Dư thị Diễm Buồn: MỘT GÓC TRỜI THÔN Dà(3-4)

CHƯƠNG BA

Giữa tháng chạp, nhà nhà rộn rịp ngó thấy.

Trong xóm bà Tư Hiền có nhà đã mở lò ra để tráng bánh. Họ tráng bánh tráng trắng, mà người địa phương gọi là bánh tráng nhúng nước để cuốn gỏi cuốn, cuốn bì, cuốn nem cúng quảy ăn uống trong ba ngày Tết Nguyên Đán. Đó là những nhà có xây lò để dành tráng bánh khi có đám tiệc, hay ai đặt làm nhiều, hoặc họ chỉ tráng trong mùa Tết đã được đặt trước, chớ họ không tráng quanh năm như những lò tráng bánh hàng ngày để đếm cho bạn hàng, cho các tiệm, các chợ…

Cẩm Hương cứ mỗi đầu tháng xuống tỉnh lãnh lương và tiện dịp về thăm nhà. Tuần nay cô định đi lãnh lương ở Ty Tiểu Học, đi dạo chợ Mỹ Tho rồi trở lại Cai Lậy, chớ không về thăm ba má, vì còn mấy ngày nữa được nghỉ lễ Tết, tới ngày đó về thăm luôn cho tiện.

Cẩm Hương đến Ty Tiểu Học lãnh lương xong, thả bộ ngang cổng sau của trường Le Myre de Vilers. Trong sân trường có mấy cây me già, mấy cây còng xanh lá tỏa bóng râm, mát rượi. Nàng chợt nhớ tới Ánh Nguyệt, cô bạn gái xinh đẹp, duyên dáng của mình. Nghe nói nhỏ đã thi đậu bằng Thành Chung mùa thi rồi, nhỏ ta trở về quê nội ở chợ tỉnh Mỹ Tho học thêu may, làm bánh, làm bếp do hai bà cô của nhỏ chỉ dạy. Chèn ơi, nhỏ chỉ học mấy món ăn cổ truyền, các món bánh mứt cổ truyền, và thêu tay khéo nổi tiếng. Kỳ lễ Nữ Thánh Jeanne d’Are vừa qua ở hội chợ Kẹt-mết (kermesse) có cuộc đấu xảo các đồ thêu, các món bánh mứt. Ánh Nguyệt trúng giải nhì về bánh men lớn cỡ trái chanh, nhỏ bắt bông đường trên mặt mỗi bánh hình bông hồng màu hường, bông cúc vàng, bông trang đỏ… Tết cả các bông nằm trên cành lá xanh tươi đẹp lộng lẫy. Về môn thêu, nhỏ chiếm giải khôi nguyên cho cặp áo gối bằng sa-teng hồng thêu con công xòe đuôi như cây quạt bên cạnh khóm mẫu đơn.

Trước khi Cẩm Hương đi nhận nhiệm sở, Thục An và Ánh Nguyệt có đến Lái Thiêu chơi với nàng một ngày. Với sự nhận xét hết sức tinh tế, bà Ký Tân biết rằng thằng trưởng nam của mình và Ánh Nguyệt phải lòng nhau. Mặc dù cả hai người chưa để lộ hành động nhỏ nào cho những người chung quanh bắt gặp.

Hôm đó, nhân dịp 3 đứa con hiệp mặt đông đủ, bà Ký Tân nấu cháo bồi cho cả nhà ăn và đãi 2 cô khách quý của con. Cháo bồi bà nấu bằng bột bán, giò heo, tôm bao quản, cá lóc, môn ngọt cắt khúc. Cháo ăn với rau ghém, bún tươi, rải hành ngò xắt nhuyễn, ớt, tiêu… ăn quên thôi. Bà còn nướng 3 con lươn chín vàng gỡ bỏ xương, lấy thịt chan mỡ hành, để rau răm và đậu phộng giã nhỏ bày ra dĩa. Ai muốn ăn thịt lươn thì lấy để vào tô cháo của mình. Riêng Tuấn thì thích ăn lươn nướng, uống la-ve.

Nắng Tết Mỹ Tho hiền hòa, gió Tết Mỹ Tho mát rười rượi. Dọc theo bờ sông Mỹ Tho nối vòng vào sông Bảo Định. Gần bờ có cây da xà sống hàng trăm năm rồi, nên tàng cây to lớn rậm rạp với những cái rể dài từ trên nhánh cao thòng xuống tới mặt đất, cành lá sum sê gie bóng mát. Trên ngọn cây là tổ của các loài chim chóc, quạ, nhứt là chim se sẻ. Dưới gốc cây có rải rác những băng đá cho người đi hóng mát nghỉ chân. Bên kia lộ là dãy phố phòng ngủ, kế bên là kho bạc, nhà dây thép, xéo xéo kho bạc là trại lính thủy và bến đò đưa khách nhàn du trên sông Mỹ Tho, khách qua lại cồn Rồng.

Hôm nay, dọc theo khuôn viên góc đường nầy, và tràn ra lộ, người ta chất chật đầy các loại hoa bán Tết. Các chậu to, chậu nhỏ sắp ngay hàng thẳng lối, và tùy theo giống hoa quý, hình thể, loại đất cấu tạo chậu sành, nước men tráng chậu, hoặc chậu đương bàng tre, đóng bàng cây… và hoa trồng trong chậu, mà định giá tiền của mỗi chậu hoa. Những hoa trồng trong chậu như: huệ lan, sứ Thái Lan, cẩm nhung, vạn thọ, mồng gà, cúc đại đóa, ớt kiểng, thụ quỳ, hướng dương… các loại cây kiểng uốn hình tứ linh. Các loại cây kiểng trong chậu, cây nào gốc càng to, chứng tỏ có lâu năm, cành lá lẳn mẳn, hoặc sum sê thì giá tiền càng cao, các nhà sành về cây kiểng giàu có mới dám mua về thưởng lãm. Cẩm Hương tự hào ba má nàng có những chậu cây kiểng đẹp như cau kiểng, hổ bì, đinh lăng, môn kiểng, hường chim. Nhưng nàng chắc chắn, Tết năm nay cũng như mọi Tết trước, ông Ký Tân cũng sắm thêm những chậu hoa Tết. Để rồi qua Tết, ông chỉ giữ được các chậu ớt kiểng trái vàng (gọi là ớt mọi), ớt kiểng trái tím để chưng vào dịp Tết năm sau, nếu 2 loại ớt đó được chăm sóc vô phân, tỉa lá cho ngoạn mục.

Còn nhà nghèo chạy gạo từng bữa, buôn gánh bán bưng…Tết đến chỉ mong cho gạo đầy hũ, nồi cá thịt tạp kho, nồi canh khổ qua hầm cá thác lác, dĩa đậu đũa xào. Trên bàn thờ ông bà có trái dưa hấu nhỏ, dĩa chuối ngào là hạnh phúc lắm rồi. Nồi măng mạnh tông hầm giò heo, nồi thịt kho tàu có cá lóc, trứng và thịt đùi heo, xâu bì gói, nem chua. Và chùm lạp xưỡng… thì đó là giấc mơ. Họ cũng không tiền để mua mấy nhánh bông huệ, cành mai vàng cúng trong ba ngày Tết thì có đâu mà mua nỗi những chậu kiểng quý giá nầy.

Cẩm Hương ngắm hoa ngắm kiểng một hồi cảm thấy bụng cồn cào và cảm thấy miệng khô cổ khát. Nàng ghé qua tiệm nước có một phần gie ra bờ sông, tìm chỗ khuất ngồi, gọi thức ăn và nước uống. Bên kia sông là xóm hàng chạc, hàng vựa. Nói là xóm chứ thật ra là khúc đường dài từ dốc cầu Quây (hướng về Chợ Cũ) quẹo phải cặp sát mé sông. Những căn tiệm nầy người Việt Nam làm chủ rất ít, mà đa số là người Tàu chánh thống, hoặc Tàu lai. Họ chứa bán đủ các loại hàng chạc, tức là hàng chất chồng đầy vun trong những cái chạc đan bằng mây, bằng tre, bằng nứa… hoặc các thùng bằng cây, hay bằng thiếc, những lu, những hũ, những khạp bằng sành… Hoặc ví lại cả 1/3 căn tiệm để chứa.

Vùng bán buôn ồn ào sầm uất nầy không ai đặt tên. Nhưng kẻ tới người lui càng ngày càng đông buôn bán càng phồn thịnh. Người địa phương thường hỏi nhau: “Mua ở đâu? Bán ở đâu? Từ đâu có..?”. Người đối diện trả lời gọn hơ không cần suy nghĩ: “Mua bên vựa, họ bán ở vựa, qua bên vựa mua rẻ hơn, bên vựa có nhiều hàng hóa lắm, bên vựa cái gì cũng có…”. Chữ “Vựa” đó luôn trên miệng của người mua kẻ bán ở địa phương, rồi dần dà lan rộng trong giới thương hồ khắp nơi, nên vùng buôn bán nay người ta gọi là “Vựa“. Đó là lời của bà chủ quán ăn (dân địa phương lâu đời sinh sống ở thành phố Mỹ Tho) trong lúc vắng khách hàng đã kể cho Cẩm Hương nghe, khi cô ngồi chờ thức ăn.

Bà còn nói cho nàng nghe ít nhiều về những sinh hoạt hàng ngày ở bên Vựa nữa. Hàng hóa gồm có: Các loại đường thốt lốt, đường tán, đường thẻ, đường cát trắng, đường phổi, đường cát mỡn, đường hũ, đường phèn…

Các loại khô cá sặc, khô cá trèn, khô cá lóc, khô cá hố, khô mực, tôm khô, hào khô, sò khô, khô cá lù đù, khô hầm dĩ… cùng các loại mắm như mắm lóc, mắm sặt, mắm tôm, mắm tép, mắm cá cơm, mắm cá linh, mắm nêm, mắm nục…

Rồi những cửa tiệm bán rau cải từ Đà Lạt như bắp cải, củ cải đỏ, trái su, khoai tây, trái bơ, trái dâu tây, cà tô-mách Đà Lạt… Các loại rau sống thường trồng ở địa phương vì đi đường xa khó giữ. Cải, củ sắn, bí rợ, bí đao non, trái sa-kê, bí đao già dùng để lám mứt bán Tết, mía… thường do các ghe thương hồ chở từ miệt Lục Tỉnh như Châu Đốc, Hà Tiên đến.

Đồ gốm: nồi, niêu, soong, chảo, lu, hũ, khạp đầy đủ cỡ lớn nhỏ… bằng đất nung, bằng đất có tráng men… cũng từ miền Châu Đốc chở qua, hay từ Lái Thiêu chở bàng ghe, bằng xe hàng xuống…

Hột vịt, hột gà, hột vịt lộn, hột gà lộn, hột ngỗng, trứng cút… Họ cho lò ấp trứng để có gà con, vịt con bán….

Nếp, gạo, tấm, cám…Khoai lang dương ngọc, khoai lang gạo, khoai bánh tét, khoai tím, khoai vàng, khoai đỏ, khoai từ cùi, khoai mỡ, khoai mì, khoai môn…

Vựa cá, đủ các loại thuỷ sản: tôm, cá, cá trắng, cá đen, cá sông, cá biển, cá đồng, tôm, cua, ếch, nhái, lươn, sò, hến, các loại ốc bươu, ốc lác, ốc len, ốc ma, ốc gạo. Lại còn có bán thêm chim, chuột, rắn, trăn, rùa, cua đinh, càn đước, ba ba…

Tiệm bán trái cây: khóm Tây, khóm ta, khóm Bến Lức, khóm Hậu Giang. Dừa Xiêm, dừa ta, dừa lửa, dừa Tam Quan, dừa khô, dừa rám, dừa cứng cạy, dừa chén cháo, dừa nạo… Các loại cam, quít, bưởi, xoài, mận, ổi, lê, lý, lựu, chôm chôm, bòn bon, măng cục, mãng cầu, bình bát, thanh long, cốc, xá-lị…

Các loại dưa: Dưa leo, dưa leo Bà Cai, dưa hấu, dưa hoàng kim, dưa gan, khổ qua, bầu, mướp, đu đủ…

Còn có tiệm bán gia súc để nuôi trong nhà, và nuôi ăn thịt.. .Các tiệm ăn, quán cơm, quán nhậu… Có ghế bô sắp hàng ngang dài trong nhà không ngăn phòng cho người ta mướn ngủ qua đêm, cho những người lỡ chuyến, hay những tài công, phu theo ghe thương hồ muốn có nơi nằm thẳng tay, thẳng chưn trong những đêm ghé bến, đã lên hàng…. Có bến đò ngang, đò dọc…

Coi như bên Vựa nầy tập trung tất cả các mặt hàng, từ thứ dùng trong nhà đến thực phẩm dùng để nấu ăn và bánh, trái… Ở đây, đa số là bán sỉ cho các tiệm bán lẻ trong thành phố, trong các chợ quận, các chợ làng và các thành phố lân cận mà đường tàu hay đường xe tiện lợi trong việc vận chuyển như Bến Tre, Mõ Cày, Gò Công, Chợ Lách, Cái Mơn, Vĩnh Long…

Dọc theo bờ sông nầy có đủ các loại xuồng bơi, ghe chèo lớn nhỏ. Về sau vào thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, ở miền Nam sự vận chuyển hàng hóa nặng bằng đường thủy được cải tiến có tiến bộ hơn trước. Thường thì các ghe lớn vận tải hàng hóa đi đường xa như các ghe chở đồ nặng như đồ gốm, muối, muối Ba Thắt, đường, cá, lúa, gạo… từ các tỉnh xa như Châu Đốc, Hồng Ngự, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Năm Căn… Tùy theo ghe lớn nhỏ, họ gắn máy tàu nhiều động lực, có sức mạnh kéo nặng và chạy nhanh ở ven biển hay qua tắt các doi, các vịnh, chạy đường trường trên các sông lớn … Ghe nhỏ thì máy nhỏ, hoặc máy đuôi tôm gắn ở phía sau ghe tam bản, xuồng ba lá chạy trong các rạch, các con sông nhỏ.

Bà chủ quán vui miệng nói:

– Chắc cô ở xa, ít đến đây nên không biết, chớ bên Vựa là nơi ồn ào, náo nhiệt, rộn rịp và đa sự nhứt trong thành phố Mỹ Tho nầy. Sau đó là ga xe lửa, bến xe thổ mộ. Lính mã tà lúc nào cũng có mặt để giữ gìn an ninh trật tự cho dân chúng làm ăn. vậy mà cô biết không? Ngày nào cũng có chửi lộn, đánh lộn, ấu đả loạn xà ngầu, có khi còn đổ máu phải đưa đi nhà thương nữa kìa.

Cẩm Hương hóp ngụm nước cam tươi mát rượi, hỏi:

– Buôn bán với nhau giá phải chẳng thì thôi, cớ sao lại có chuyện chửi bới, đánh lộn vậy bà?

Chủ quán nhìn Cẩm Hương ngạc nhiên, nhưng lại thôi, bà nói:

– Mấy mụ bán vựa, bán hàng chạc… nói tóm lại là dân buôn bán có ai hiền lành từ tốn đâu cô? Dù cho người buôn bán đó bổn tánh có hiền lương đi nữa, nhưng khi lăn lộn hàng ngày trong chốn hỗn tạp thì trước sau gì cũng bị nhiễm thói hổn ẩu, láo xược, hay bị đời dạy trở nên tráo trở, dữ dằn. Cũng không trách được, như vậy họ mới không bị kẻ khác leo lên đầu, trèo lên cổ. Cô nghĩ coi, người ta thường nói “buôn giành bán giựt” mà, mình hiền lành chơn chất sẽ bị ăn hiếp. “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” mới sống được cô ơi!

Cẩm Hương không nói gì. Cô hầu bàn, bưng lên một dĩa lớn bánh bèo nhưn tôm thịt trộn với đậu xanh bóc vỏ nấu chín, bên trên là lớp bì còn thơm mùi thính. Chén nước mắm ớt chua ngọt có để dưa chua, trông ngon lạ ngon lùng. Chỉ ăn 2/3 dĩa bánh mà nàng đã thấy no rồi.

Bà chủ quán thấy Cẩm Hương ngần ngừ trước dĩa còn lại một ít bánh. Bà cười bảo:

– Bởi cô là con gái, ăn ít như chim sẻ, như mèo liếm… nên ốm nhom. Gặp các cô gái mạnh ăn, có da có thịt, hoặc gặp mấy bà có chửa, họ còn ăn thêm một dĩa bánh xếp hay dĩa bánh ướt nữa đó cô. Quán tôi có bánh bèo, bánh xếp, bánh ướt nổi tiếng ở đây và khắp các vùng lân cận như Long An, Ben Tre, Gò Công… Cô muốn ăn bánh ướt tôm tươi thì cứ sáng sớm đến tui, trễ như bây giờ thì hết rồi.

Cẩm Hương cười một mình khi nhớ đến lời Thịnh, là anh của nhỏ Thục An. Anh Thịnh có vóc dáng dễ nhìn, không cao lắm, cũng không thấp lè tè, nghĩa là anh có chiều cao của người đàn ông Á Châu.

Trong dịp nàng viếng nhà Thục An, anh Thịnh mời cả bọn mấy đứa đi ăn mì. Thấy bọn con gái ăn uống nhỏ nhẻ e thẹn, anh cởi mở cười nói:

“Mấy cô cứ tự nhiên nghen, con gái Âu Mỹ dạn dĩ lắm chứ không e lệ như con gái Á Đông, nhứt là con gái Việt Nam. Nhưng ở mỗi xứ có rất nhiều sự việc khác nhau. Thí dụ như người Tây, người Mỹ ăn gì cũng vậy, khi ăn mì, hủ tíu, nam cũng như nữ, họ ăn nhỏ nhẹ, nhai không hở miệng. Còn người Á Đông như là người Tàu, khi được mời đến nhà họ ăn, mình phải cắn miếng ăn cho to, nhai nghe rào rạo, còn canh thì phải húp nghe rồn rột. Ăn như vậy người chủ nhà sẽ vui vẻ phấn khởi trong lòng lắm, vì họ nghĩ rằng khách ăn ngon thì có nghĩa là họ nấu không dở”.

Anh Thịnh về xứ nghỉ trọn mùa hè, còn 2 năm nữa thôi thì anh về nước luôn sau khi du học bên Tây 4 năm. Tánh tình anh hoạt bát, vui vẻ, dễ dãi và chân thành. Thụy Châu là bồ của anh. Hai người thề non hẹn biển trước khi anh du học. Và khi năm anh tốt nghiệp trở về, lúc đó Thụy Châu cũng sẽ ra trường Cao đẳng Sư phạm. Họ sẽ thành hôn. Ba má của Thục An là ông hương hào Trạch. Ba mẹ của Thụy Châu làm việc trong Đông Dương Ngân Hàng nên hai gia đình không tương đắc lắm. Ba má Thụy Châu biết con mình đậm tình và xứng đôi với anh chàng Thịnh nên cũng không câu nệ. Bạn bè ai cũng vui mừng cho họ. Có lần, Thụy Châu nói trước mặt “Ngũ Nữ La Sát”:

– Tao nói thiệt với bọn bây nghen, bây giờ dù có Hoàng Tử Vĩnh Thụy, hay ông vua ở xứ Ngàn Lẻ Một Đêm hỏi cưới, tao cũng sẽ không thèm ưng, tao chờ anh Thịnh tao về…

Cẩm Hương thấy con nầy có giọng lớn lối, nhưng cười chứ không nói gì. Bỗng Ánh Nguyệt trề môi:

– Xì, mấy vương tôn thái tử mà đi cưới mầy? Nói không biết mắc cỡ miệng! Làm như mầy là tiên sa phụng lộn không bằng? Nghèo mà không để người ta thương! Bộ mấy ông rể vương hầu không có con mắt sao lại rước mầy về làm dâu? Còn đó chó chưa ăn đâu. Mầy nên nhớ nghen, trên cõi đời ô trọc nầy không phải mình mầy là phụ nữ, và không phải chỉ có anh Thịnh của mầy là đàn ông. Đừng có nói chảnh, coi chừng bị thất đức đó em Hai!

Thụỵ Châu xụ mặt. Ái Mỹ đỡ lời:

– Đồ con quỉ sứ, người ta mở miệng ra là có bông có hoa, mở miệng ra là quan yêu dân chuộng. Còn mầy mở miệng là mắng xối xả người khác. Bộ con Thụy Châu làm gì chạm nọc mầy rồi hả Ánh Nguyệt?

Cả bọn cười rộ, nhưng không ai lên tiếng. Ái Mỹ tiếp:

– Tụi bây đứa nào mà nghĩ như con Ánh Nguyệt là sai rồi, là quá hồ đồ.

Cả bọn nhao nhao lên, có đứa còn giả giọng Bắc:

– Vậy chớ nghĩ sao mới hợp lý, hợp tình?

Ái Mỹ bẻ miệng bẻ mồm làm giọng thầy đời:

– Ý của con Thụy Châu muốn nói cho bọn bây và cả thế giới biết rằng: Trên cõi đời nầy nó chỉ yêu có anh Thịnh nó thôi, duy nhứt nó chỉ yêu anh Thịnh. Cho nên dù có ai giàu sang quyền quý đến đâu hỏi cưới nó cũng không thèm. Dù là hoàng đế, vương hầu cũng không ngoại lệ. Tao nói vậy có đúng không Thụy Châu?

Thụy Châu tươi ngay nét mặt:

– Tao không biết tụi bây nghĩ sao mà lấy biệt danh: “Ngũ Nữ La Sát” hay như vậy. Chớ mấy con tỉ tất tụi bây toàn là cái thứ cà chớn, chỉ có mầy mới là bồ tèo của tao, và hiểu tao hơn ai hết đó Ái Mỹ à.

Thế là môt tòa án nổi được thành lập ra ngay. Con Thục An làm Chánh án, con Ái Mỹ và Cẩm Hương làm luật sư biện hộ.

Ánh Nguyệt phùng mang trợn trắng phản đối ngay:

– Cho đứa nào làm trạng sư biện hộ tao hôm nay cũng được, trừ con nhỏ Cẩm Hương ra.

Mấy đứa nhao lên, có đứa lớn họng hỏi:

-Tại sao vậy? Xin lỗi nghen, mầy không được đề cử, lựa chọn, hay bầu bán trong việc nầy. Vì mầy đang là kẻ có tội, nên quyền công dân đã bị mất rồi.

Cẩm Hương không nhịn được cười ngất ngất, liếc xéo nhỏ Ánh Nguyệt:

– Ai nói tao không làm luật sư biện hộ cho mầy được? Bộ mầy sợ tao biện hộ hay quá xá là hay, nên thay vì tội trạng bị tòa xử 2 năm tù, nhờ tao biện hộ mầy sẽ được tăng lên 4 năm tù hả?

Cả bọn cười ha hả! Ánh Nguyệt nguýt lia nguýt lịa. Sau khi luật sư đoàn bàn cải và kết luận: “Lê Thị Ánh Nguyệt tội danh được thành lập. Bởi đương sự có cái miệng hàm hồ, bép xép, ăn nói mất trật tự nên bị phạt phải bao cả bọn năm đứa một chầu nước mía, và 3 tuần tù treo. Trong khoảng 3 tuần nầy mà Lê Thị Ánh Nguyệt không giữ mồm giữ mép, phát ngôn bừa bãi thương hại đến tự ái của người khác thì sẽ bị phạt gấp đôi”.

Con Ánh Nguyệt không nói, không rằng chỉ biết rên i ỉ vì mất của! Trong các cô bạn gái đồng lớp đệ tứ niên trường Áo Tím gồm: Thục An, Ánh Nguyệt, Ái Mỹ, Thụy Châu và Cẩm Hương, có lẽ Ánh Nguyệt thân với Cẩm Hương nhiều nhứt. Thụy Châu khá đẹp nhưng cục điệu lớn hơn cái thúng còn thêm điệu rơi điệu rớt lượm không kịp. Ái Mỹ, Thục An không đẹp nhưng duyên dáng, vui tươi, nhí nhảnh. Ánh Nguyệt trên mặt có nhiều nét đẹp hơn hai đứa nầy, nhưng da mặt tối hù và xanh xao. Trong dịp lễ phát thưởng cách đây mấy năm, khi cả bọn học xong lớp đệ tam niên Ánh Nguyệt leo lên sân khấu hát bài “Un Bateau” làm các nam sinh Petrus Ký mê mẩn rụng rời. Nhỏ đánh phấn hơi sậm theo màu da mình, thoa hồng đôi má màu gạch tôm nhạt, môi thoa son màu cam láng bóng, mặc áo màu gạch cua có in hoa ti-gôn màu đỏ thắm, lá xanh thiệt lộng lẫy. Giọng nhỏ trong ấm ngân nga như các cô ca sĩ đài phát thanh Pháp Á. Mấy nhỏ lớp khác đến khen Anh Nguyệt, làm cho nhỏ Thụy Châu trề môi, tối sầm mặt vì ghen. Thục An hỏi:

– Sao mầy hát lảnh lót và mùi mẩn thâm xương vậy Ánh Nguyệt?

Ánh Nguyệt ngó Thụy Châu, trêu chọc:

– Vì lúc hát bài “Un Bateau” (Chiếc Tàu) tao chợt nhớ đến người yêu của “tao” ở bên Pháp đang thụ huấn trường Võ bị Saint Cyr đó đa. Lúc đưa ảnh ra bến tàu, “tao” còn khóc sụt sùi nữa. Phải không Thụy Châu?

Thụy Châu háy Ánh Nguyệt một cái bén ngót:

– Đồ con mắc toi, tao đang tức, đừng nói móc nói ngoéo tao nghen mậy.

Riêng Cẩm Hương, kỳ lễ phát thưởng cuối niên học đó đóng vai Ngọc Hân công chúa trong vở kịch “Anh Hùng Áo Vải Tây Sơn”. Nét đoan trang thùy mị của nàng cũng được tán thưởng. Nhưng ai ai cũng thừa nhận rằng chính cái cốt cách phong lưu và quý phái mới làm cho Cẩm Hương đẹp, chớ không phải chỉ ở khuôn mặt thắm tươi.

o O o

Cẩm Hương ăn xong, trả tiên và đứng dậy cáo từ bà chủ quán. Nàng đi ngược lên dốc cầu Quây, ven sông Bảo Định. Nắng trưa chang chang nhưng sức nóng bức không ảnh hưởng đến người đứng, ngồi buôn bán hay kẻ đi bộ… Cơn gió Tết len lén phất phơ tà áo, tung nhẹ chéo khăn và vén làn tóc thề đen huyền xõa vai Cẩm Hương. Kẻ buôn, người bán choáng cả lối đi vào chợ. Họ bày bán dưới lộ đá đủ các loại hàng rau cải trái cây. Những hoa huệ trắng muốt tỏa hương thơm dìu dịu, bông vạn thọ lớn gần bằng cái chén đựng cơm rượu vàng tươi, bông cúc, bông thược dược… Tết cả các loại hoa nầy được bó thành từng bó để cắm vào bình bông cúng trên bàn thờ hay chưng trong nhà.

Cẩm Hương ghé qua tiệm sách, lựa mua mấy quyển sách Phổ Thông Bán Nguyệt San của các tác giả Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Triệu Luật, Ngọc Giao, Lan Khai… cùng mấy số báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phụ Nữ Tân Văn. Nàng mua 2 cái dĩa hát Béka thâu giọng hát của Ái Liên và Kim Thoa định bụng sẽ làm quà cho hai thằng em khỉ đột của mình.

Thời buổi nầy chĩ có 5 nghệ sĩ cải lương như Năm Châu, Phùng Há, Ái Liên, Kim Thoa cùng nhạc sĩ Jean Tịnh là biết hát nhạc Tây lời Việt. Tuy nhiên ông Năm Châu ưa hát đâm hơi, Jean Tịnh giọng ồ ề, Phùng Há giọng hát quê mùa. Rốt cuộc chỉ có bà Ái Liên và bà Kim Thoa. Nhưng Ái Liên là dân Băc Kỳ hát cải lương. Bởi vậy khán giả và báo chí có câu: “Nam Kim Thoa, Bắc Ái Liên” để chỉ cái hay về nghệ thuật hát nhạc Tây của họ.

Nữ sinh các trường trung học đều ưa thích nhạc Tây lời Việt. Nhỏ Thục An, Ánh Nguyệt, Ái Mỹ, Thụy Châu mỗi đứa ít nhứt cũng thuộc ba bốn bản nhạc do các nam nữ ca sĩ nổi tiếng bên Pháp hát. Nhưng hát hay chỉ có Ánh Nguyệt. Giọng hát của Cẩm Hương rất ấm, rất sang dù nàng không ưa hát xướng. Vào các kỳ phát thưởng năm chót nàng được chọn hát bài “Chỉ Là Tạm Biệt” để kết thúc buổi trình diễn văn nghệ. Nhưng bài nầy luôn được ban hợp xướng hợp ca. Nàng hát lời Việt và lời Pháp bằng giọng rõ, lối phát âm quý phái, sóng ngân gờn gợn mỗi khi nàng kéo dài làn hơi…

Nàng mua nhiều thứ như vậy, nên ông chủ tiệm phải dùng thùng giấy đựng mới hết. Cận Tết, người đi lại buôn bán đông đảo, thùng sách nặng, mang theo trên người thì không sao di chuyển dễ dàng, Cẩm Hương gởi lại tiệm sách, đi vòng đến tiệm Đại Tân gần các dãy tiệm bán vải vóc tơ lụa và xéo xéo với rạp hát Thầy Năm Tú đểmua bánh trà tặng cho bà Tư Hiền chủ nhà nàng ở trọ. Mặc dù hàng tháng tiền ở trọ nàng vẫn trả cho bà sòng phẳng, nhưng Tết nhứt mừng chút quà cho bà chủ nhà cũng nên lắm chớ. Tuy là Cẩm Hương không ăn cơm nhà bà, nhưng có bánh trái lúc nào bà cũng mời nàng. Trái dừa xiêm bà khéo tay chặt sẵn, mấy khoanh bánh tét, cái bánh ích, trái chuối chiên, quả xoài chín, trái ổi chua… Và có tuần nào mà nhà bà không nấu bánh canh, đổ bánh khọt, hay làm gỏi cuốn… thì bà cũng luôn để dành cho nàng hoặc mời cùng ăn cho vui. Cẩm Hương từ chối cách chi cũng không được với bà.

Có hôm bà Tư Hiền vui miệng, chỉ bức ánh bán thân rọi lớn để trong tủ đựng ly bằng pha lê, nói:

– Nó là thàng Thiện Tố, con trai độc nhứt của bác đó cô Cẩm Hương, Tết tới đây nữa là 26 tuổi rồi, ở cái tuổi nầy người ta có vợ con đùm đề. Nhưng không biết sao cái thằng nầy chưa chịu lấy vợ? Ba và má lớn nó nhiều lần đốc thúc nhưng nó vẫn trơ trơ. Năm nào đến mùa lúa nó cũng đi giúp coi sóc dòm ngó ruộng của cha nó ở giáp ranh với Cao Lãnh. Lúa sớm mà, năm nay lại trúng mùa, tá điền tá thổ đang rầm rộ làm việc tối tăm mày mặt trên đó. Họ cắt lúa, đập, phơi, vô bao để cân cho lái kẻo trễ qua Tết, lúa chín rộ sợ sẽ mất giá.

Bỗng bà Tư Hiền thở dài, đôi mắt đăm chiêu nhìn trời xa, rồi như nói với chính mình, “Không biết năm nay nó có về kịp rước ông bà không nữa? Thiệt là tội nghiệp cho thằng nhỏ!”.

Bỗng Cẩm Hương vọt miệng hỏi:

– Bác Tư, còn hết mùa lúa thì con trai bác làm gì?

Bà Tư Hiền vui vẻ:

– Công việc nhà ba má lớn nó có lúc nào mà hết đâu cô? Chỉ cái nhà máy chà lúa không thôi, công việc cũng ngút đầu rồi, chưa kể mấy mẫu vườn trồng mía đường và cây ăn trái nữa… Hai đứa con gái, và thằng con trai của bà lớn vốn quen tật lười biếng làm ít mà thích nhiều kia, thằng nhỏ không phụ cũng không xong. Nên đâu có lúc nào con tôi rỗi rảnh cô ơi. Thật tội nghiệp, cái số thằng đó cực khổ mà.

Giọng chào mời của người bán hàng đứng phía sau lưng làm Cẩm Hương quay về thực tế:

– Chào cô, thưa cô muốn mua chi? Tiệm chúng tôi mới về nhiều loại trà nhập cảng hảo hạng, và bánh Tết vừa đẹp mắt mà vừa ngon. Giá cả phải chẳng, có nhiều loại bánh mứt trên hai dãy kệ kia. Vừa ý thứ nào, cô chi chúng tôi sẽ lấy cho.

Cẩm Hương cảm ơn người bán, rồi đi lần về các kệ chất đầy trà, bánh, kẹo, mứt… được gói khéo léo bằng giấy kiếng trong, màu vàng, màu xanh, màu đỏ thắm. Cẩm Hương mua hộp trà Ô Long nhập cảng từ Thượng Hải, Quảng Đông và hộp bánh bích-quy từ Pháp. Tuy mắc hơn các loại trà, bánh, mứt làm ở nội địa nhưng nàng nghĩ có đáng bao nhiêu, không nên hà tiện làm chi. Bởi má nàng cũng thường nói: “Người ta ăn thì còn, mình ăn thì hết”. Vả lại bà Từ Hiền cũng tốt với nàng như vậy thì nàng không nên so đo.

o O o

Sau những ngày Tết, bến xe Cai lậy có vẻ uể oải biếng lười. Mặc dù hôm nay đã là chiều ngày mùng bốn Tết. Gần như mọi nhà đã cúng Tết, và nhiều nhà có người đã ra đồng từ sáng hôm qua, sau đôi ngày đầu năm nghỉ ngoi, thăm viếng, dưỡng sức. Vậy mà bến xe vẫn còn có những hàng quán cũng chưa khai trương đầu năm mở cửa làm ăn lại. Gánh chị bán bánh mì thịt xá xíu và xíu mại vò viên bên gốc cây me già vẫn còn đóng kín. Bà bán nem chua, cái ghế ngồi, chiếc sạp cây, mấy cái giá để treo nem lủng lẳng vẫn còn xiêng dính chùm lại bằng sợi lòi tói lớn. Trên mặt đường, lá khô giấy tạp bay tắp tùm lum, chứng tỏ vợ chồng ông quét dọn bến xe vẫn còn ăn Tết.

Nhưng bến xe có lúc nào không ồn ào, và người người xuôi ngược. Chú lơ xe thì ong óng cái miệng mời khách khan cả họng, còn hành khách bao giờ cũng có kẻ trễ chuyến.

Dư hương của ngày Tết gia đình vẫn còn vấn vít trong lòng Cẩm Hương. Năm nay vì công việc làm, Tuấn không về. Thành thì ra đi từ chiều mùng hai, vì nó cùng mấy người nữa sẽ đi dự đám cưới của anh bạn chung lớp ngày xưa. Mỗi lần ba chị em cùng về thăm nhà thì vui lắm, và mỗi lần đi lại buồn buồn. Hồi trưa lúc đưa nàng ra bến xe, má nàng còn cụ bị cho nàng mang theo nào bánh lá gai, bưởi Biên Hòa, xoài đầu mùa, bánh, kẹo… chưng cúng mấy ngày Tết. Nàng không chịu lấy, vì khi lên xuống xe phải xách nặng cực lắm. Vả lại ở Miền Nam, nhứt là từ miệt Cai Lậy đi về Hậu Giang, có bánh Tét, bánh ích… và các loại trái cây ngon hơn các vùng khác. Nhưng nếu không lấy nàng sợ má nàng buồn.

Thật sự Cẩm Hương không muốn đi ngày hôm nay mới có mùng bốn Tết thôi, mãi đến mùng sáu mới đi dạy lại. Nhưng ba má nàng bảo:

– Con phải đi hôm nay để lấy ngày tốt. Còn không thì mùng sáu mới đi được, vì ngày mai là mùng năm. Đầu năm, không ai xuất hành vào những ngày “mùng năm, mười bốn, hăm ba” bao giờ.

Cẩm Hương nhăn mặt với mẹ:

– Mùng bốn đi thì sớm quá, còn mùng sáu thì lại trễ. Mùng năm thì mùng năm, có sao đâu? Má vẫn còn tin dị đoan quá!

Bà ký Tân cười nói ngọt với con gái:

– Thật sự thì má cũng không biết sao, nhưng những lời nói phải kiêng đó có đâu từ ngàn xưa, nếu tránh được thì mình cũng nên tránh, vì có ai muốn xui xẻo đến với mình? Cho nên tin rằng có, đừng nên không. Thôi thì, đi đi con, lật bật đến lễ Phục Sinh bây giờ. Lúc đó được nghỉ, con về ở nhà lâu hơn.

Nghe vợ an ủi khuyên để con đi trở về trường sớm, tránh ngày cấm kỵ, ông Ký Tân cười nói với vợ con:

– Bà tin dị đoan thiệt. Nhưng thôi con nên nghe lời má đi con, đi sớm để sắp soạn và nghỉ ngơi lấy trớn năm mới làm việc cho giỏi. Bây giờ con còn độc thân nên mỗi khi xa nhà còn còn quyến luyến, khi có chồng con rồi, cả năm cũng chưa chắc con chịu về thăm cha mẹ.

Cẩm Hương cười nũng nịu:

– Ba với má thật tâm đầu ý hợp. Má nói, ba góp ý phụ theo. “Phu xướng phụ tùy” tấn công con. Con sẽ không lấy chồng đâu. Có con khóc o e bên tai và sẽ bận rộn tối ngày cực lắm, ở vậy coi bộ sướng hơn, để tháng nào con cũng về thăm ba má.

Nói đến đây, Cẩm Hương chợt nhớ tới mấy con bạn xà niên, mấy con bạn diều moi quạ mổ “Ngũ Nữ La Sát”của mình. Con chằng lửa Thục An bảo:

– Làm đờn bà thì phải thương chồng hơn cha mẹ. Ông bà mình thường nói: “Vông đồng trổ đỏ bờ sông/ Mẹ kêu con dạ, thương chồng con theo “.

Con ma nương Ái Mỹ tán đồng:

– Mầy nói đúng đó Thục An. Cha mẹ nuôi mình chừng 20 hoặc hăm mấy năm thôi. Còn chồng mình thì nuôi mình tới già, tới chết.

Con nữ tặc Thụy Châu chợt nhớ ra:

– Mấy cô xẩm trước khi đi lấy chồng, cứ khóc ra rả trong buồng, khóc rống lớn lên cho thiên hạ biết mình đau xót sắp xa cha mẹ…

Con hồ ly tinh Ánh Nguyệt, trề môi dài cả thước:

– Lấy được ông chồng toại ý, tao đương thèm khóc. Còn kết hôn với cái thứ ôn hoàng dịch lệ thì tao sẽ khóc rỉ rả, khóc nỉ non để trù ẻo cho đám cưới thành đám ma chơi!

Cẩm Hương cười ha hả:

– Ánh Nguyệt ơi, lòng dạ mầy hiền lành như bông bí, như dưa leo, như rau lang, rau muống luộc. Vậy mầy ăn nói nghe dữ tợn, ghớm ghiếc không hà. Coi chừng mắc khẩu nghiệp đó nghen.

Ánh Nguyệt trề môi nói rán, nói thêm:

– Kệ tao! Chớ sống với kẻ không yêu, bị nó nài hoa ép liễu thì em chỉ còn có nước là trù ẻo cho nó chết sớm để em rảnh nợ. Chôn nó rồi sau đó em đi xe kiếng.

Cả bọn trợn mắt hỏi đi xe kiếng để làm chi? Nhỏ cười ngỏn ngoẻn rồi cất giọng thẻo thợt hò: “À ơi, …Bước lên xe kiếng đi viếng mộ chồng. Mộ chưa cỏ mọc trong lòng thọ thai…à ơi…”. Cẩm Hương đánh vào vai Ánh Nguyệt kêu lên:

– Ánh Nguyệt ơi, mầy thiệt là con độc mồm, độc miệng chiếm giải quán quân.

Nhớ tới đây, Cẩm Hương cười chúm chím, mắt long lanh. Ông bà Tân cùng lắc đầu nhìn con, vì họ biết đứa con gái cưng nầy lém lỉnh, khôn ngoan. Tánh tình cô ta nhu mì, hiền lành nhưng khi đụng chuyện rồi thì móng vuốt gì cũng giương ra hết, dữ dằn không thua con cọp cái. Nàng mỉm miệng cười phì, khi nhớ đến ba mẹ thường nói con mình như thế.

Xe vừa cặp bến. Hành khách trên xe còn xôn xao thì gió thổi vùn vụt, lá cây khô, giấy má bay lông lốc trên đường. Những đám bụi bị gió hốt tốc lên bay mịt mờ. Có người chạy nhanh vào hiên nhà núp, có người chụp không kịp chiếc khăn đội đầu, có người rượt chụp lại chiếc nón lá tung bay. Thường gió thổi ào ạt thì mưa sẽ không lâu, mưa không rỉ rả như mưa thu rấm ra rấm rít kéo dài.

Cẩm Hương nhìn qua cửa kiếng xe. Cành lá cây hai bên đường ngã nghiêng theo chiều gió. Không gian vẫn sáng tỏ, nền trời vẫn trong xanh, màu xanh nước biển có điểm lác đác từng cụm mây xám dầy. Mặt trời ngã bóng nhưng nắng vẫn tỏa ánh sáng.

Bao chung quanh là vùng mây xám đen làm đổ con mưa ào ào một cách bất ngờ. Những hạt mưa to long lanh trong nắng. Bất chợt Cẩm Hương buột miệng khen thầm: “Thật tuyệt, thật tuyệt! Hèn nào những văn nhân thi sĩ, những người có tâm hồn nghệ sĩ, những kẻ yêu thích mưa gọi là mưa trong nắng, và thần thoại hóa, thi vị hóa: Trời sai rồng hút nước biển phun mưa tắm mát dương trần. Trời cho mưa rơi xuống thế gian, tưới lên cỏ cây thêm tươi, cho nẩy chồi, đâm lộc, cho lá hoa thắm màu, cho trái trĩu quằn nhánh… Trời khóc cho khổ ải của cuộc đời, khóc cho nhân thế, đổ lệ xuống trần ai! Rồi mưa ngọc, mưa lam, mưa lưu ly, mưa thủy tinh, mưa hồng…”

– Cô giáo ơi, xuống xe tôi đưa cô về. Mưa đầu năm nay coi bộ dai đó cô. Không chờ mưa tạnh được đâu.

Đó là giọng nói lớn, và tiếng bộp bộp gõ vào kiếng xe đã làm cắt dòng suy nghĩ của Cẩm Hương. Nàng thấy lờ mờ qua màn mưa, biết rằng đó là ôngTám xe càng (loại xe có 2 bánh, do người kéo) cha của học trò nàng. Ông ở xóm trong gần sau nhà bà Tư Hiền.

Nghĩ ông nói cũng đúng, Cẩm Hương gật đầu, đứng lên sửa lại mái tóc, kéo lại vạt áo dài, bước ra khỏi ghế ngồi. Ông Tám hỏi lớn:

– Còn có đồ gì trên mui xe không cô giáo?.

Cẩm Hương đưa cái va-li và túi đồ cho ông ta:

– Dạ chào chú Tám. Tôi chỉ có 2 cái xách nhỏ để dưới chân đây thôi.

Ông Tám đi chở đưa rước hàng hóa, hành lý của khách là một cái nghề phụ trội mà thôi. Theo vợ ông kể với bà Tư Hiền mà nàng nghe được, số là vợ chồng ông có 2 cậu con trai theo nghề thương hồ, tiền bạc kiếm được cũng khá. Ông Tám ở nhà hoài mà không làm gì cũng buồn, nên làm nghề kéo xe càng. Ông ra ngoài gặp người nay người kia cũng vui, và kéo xe cũng không khó khăn nặng nhọc chi, mà còn có thêm tiền. Hôm đó bà Tám tan buổi chợ, ghé qua nhà đưa cho bà Tư Hiền con cá lóc đã làm sạch sẽ. Bà Tám hỏi:

– Chị Tư, chiều nay chị làm gì với con cá nầy?

Bà Tư Hiền tươi cười hài lòng với con cá mập tròn, máu còn đọng hai bên mang. Bà nói:

– Ồ, con cá tươi quá! Chị vào đây uống tách nước trà rồi hãy về. Tôi trả tiền chị luôn. Con cá nầy giá bao nhiêu đây? Chiều nay tôi cắt lấy đầu và đuôi nấu tộ canh bầu, còn khúc giữa thì cắt khứa mỏng kho lạt lạt dầm me dốt. À, hai thằng con lớn chị có về không? Bây giờ chúng ở đâu? Có nhắm chỗ nào để cưới vợ cho chúng chưa?

Bà Tám để vội xuống đất cái thúng, mấy cái xề không, chồng lên nhau mà mỗi sáng bà đựng cá bán ở chợ, bên trong hàng rào rồi theo bà Tư vào nhà. Nghe hỏi đến hai đứa con, bà vui ra mặt trả lời:

– Hai thằng con tôi là khách thương hồ, từ 15, 16 tuổi đã theo ghe buôn bán xuôi ngược trên các sông rạch trong đất nước Nam Kỳ. Tụi nó có nhắn về hôm tháng rồi, hẹn sẽ về cúng giỗ ông nội nó sau rằm Nguơn Tiêu.

Bà Tư Hiền vẫn giữ nụ cười điềm đạm:

-Tui nghe nói hai cháu kỳ rồi chở tôm khô, khô cá sặc, khô cá đường lên bán ở Sài Gòn, Lái Thiêu, Thủ Dầu Một, rồi chở đồ sành, đồ gốm, liễn kiếng từ Lái Thiêu xuống miệt Hậu Giang. Hai cháu giỏi quá, chị sẽ mua đất vườn, cất nhà ngói mấy hồi.

Bà Tám thở dài:

– Việc đời làm sao mà lường trước được chị Tư? Bởi vậy khách thương hồ có câu “Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi. Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê”.

Bà Tư an ủi:

– Ông nhà tôi có tài coi tướng. Ông nói hai cháu con chị có cằm vuông, hậu vận sẽ tốt lắm. À, tui chỉ có hai cái lu bầu để chứa nước mưa. Nghe nói chị có chứa đồ gốm, tui muốn mua thêm ảng, khạp và lu. Chiều mai tôi lại nhà chị coi được không chị Tám?

Bà Tám tươi ngay nét mặt:

– Mời chị lại coi. Ở bển, tui còn cặp liễn kiếng Lái Thiêu nữa, nếu chị chiếu cố thì may cho tui lắm.

Bà Tư nói:

– Nhà nầy có cặp liễn bằng gỗ mun chữ mạ vàng rồi, treo thêm liễn kiếng làm chi cho rườm rà?

Bà Tư không dám nói rằng con trai bà chê liễn kiếng quê mùa, bây giờ ít ai treo. Đó là thứ liễn dùng kiếng soi mặt vẽ chữ Nho trong cái khung vẽ rồng, phụng, dơi, bướm bằng màu sơn lòe loẹt.

Bà Tư trả tiền cá cho bà Tám. Bà Tám uống xong tách trà, cảm ơn rồi lật đật lấy thúng rổ ra về, vì còn phải nấu cơm chiều cho chồng con ăn nữa. Bà còn dặn bà Tư khi nào muốn ăn cá đồng thì cho bà biết bà sẽ lựa cá ngon. Hai bà vừa đi ra cửa vừa nói chuyện vui vẻ. Bà Tư đóng cửa rào lại rồi quay vào nhà.

Ông Tám chậm chân cho xe từ dừng lại. Ông đẩy xe sát cổng vào nhà bà Tư Hiền, Cẩm Hương choàng trên người chiếc áo mưa dài bằng ka-ki có pha ni-lon nhẹ mình màu xanh dương, mà Tuấn em nàng năm rồi gởi ông Tây trong sở mua dùm khi về quê thăm nhà. Nàng nhanh chân đi sau xe. Ông Tám nói:

– Tới rồi cô giáo. Cô có bị ướt nhiều không?

Cẩm Hương: “Dạ chỉ tạt ướt chút đỉnh ở lai quần thôi”. Nàng lấy tiền trả cho ông Tám, rồi đi nhanh vào nhà.

Ông Tám xách đồ Cẩm Hương để sát cửa, dở chiếc nón vải cũ lem nhem ướt đang đội trên đầu, cúi chào nàng rồi trở ra kéo xe đi. Cẩm Hương phủi những hạt mưa chưa thấm nhiều vào mình hàng của chiếc áo dài lụa màu tím hoa cà, và quần sa-teng đang mặc. Nàng mang đôi guốc vông sơn đen có vẽ hình cặp lý ngư, quai tréo bàng nhung tím, gót cao 2 phân. Nàng mới sắm đôi guốc cao gót trong dịp về nghỉ Tết. Vì nhỏ xí xọn Thụy Châu hôm trước nói: “Mốt mới bây giờ là các cô, các bà thường mang guốc cao gót, giầy cao gót để khi mặc áo dài cái tướng đi mới đẹp”. Không biết nhỏ nói có đúng không. Nhưng nàng mua mang trong dịp về nhà ăn Tết trở xuống đi dạy cho có mới, có vẻ tân thời với người ta.

Cẩm Hương chưa vội mở cửa vào nhà. Nàng đứng ngắm những hạt mưa long lanh trong ánh sáng của nắng từ mái lá rọi vào chậu sành, được đặt kế bên hai cái lu mái đầm có máng xối nằm xiêng trên những cây nạng cao, rồi thấp hơn, rồi thấp dần, thấp gần đụng miệng lu để nước mưa từ mái nhà theo máng xối chảy vào. Mưa không lớn, nên nước rơi chậm từng giọt vào chậu sành ít nước tạo thành âm thanh ton, ton, ton… nhè nhẹ, êm tai. Bỗng nàng chép miệng thở dài, lẩm bẩm một mình: “Trời buồn, trời đổ cơn mưa bắt mình cũng buồn theo thật ghét quá!”, Cẩm Hương đưa tay định đẩy cánh cửa, nhưng nàng chưa đẩy, tự dưng hai cánh cửa bật mở. Giọng nói trong ấm vang lên:

– Mời cô vào, đứng ngoài mưa một hồi cô không sợ bị cảm lạnh sao? Tôi là Thiện Tố, con của bà Tư nhà nầy. Nhưng trong gia đình và chòm xóm ai cũng gọi tôi bằng Thiện, Thiện dễ nghe hơn Tố phải không cô? Xin lỗi, cô là cô giáo Cẩm Hương phải không? Má tôi đi thăm người quen ở Ba Dừa, chiều nay mới về. Trước khi đi bà có nói chắc là cô sẽ xuống hôm nay, hoặc sẽ là ngày mốt vào mùng sáu Tết. Sao cô? về nhà ăn Tết với gia đình chắc vui lắm phải không?

Trong gia đình, Cẩm Hương là con cả lại là con gái độc nhứt, nên cô luôn được cha mẹ nuông chiều, các em yêu quý và họ hàng mến thương. Nhờ vào sự giáo dục của ông bà cha mẹ, gần gũi nhứt là má cô là người phụ nữ xuất thân từ một gia đình nghèo, biết thân phận, biết người biết ta. Tánh tình chân thật, lòng tương thân tương ái của cha mẹ đã gây ảnh hưởng rất nhiều và giúp cô trong cuộc sống lúc ấu thời. Nhờ vào hoàn cảnh gia đình đề huề có ăn, có mặc, nhờ cô chăm chỉ học hành, cô giáo Cẩm Hương được trời đãi ngộ có một cuộc sống từ nhỏ cho đến bây giờ rất là hạnh phúc. Nhưng dù sao, tánh nhỏng nhẻo của một tiểu thơ trong gia đình, cùng cái làm dáng, ương ngạnh, lên giọng chị cả với hai em, cô vẫn có luôn.

Tự nhiên, hôm nay ở đâu chui ra người thanh niên không bà con họ hàng xa gần gì ráo, không phải thân tộc, cũng không phải chòm xóm, hoặc bạn bè. Anh ta lạ hoắc lạ huơ, mới gặp lần đầu tiên mà trổi giọng điệu thân thiện như đã quen từ lâu rồi vậy? Cẩm Hương cảm thấy ghét lắm, nhưng vì lịch sự, nàng trả lời ậm ự cho xong để đi vào phòng mình.

Chàng thanh niên nầy cao lớn, có khoảng 1 thước 75 phân chớ không chơi. Chắc là Từ Hải từ trong truyện Kiều bay vọt ra ngoài đời chớ gì? Vừa nghĩ tới đây, Cẩm Hương chợt thấy vui vui. Nhưng nàng vẫn bực vì nụ cười hắn ngạo nghễ, khuôn mặt hí hởn trông dễ ghét làm sao ấy! Hắn có dáng hiên ngang, vai rộng, mặt rắn rỏi, tay chân cứng cáp, đi đứng chững chạc. Đây là mẫu người vừa trí thức, vừa phong trần. Nhỏ Ái Mỹ, và hai nhỏ Ánh Nguyệt, Thục An thường ca tụng mẫu thanh niên như vậy. Ái Mỹ so sánh:

– Tao ưa tài tử Clark Gable trong phim “Cuốn Theo Chiều Gió” vừa trí thức, vừa phong trần, trông có vẻ thạo đời. Đó mới là đấng quân vương trong mộng của tao.

Thục An lim dim cặp mắt ốc bưu:

– Tao cũng vậy. Những thanh niên hiên ngang hùng trai như vậy mà chịu cưới tao, chắc tao phải ăn chay một tháng 15 ngày để cảm ơn Tròi thương Phật độ.

Ánh Nguyệt bình tĩnh hơn:

– Tao đọc báo Ciné Miroir, biết được anh chàng Clark Gable đó học hành dở ẹc và miệng mồm hắn có vấn đề, nên đạo diễn phải bắt hắn giữ vệ sinh tối đa cái miệng khi đóng những màn cụp lạc hun hít với nữ diễn viên. Nhưng gặp một chàng có bằng Thành Chung mà bảnh trai, xinh trai, dễ thương trai, lại có cái miệng thơm mát, thì con Ánh Nguyệt nầy không niêm phong trái tim đâu nghen.

Bỗng dưng, hôm nay nhớ tới lời của ba con xảnh xẹ đó. Cẩm Hương tức cười quá. Nhưng nàng vội nghiêm mặt, kẻo “đối phương” coi thường mình. Nàng cũng nhận thấy tên nầy có cái cười mỉm rất láu cá, cặp mắt sáng ngời, nụ cười ngạo nghễ, trông hắn hao hao giông Clark Gable thiệt đó! Nếu đứng bên cạnh hắn, nàng cảm thấy mềm mại như cây lệ liễu đứng bên cây tùng hùng tráng. Nhưng nàng chợt thấy mình ví von như vậy là đề cao “địch thủ” quá đáng. Hắn mà là cây thanh tùng hả? Còn khuya! Hắn đâu xứng đáng làm cây có tên đẹp như vậy. Hắn phải là: cây cốc, cây còng, cây môn ngứa, cây mù u… có cái tên xấu xí như vậy mói đúng chớ bộ. Nàng lịch sự trả lời:

– Dạ, chúc mừng năm mới! Vâng, thưa anh tôi là Cẩm Hương. Thỉnh thoảng bác Tư cũng hay nhắc đến anh.

Anh ta mắt sáng rỡ lên, miệng cười tươi hỏi:

– Má tôi nói gì về tôi vậy cô? Chắc bà nói thằng con nầy chẳng biết tiến thân, tham ăn, lười biếng phải không cô?

Cẩm Hương bực mình! Bộ quen lâu lắm sao? Đầu năm xui xẻo gặp kẻ thật là “dai như đĩa”. Nàng chẳng thèm trả lời, xách đồ vào phòng. Anh ta bước đến đỡ lấy va-li, cười nói:

– Để tôi phụ vói cô. Đi đường xa chắc mệt lắm? Hôm nay lại trời mưa. Mưa xuân, nhà nông chúng tôi mừng lắm, vì chắc chắn năm nay sẽ trúng mùa lúa. May mắn lúa sớm của chúng tôi đã thanh toán xong rồi, phải trễ đến hôm nay gặp cơn mưa bất ngờ nay thì tội nghiệp cho đám thợ thầy sẽ vất vả…

Đến phòng Cẩm Hương, anh ta đứng ở ngoài, chồm để va-li vào trong cửa phòng rồi đi. Nhưng bỗng anh ta quay lại hỏi:

– À cô đói không? Dưới nhà sau có nhiều bánh trái lắm, nếu không thì chừng 2 tiếng đồng hồ nữa má tôi về ăn luôn. Bây giờ, cô muốn uống gì? Nước trà, nước ngọt, nước cam tươi?

Hắn ta cười dí dỏm:

– Hay cô muốn uống la-ve?

Cẩm Hương thấy ứa gan! Thiệt là đồ điên, người ta là đàn bà phụ nữ mà hỏi uống la-ve? Bằng giọng nhát gừng, nàng trả lòi:

– Cảm ơn, tôi không thấy khát.

Anh ta sựng lại, nhưng không nói gì bỏ đi lên nhà trên, ra ngoài săm soi mấy bụi bông lài, mấy khóm bông huệ lan, mấy chậu cẩm nhung, mấy chậu hổ bì, và khóm đinh lăng ở sân trước. Cẩm Hương vẫn thích mấy thứ bông huệ cây kiểng nầy. Huệ lan có lá mềm như lá hẹ, bông hình chuông lóe ra 5 cánh đỏ tía. Cẩm nhung thuộc loại cẩm chướng, bông nhỏ cỡ đồng xu, cánh trắng sọc tím. Hổ bì có lá giống lá khóm, lá thơm nhưng có vằn có vện như vằn lông cọp. Còn đinh lăng lá nhỏ lăn tăn hình vỏ hến. Lá đinh lăng và lá vạn thọ xắt nhuyễn trộn thịt gà có mùi thơm ngon như mùi thịt gà trộn rau răm vậy.

Sau cơn mưa, tuy không lớn nhưng đủ làm cho lá mướt rượt xanh dờn còn đọng lấm tấm những giọt nước. Những cành hoa mơn mởn khoe sắc, tỏa hương dìu dịu của 2 luống huệ trắng và mấy cây mai chiếu thủy trong sân nhà. Vô cớ nàng không ưa mấy anh chàng có cái miệng bép xép không ai hỏi mà thưa, không ai gọi mà nói nầy. Cẩm Hương thấy ghét, đóng sầm cửa sổ lại để không thấy hắn ngoài kia. Mặc dù nàng đang cần ánh sáng để sắp xếp đồ đạc đặt lên kệ, lên bàn, máng áo quần lên móc, hoặc cất vào trong tủ. Nàng bực bội chẳng thèm thay áo dài, chùi lên giường lạnh tanh để nằm nghỉ cho khỏe một chút rồi tính sau.

Cẩm Hương thấy lá thư của Ái Mỹ và Thục An đặt trên chiếc bàn bên cạnh giường. Nàng vói tay lấy từng lá ra đọc. Thư của Ái Mỹ có đoạn nói:

“…Hương à, ở Cai Lậy có chàng nào lỡ chợt chân lọt vào hố sâu thăm thẳm của đáy mắt mầy chưa? Có trự nào xâm lăng trái tim teo héo của mầy chưa? Mầy đừng tưởng ở quận đó toàn là con trai quê, trai rẫy, trai ruộng, trai vườn. Có nhiều chàng con cháu các ông Cai Tổng, ông Bang Biện, hay ông Phủ, ông Huyện có bằng cấp Thành Chung rồi mà không chịu ra làm việc với nhà nước Pháp, ở nhà coi sóc gia viên, điền sản của ông cha đương sự. Mầy hãy lựa đại một anh chàng nào mỹ mạo, hào huê bắt bỏ tù trong trái tim mầy đi. Thời buổi nầy, chuyện cột tìm trâu cũng giống như trâu tìm cột vậy…”

Thư của Thục An có đoạn:

“…Từ ngày mầy xa rời quê về dạy học ở Cai Lậy biết đâu có nhiều chàng ở Búng, Thủ Dầu Một, Lái Thiêu bị bịnh thất tình? Anh con nhà bác tao ở làng Hưng Định, từ hôn con gái ông chủ lò chén Chòm Sao tính đi hỏi mầy, ai dè mầy làm cho ảnh leo cây. Anh ngã bịnh tương tư, bắt đền tao làm mai vụng về. Thiệt tình, mầy làm hư bột, hư đường ráo trọi rồi…”

Cẩm Hương thở một hơi dài! Mấy con bạn nầy, thấy nàng nghiêm trang, phải chuyện thì nói thì cười, chính chắn nên có chuyện gì thầm kín chúng hay đem tâm sự để được nàng giải bày, góp ý kiến… Nàng cũng nói giỡn, cũng lém lĩnh ngầm chọc thầy phá bạn nói tếu chớ, nhưng có chừng mức thôi. Nàng mỉm cười khi nghe bọn chúng nói trây, chớ không góp lời, không đả phá hay càm ràm, nàng cũng không bạ đâu nói đó, cười hô hố, nói giăng, nói cuội rồi đập bồn đập bát cười rầm rầm muốn vỡ chợ như bọn chúng. Nên từ khi nàng ra trường đi làm đến giờ Thục An, Ái Mỹ khi muốn cầu cạnh hay muốn nhờ vả nàng chuyện gì thì chúng hùa nhau gọi nàng bằng chị. Còn khi nào phá phách chọc quê thì đừng hòng chúng gọi bằng chị, mà sau chữ chị đó kèm theo chữ khác như là: chị Hai Chằng, chị Hai Néo, chị Hai Teo Héo… Cẩm Hương chép miệng! Rầu quá, mấy con nha đầu nay từ khi thi xong, thôi học, ở nhà chờ có kẻ đến để cầu hôn, nên ưa bàn tán việc hôn nhơn tối ngày. Thiệt là mệt cái lỗ tai. Phụ nữ tân tiến mà cứ lúc thúc ở nhà lo o bế thêu may, bếp núc thì thật là lỗi thời quá. Sao tụi nó không học một cái nghề, rủi bị ế chồng hay chồng bỏ vẫn có thể tự lập cánh sinh, không phải ăn bám vào cha mẹ? Con gái thì sao? Con gái cũng cần phải tự lập, phải xông pha với đời chớ bộ!

o O o

Mùi trầm nhang dìu dịu len lén theo khe hở của vách, của cửa lọt vào phòng, cùng với tiếng lộp cộp nhè nhẹ. Tiếng chân người đi tới đi lui ngang phòng nàng từ nhà dưới lên nhà trên, từ nhà trên xuống nhà dưới, và nhứt là mùi hỗn hợp đậm đà của các món ăn lan rộng, làm nàng tỉnh giấc ngủ ngon.

Cẩm Hương thấy thẹn, ngồi dậy quơ vội chiếc khăn bàn lông, bộ đồ lụa màu hột gà rón rén ra khỏi phòng. Sau khi quan sát xem có ai thấy mình không, rồi đi nhanh vào nhà tắm. Nước mát làm Cẩm Hương cảm thấy dễ chịu vô cùng. Nàng bước ra khỏi nhà tắm, tay ôm bộ áo dài mặc trên đường từ nhà mình đến đây. Bà Tư Hiền đang để thêm củi vào lò đun ấm nước, vui vẻ hỏi:

– Cô giáo về nhà ăn Tết lớn với gia đình có vui không? Ông bà thân của cô khỏe chớ? Và các em cô có về không? Cô xuống đây hồi nào vậy? Đi đường xa chắc là cô mệt, lại gặp mưa nữa.

Cẩm Hương cũng vui vẻ chào lại bà:

– Dạ chào bác Tư. Cháu xuống đây hồi xế. Cảm ơn bác. Ba má cháu vẫn khỏe. Đứa em kế cháu không có về, còn thằng Út về chơi mấy ngày cũng đi hôm qua rồi. Thưa bác về quê ăn Tết, chắc vui lắm hả bác?

Bà Tư và Cẩm Hương đang trò chuyện thì Thiện Tố bưng bình trà xuống bếp dáo dác kiếm tìm. Bà Tư hỏi con:

– Tìm trà hả? Lên bàn thờ lấy hộp trà mới mở ra châm nước cúng đi con. Mở hộp bánh ngọt nữa. Hôm nay cúng Tết rồi.

Rồi bà quay qua Cẩm Hương:

– Nó là thằng Thiện con trai tôi đó cô giáo. Ở ruộng về may mắn trước lễ giao thừa đâu có chừng vài giờ thôi. Thiện à, đây là cô giáo dạy ở trường tiểu học mà má đã nói với con.

Thiện Tố không trả lời mẹ, quay sang Cẩm Hương làm vẻ nghiêm trang:

– Dạ chào cô giáo, hân hạnh được biết cô.

Bà Tư Hiền há hốc miệng nhìn con ngạc nhiên:

– Ủa, sao con nói con gặp cổ rồi?

Thiện cười giỡn với mẹ:

– Hồi xế thì gặp, còn bây giờ mói gặp lại đó má.

Bà Tư Hiền cười đánh nhẹ vào vai con:

– Cái thằng nầy thiệt liến láu mà, cứ hay cà giỡn, không đàng hoàng chút nào hết. Cho nên đến từng tuổi nầy mà nó vẫn còn chưa vợ. Con có biết con đã lỡ thời rồi không? À, lần nay về quê nội con, ba má có gặp ông hương thân Cẩm, ba của cô Mỹ Hạnh. Con còn nhớ Mỹ Hạnh không? Mỹ Hạnh ngày xưa sáng nào ba nó cũng dắt đến học chữ Tây với con và mấy chị con của má lớn con đó, nhớ chưa?

Sắc mặt không gì thay đổi, anh ta hình như đã biết câu chuyện mẹ mình sắp nói. Vừa mở hộp trà anh ta vừa hỏi:

– Nhớ rồi, con nhỏ hở một chút là dãy đành đạch như cá lóc bị đập đầu đó chớ gì? “Bây giờ cô ta đẹp lắm, lại con của bác Hương Thân là chỗ quen biết với ba má. Má sẽ bàn với ba mai mối xin cưới cô ta cho con nghen…”. Có phải má muốn nói vậy với con không?

Bà Tư Hiền cười chảy nước mắt, thằng con cũng cười theo, Cẩm Hương để cho hai mẹ con họ nói chuyện, nàng rút êm vô buồng sắp soạn lại đồ đạc của mình còn vứt ngổn ngang trên giường ngủ. Tiếng gõ cửa phòng lộp cộp. Cẩm Hương rời bàn viết, mở cửa:

– Dạ, có chi không bác Tư, mời bác vào.

Bà Từ Hiền cười nói:

– Mời cô ra dùng cơm với mẹ con tôi. Hồi nãy tôi quên nói với cô, chị Hai Ngâu về quê vì má chồng của chỉ qua đời, không biết chừng nào chỉ mới lên. Tạm thời cô cứ ăn với chúng tôi cho tiện, chừng nào chị Hai trở lại thì tính sau.

Cẩm Hương chưng hửng, ngạc nhiên:

– Quê bà Hai ở đâu lận bác? Nhà gặp tang thì còn Tết nhứt gì nữa. Thật tội nghiệp cho bả. Cháu không dám làm phiền bác, để cháu hỏi mấy chị đồng nghiệp coi họ xách cơm tháng ở đâu.

Bà Hai nói:

– Cô khách sáo quá rồi, phiền cái gì? Cô không ăn thì tôi cũng phải nấu vậy. Có thêm một người thì thêm một cái chén, một đôi đũa chớ có gì đâu cô ơi. Mời cô ra ăn kẻo đồ ăn nguội thì sẽ mất ngon.

Cẩm Hương còn ngần ngừ thì bà Tư Hiền nhồi thêm mấy câu để thúc dục:

– Chắc cô chê tôi nấu đồ ăn dở chớ gì? Cô chỉ tạm thời ăn thôi. Tôi người nhà quê mà, chỉ biết cá kho tộ, canh tập tàng, canh bầu, canh mướp, không khéo léo bằng những người ở thành thị đâu.

Nghe bà Tư nói mát sợ bà giận, nàng lật đật đính chánh ngay:

– Dạ, ý cháu không phải như vậy. Bác cho cháu ở trọ đây cũng tốt quá rồi, để bác nấu cơm, cháu sợ làm phiền bác nữa…

Bà Tư Hiền cười, mời thêm:

– Vậy thì cô ra ăn cơm cúng Tết với chúng tôi nghen.

Bà vừa nói, vừa quay lưng đi xuống bếp gần bàn ăn gia đình. Cẩm Hương đến gương treo trên vách, kẹp lại mái tóc cho gọn, sửa áo quần ngay ngắn bước ra, khép hờ cửa phòng lại. Trên bàn ăn đầy những món ăn ngon, mà ngày thường ít thấy, chỉ ở ngày tư ngày Tết, hay đám tiệc mới có. Bàn được trải khăn trắng, ở bìa khăn được thêu rô-đê và thêu bông hồng trắng nổi có đục lỗ. Trên bàn chỉ có bà Tư Hiền ngồi giữa. Con trai bà và Cẩm Hương ngồi đối diện nhau. Thức ăn gồm có hai tô kiểu lớn đựng nước trong vắt, lồ lộ bên dưới những miếng măng xắt mỏng. Lẫn lộn lác đác trên dưới măng là những miếng sườn heo đầy đặn thịt còn thấy gân trắng, và xương ở hai đầu. Những ngôi sao mỡ loang loáng kết chùm. Mùi canh nồng nàn họp cùng tiêu cà, cùng mùi hành hương, ngò rí xắt nhuyễn nổi vân xanh biếc trên mặt. Đó là tô canh măng mạnh-tông hầm sườn non.

Trong dĩa bàn trẹt, từng khoanh nem chua xắt đều đặn để trên dĩa trẹt. Bên ngoài cuốn nem là lớp bánh tráng trắng, bên trong lớp cải xà-lách xanh, giá sống trắng, kế đến là các loại rau thơm như húng cây, húng nhủi, dấp cá, rau răm màu xanh, sau cùng là lớp nem màu hồng lợt của thịt tươi được khéo léo cuốn chặt. Món nem chua cuốn bánh tráng nay nằm kề cận bên chén nước mắm chua ngọt, có đệm củ cải đỏ, củ cải trắng, dưa kiệu, dưa gừng xắt chỉ.

Ngó sen trắng phau phau được trộn gỏi với thịt ba rọi xắt mỏng và tôm càng xanh vỏ nướng xé tơi. Bên trên dĩa gỏi vun chùn, có rắc rau thơm xắt nhuyễn và rải đậu phọng rang đâm nhỏ.

Bì cốt là bì làm xong trộn với thịt quết làm nem vắt lại thành từng cục to bằng nắm tay đem bọc từng cục trong lá chùm ruột non, lá vông nem non. Bên ngoài được gói kín bàng lớp lá chuối xiêm phơi heo héo và buộc thật chặt lại. Ở thôn quê người ta thường treo bì, nem, lạp xưởng từng xâu lủng lẳng dưới nhà bếp. Bì cốt gói xong phải để cách đêm mới ăn. Khi ăn, bứt dây cột bì ra, khéo tay bẻ từng lớp lá chuối gói bì thành như cái chén ăn cơm, rồi để lên cái dĩa. Lấy đũa tách từng miếng bì dẽ khắt. Ăn bì cốt, người ta thường ăn luôn cả lá vông non hay lá chùm ruột non gói bì.

Dĩa dũm có lòng sâu đựng thịt đùi kho với trứng vịt, và cá lóc. Những khứa cá lóc được cắt dầy. Còn thịt bắp đùi thì cắt hơi lớn hơn khứa cá một chút. Hột vịt được lựa chọn kỹ càng nên gần như hột nào cũng gần bằng nhau. Mặt nước thịt kho, theo màng mỡ có điểm lấm tấm trứng cá lóc. Cục thịt nằm cao hơn mặt nước kho, có từng lớp thịt, lớp mỡ, lớp thịt ngã sậm màu mã não vì được kho rỉ rả, kho lâu cho nên được nước dừa thấm vào. Thịt kho mềm rệu mà không bị bể, còn khứa cá dẽ khắt, ở giữa là ruột và trứng cá, hột vịt thấm nước kho nên cá, thịt, hột vịt có cùng một màu. Nước kho không đục, không lềnh, trong vắt nổi những chùm sao mỡ lấp lánh. Kế bên dĩa thịt kho tàu là dĩa dưa chua bằng cải tùa-xại. Loại cải nầy lùn hơn, bề ngang dầy hơn, lớn bản hơn cải bẹ xanh. Đặc biệt cải tùa-xại làm dưa khi đã thấm thì màu dưa tự nhiên trở màu vàng, từ lá và bẹ đều ăn giòn khứu. Cải dưa được xắt vừa miếng ăn chiếm nửa dĩa. Còn nửa dĩa bên kia là dưa giá màu trắng, trộn với hẹ màu xanh, dưa chuối cau cây có màu tím nhạt. Ở thôn quê nhà nào có trồng nhiều chuối, nhứt là loại chuối cau làm dưa mới ngon. Người ta lấy lỏi non của cây chuối chẻ theo chiều dài bằng giá và hẹ, cùng củ cải đỏ, gừng xắt chỉ đem ngâm chua được vắt ráo nước bày lên dĩa. Bà Tư Hiền rất tỉ mỉ và đơm lên dĩa, lên tô tạo những món bà nấu đã ngon lại đẹp mắt.

Bỗng dưng, Cẩm Hương có cảm giác nhứt cử nhứt động của mình luôn bị “kẻ khác” theo dõi. “Kẻ khác” theo dõi đó tức là ông tiểu chủ nhơn nhà nầy chớ còn ai nữa. Giờ đây hắn trông tươi mát vì vừa mới tắm xong, khuôn mặt rực rỡ hồng hào, tóc chải bảy ba, đường rẽ thiệt thẳng. Nhưng hắn ăn mặc cẩu thả: Áo thun ngã màu ngà, quần dài bằng vải ka-ki bạc màu bao giấy dầu, chơn mang dép. Hình như hắn đi đâu mới về tới nhà? Nhưng ở hắn toát ra vẻ sảng khoái, thơ thới, ánh mắt diễu cợt, nụ cười hóm hỉnh. Coi bộ tên nầy đang đắc ý chuyện gì? Hay là hắn sắp đặt trong đầu những câu cợt đùa nhảm nhí để chọc quê mình đây? Phải đề cao cảnh giác, chuẩn bị tinh thần mới được.

Mấy con bạn của mình thích trai lém, trai khinh thế ngạo đời qua dung mạo của những nam tài tử vai chánh trong các phim thì mặc kệ tụi nó chớ. Còn công nương Cẩm Hương thì thích trai hùng, trai oai, trai cận đại, trai hảo hớn, mặt mày nghiêm trang ăn mặc tề chỉnh mà thôi. Ngưu đầu mã diện ơi, hôn phu của con Thụy Châu có cái mặt lúc nào cũng chừ bự quạo đeo, như ai ăn hết của cải gia tài hắn không bằng? Ông bà, ông vải ơi, mặt mày như vậy mà nhỏ Thụy Châu ca lên đến chín từng mây!

Thôi được, mỗi người có một ý thích riêng, kẻ thích ăn mì, người thích ăn hủ tíu, kẻ mê xá-xíu, người chuộng thịt quay… hơi đâu mà khích bác. Có khích bác chăng là cái tiểu chủ nhơn nhà nầy đây nè. Cái tên nay có vẻ tinh khôn lắm. Mình non tay ấn, chưa đủ sức khống chế cái tên nầy đâu, nên phải cẩn thận đề phòng. Con Thục An, Ái Mỹ thì láu táu, liến khỉ nhưng nhẹ dạ chỉ được cái miệng chót chét mà thôi, không tìm được một câu để chăm đít chích nọc vào đầu óc tụi con trai lém lỉnh, khỉ khọt . Chỉ trừ mình và Ánh Nguyệt đỡ hơn hai con kia một chút, là không ồn ào giữ thế thủ chặt chịa, rồi có dịp thuận tiện là tấn công bọn nam sinh yêu tinh, quỉ quái một vố đau điếng.

Cẩm Hương còn ngần ngừ trước mâm cơm, trong khi bụng nàng cồn cào kêu đói. Phải ở nhà là chẳng đợi ai mời, nàng gắp đầy chén, múc đầy tô, nhai ngồm ngoàm rồi khen lấy khen để hoặc chê lạt chê mặn vơi mẹ rồi. Nhưng ở đây là nhà của người ta, mình là kẻ ở trọ, chỉ ăn tạm mấy ngày thôi. Vả lại còn có ông thần thừ con bà chủ nhà ngồi chình ình một đống đó nữa. Tuy là thanh niên ở quận, canh tác ruộng vườn, nhưng hắn có vẻ ma lanh và đáo để hơn hai thằng em của nàng nhiều. Không giữ gìn ý tứ, nàng sẽ bị hắn cười thì nàng sẽ mất mặt lắm!

Bà Tư Hiền vui vẻ mời:

– Ăn uống tự nhiên như ở nhà nghen cô giáo. Tết mà, mọi người vất vả, bận rộn cả năm, chỉ có mấy ngày được thảnh thơi. Nhà nhà sắm sửa, trang hoàng, quét dọn sạch sẽ để đón mừng Tết và gia đình đoàn tụ, nấu nướng cá, thịt, làm bánh, trái ê hề…

Con trai bà Tư Hiền, ăn gần hết chén cơm, mới mở miệng cóc, cười thiệt tươi:

– Mời cô ăn đi chớ. Cô không ăn làm tôi mắc cỡ không dám ăn tiếp đó. Cô hãy thử tài nghệ nấu ăn của má tôi, bà sẽ buồn hiu hắt nếu không được khách chiếu cố đến những món mà bà đã chuẩn bị cả mấy tháng nay. Ăn Tết mà!

Hắn đưa chén nhờ mẹ bới cơm, nói tiếp:

– Hôm đầu tháng, ba tôi lên thăm ruộng có nói má tôi dạo nầy vui vẻ, nhà đỡ vắng vì có cô ở đây với bà. Thành thật cảm ơn cô. Cứ mỗi năm, tôi hay đi coi rụộng vào mùa lúa chín, có khi cả tháng về đôi ngày rồi lại đi nữa. Sau mùa lúa thì mới về nhà coi phụ công việc làm ăn của ba tôi ở gần đây.

Hắn quay qua nói với mẹ mình:

– Ba nói năm tới sẽ sang lại ruộng trên ấy cho người ta.

Bà Tư Hiền dừng ăn, hỏi con:

– Sao vậy? Lúa thóc năm nào trên đó cũng trúng, thu hoạch khá lắm mà?

Cẩm Hương ăn uống nhỏ nhẹ, lắng tai nghe hai mẹ con bà Tư nói chuyện. Bỗng hắn vừa gắp thức ăn vừa nói:

– Sao cô không ăn gì hết vậy? Mời cô cứ tự nhiên đi chớ. Ngày thường không có nhiều món như vậy đâu. Hôm nay cúng Tết nên món nào cũng dọn lên cúng. Ngày mai thì hết Tết rồi.

Cẩm Hương giựt mình, nhưng cười nhẹ trả lời:

– Cảm ơn anh, tôi có ăn chớ. Bác nấu những món ăn ngon và khéo tay quá cho nên tôi cảm thấy tiếc và không nỡ ăn hết đó.

Bà Hương vui ra mặt:

– Ăn đi cô, trong bếp có những món cứ hâm đi hâm lại mấy ngày rồi. Không ăn cho hết, để lâu sợ giữ không được, bỏ uổng lắm.

Hắn cười phụ họa:

– Cô nghe rõ chưa? Vậy thì làm ơn phụ với chúng tôi thanh toán cho thật gọn dùm đi cô giáo.

Ăn xong, hắn đứng dậy đến bàn rót nước trà cho mẹ, châm thêm nước cho mình, và hỏi:

– Cô giáo không uống gì sao? Uống nước trà nghen.

Cẩm Hương thấy anh chàng nay cũng có nhiều điểm tốt, cho nên ác cảm lúc ban đầu bớt đi. Cô dịu giọng:

– Cảm ơn anh, bình thường khi ăn cơm có canh, tôi ít khi uống nước.

Hắn cười nhẹ, quay qua nói với mẹ mình:

– À, má có biết tại sao ba muốn sang ruộng đó không? Ba nói thời buổi nầy là thời buổi kinh tế khó khăn. Mặc dù lúa vẫn trúng mùa, nhưng năm nay mối lái bạn hàng không nhiều như những năm trước. Ba muốn thu gọn việc làm ăn lại, chia vườn ruộng cho con cái. Ba còn nói đứa nào muốn giữ ruộng vườn thì ba sẽ để cho đứa đó. Còn đứa nào không muốn ruộng vườn thì ba đem bán và sẽ cho tiền muốn làm ăn riêng rẽ gì thì làm. Ba lớn tuổi rồi nên không muốn bươn chải nữa. Bây giờ ba chú tâm vào nhà máy chà lúa để có huê lợi sinh sống hàng ngày thôi.

Bà Tư Hiền thở dài, buồn giọng:

– Thật ra thì hai năm nay ổng không còn khỏe như xưa nữa. Má cũng muốn khuyên ổng bỏ bớt việc làm ăn. Đời người sống được bao lâu, bươn chải lắm khi chết cũng chỉ đem theo hai bàn tay trắng thôi. Nhưng má sợ má lớn con biết được nói nầy nói kia phiền phức lắm. À, rồi con có nghe ba con nói là ổng sẽ chia cho con ruộng đất ở đâu không? Phải chia chớ, con nào cũng là con mà. Trong ngoài nhà đó con lo lường mọi thứ. Thằng con cầu con khẩn của ổng bả chẳng làm nên tích sự gì cả, chỉ có phá của thôi. May là cha mẹ nó có tiền và cưới được con vợ biết điều. Nếu không thì cũng theo du đảng du thực, hoặc không làm lơ xe, cũng kéo xe ba bánh.

Hắn nhăn mặt:

– Má lại nữa rồi! Mỗi người trên thế gian nay đều có số cả. Chuyện đã như vậy má cứ để trong bụng làm chi cho mệt? Con còn trẻ mà, ba chia ruộng đất cho con hay không chuyện đó con không nghĩ tới. Hàng tháng ba trả lương con làm việc đủ nuôi sống mẹ con mình là được rồi. Nếu không vì ba, con cũng sẽ học nghề đi làm để kiếm sống, và được sống gần bên má thì con đã hạnh phúc lắm, không đòi hỏi gì thêm nữa cả.

Cảm động vì con luôn nghĩ đến mình, bà Tư Hiên rướm nước mắt.

Có một hôm Cẩm Hương đi dạy học về. Nàng chợt thấy trên bàn kế giường ngủ có bình cắm bùm xùm nhiều hoa: Hoa chuối nước màu vàng điểm chấm đỏ, hoa nở ngài màu tím tươi, hoa điệp màu cam, hoa trang màu đỏ ửng ánh vàng. Nhưng mà quỉ thần ơi! Bình hoa đặt ở bàn, vô tình lại nhằm ngay dưới tấm ảnh bán thân trắng đen khổ 18×24 của nàng treo trên vách. Thiệt là vô ý vô tứ, bộ người ta chết rồi sao mà đặt bình hoa như vậy? Tặng hoa kiểu nầy chẳng khác nào trù ẻo người ta yểu mạng, vong thân, kẻ tặng sẽ không được người nhận cảm ơn mà còn bị mắng nữa là khác. Nhưng nàng chợt thấy tấm giấy pơ-luya màu hồng tươi viết hai câu thơ bằng mực tím:

“Người đẹp bên hoa, hoa ửng sáng
Hoa cười bên ngọc, ngọc thêm trong”

Nàng mỉm cười: “Tán gái kiểu nầy có vẻ cải lương quá đi! Thật là xạo mà!”. Nhưng Cẩm Hương không xé bỏ tờ giấy hường đó đi, mà nàng cẩn thận đặt nó vào quyển nhựt ký. Nàng dời bình bông đến bàn viết, sửa lại cho mấy nhánh bông trang vượt lên cao hơn để khỏi bị hoa chuối che khuất.

Bà Tư Hiền nấu nồi chè lũm chũm, bằng bột nếp vò viên lớn cở đầu ngón tay cái với đường thẻ có giã gừng hòa trong nước đường. Bà còn pha bình trà hiệu Con Cua Xanh, lớn tiếng mời Cẩm Hương ra giải lao. Ngồi đối diện với Thiện Tố, con trai bà chủ nhà, nàng bảo:

– Cảm ơn bình bông do anh tặng, đẹp lắm!

Thiện Tố bảo:

– Cách đây mấy ngày, liếp huệ trổ nhiều bông. Tôi có cắt mấy nhánh cắm vào bình bông đợi cô về tặng cô làm lễ sơ kiến. Nhưng hôm qua, huệ héo rồi, tôi có lấy nước vẩy vào mấy đóa huệ, thay nước mới, bỏ vào bình viên thuốc aspirine. Hoa tuy không còn héo nữa, nhưng không tươi bằng khi mới cắt. Bởi hoa chưng hơi lâu, bị cảm nặng nên thuốc chữa cảm aspirine không có hiệu nghiệm nhiều.

Cẩm Hương ngơ ngẩn:

– Hoa mà cũng bị cảm nữa sao? Anh có nói bịa không?

—>Chương 4

Advertisements
This entry was posted in Dư Thị Diễm Buồn, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s