga mới gặp lại nhau. Họ, một người là chủ nhà cho thuê, một người mướn nhà, tuổi tác không chênh lệch bao xa, lại có cảnh ngộ gần giống nhau nên thông cảm và yêu thương nhau lắm. Nguyệt Nga thành thật mời:

– Chị Nhựt và vợ chồng cô Thái Vân đến nhà tôi ở. Mấy đứa nhỏ đi hết rồi, nên nhà vắng hoe. Ở khách sạn bất tiện lắm, tôi lại không biết lái xe, làm sao mà mình có nhiều thì giờ gần gũi trong những ngày vợ chồng cô Thái Vân và chị Nhựt ở đây?

Thể Hà không có ý kiến, Thái Vân nói:

– Cảm ơn chị Nguyệt Nga, ông xã tôi có bịnh nên không tiện ở nhà chị được. Chút nữa đây, tôi sẽ chở đưa chị về nhà và mỗi lần đi đâu nếu chị muốn đi chơi với chúng tôi thì tôi đến đón chị.

Nguyệt Nga chép miệng, miễn cưỡng bằng lòng:

– Vậy cũng được. Mà chồng cô bịnh gì vậy?

Thái Vân buồn rầu nhìn ra cửa sổ, kể hết bịnh tình của Tom cho Nguyệt Nga nghe. Cô ta rớm nước mắt, kết luận:

– Chị xem, tôi thật là khổ mạng. Đời tôi luôn gặp những chuyện không may mắn.

Thể Hà xen vào, làm tài khôn khuyên bạn:

– Mầy lại bi quan nữa rồi, chồng mầy chưa gặp cơ duyên chớ anh ta đâu phải bị bịnh tuyệt chứng hết thuốc chữa đâu.

Chị Nguyệt Nga nhanh miệng, bảo:

– Chị Nhựt nói đúng đó cô Thái Vân. Đâu, cô thử đi ông thầy thuốc Nam nầy coi. Tôi nghe người ta nói ai bịnh gan trị thuốc Bắc hay thuốc Nam thì sẽ có hiệu quả hơn. Biết đâu phuớc chủ may thầy mà chồng cô sẽ khỏi bịnh. Tôi biết có ông thầy thuốc Nam nầy trước kia ở mãi đâu ngoài Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng. Ổng qua đây theo diện con bảo lãnh mười mấy năm rồi. Ổng chẩn mạch và cho thuốc mát tay, nên nhiều người hết bịnh. Nghe nói ngày nào nhà ông cũng có bịnh nhân từ các tiểu bang xa đến xin điều trị.

Trong khi Nguyệt Nga thao thao bất tuyệt khen ông thầy thuốc thì Thái Vân buồn hiu, có vẻ lơ là. Thể Hà cằn nhằn:

– Đã đến đây rồi thì xa gần gì cũng đi. Biết đâu như lời chị Nguyệt Nga nói, phước chủ may thầy. Đi đúng thầy, bịnh chồng mầy sẽ khỏi.

Thái Vân không nói gì, Thể Hà quay qua hỏi:

– Ông thầy nầy ở gần đây không chị Nguyệt Nga?

Chị Nguyệt Nga nhanh nhẩu:

– Ở Sacramento, cách San Jose 2 giờ 30 phút lái xe. Để về tôi gọi điện thoại hỏi bà bạn chỉ đường cho mình đến nhà ông thầy thuốc Nam đó. Mai mình đi nghen, cứu bịnh như cứu hỏa mà.

Trước khi ra về, Thái Vân lôi chồng vào lạy Phật lần nữa. Nàng bắt chồng chắp tay trước ngực, mắt nhìn thẳng vào mắt Đức Phật thành tâm và đọc theo lời cầu nguyện như mình: “Kính lạy Phật Dược Sư, con tên Tom Hunter đang mang bịnh nặng trong người. Cầu xin Phật cùng Bồ Tát Quan Thế Âm chỉ cho con gặp được thầy thuốc trị con hết bịnh. Con nguyện sẽ trở lại đây đền ơn, tạ lễ. Con nguyện theo gương đức Phật từ bi thi ơn, bố đức, làm lành, lánh dữ…”.

—>Chương 17

Advertisements
This entry was posted in Dư Thị Diễm Buồn, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.