Dư thị Diễm Buồn: MỘT GÓC TRỜI THÔN Dà(9-10)

CHƯƠNG CHÍN

Thầy Bảy phạm-nhe nghi Cẩm Hương bị chứng bán thương hàn, nên khuyên Thiện Tố chở nàng đi nhà thương Mỹ Tho. Quả thiệt y như rằng. Nàng vướng chứng bịnh đó, phải nằm ở nhà thương điều trị ít nhứt là mười ngày, hoặc nửa tháng. Thiện Tố đánh dây thép báo tin cho ba má nàng.

Ông bà Ký Tân xuống thăm con gái. Thấy con ốm yếu xanh xao, đau lòng mẹ. Nước mắt bà rưng rưng. Trước mặt ông bà Ký Tân, Thiện Tố khép nép lễ phép thưa:

– Cháu thành thật xin lỗi hai bác, có lẽ tại cháu mời Cẩm Hương đi dự đám cưới người bạn, nên mới ra nông nỗi nầy. Xin hai bác tha lỗi cho cháu.

Bà Ký Tân không nói gì. Ồng Ký Tân chép miệng, thở dài:

– Cậu cứ ngồi xuống ghế đi. Lỗi nầy không phải ở cậu, có lẽ tại nó dầm mưa thì đúng hơn. Chúng tôi phải cảm ơn cậu đã chăm sóc nó mấy hôm nay. Ngày mai tôi sẽ về. Nhà tôi ở lại nuôi nó. Mọi việc đã qua rồi, có ai muốn vậy đâu? Nên không ai trách cậu, và cậu cũng đừng tự trách nữa. Cậu nên về nhà để lo việc của mình đi, hổm rày cậu cũng đã vất vả nhiều với nó!

Thiện Tố an lòng vì không bị ba má của Cẩm Hương mắng bởi nóng ruột con. Chàng vui vẻ, thưa:

– Cảm ơn hai bác thương mà không phiền trách cháu. Công việc của cháu có người khác thế rồi. Mong hai bác cho cháu ở lại chăm sóc cho Cẩm Hương thêm đôi bữa nữa, rồi cháu sẽ về.

ThiệnTố thành khẩn nhìn hai ông bà, chờ câu trả lời. Ông Ký Tân nhìn vợ như hỏi ý kiến? Bà Ký Tân vừa kéo mền đắp cho con vừa nói:

– Cũng được, có cậu ở đây tôi sẽ đỡ lo hơn. Bởi hôm nay là lần đầu tiên tôi đến thành phố nầy. Nhưng mà còn phải hỏi lại Cẩm Hương nữa, coi nó có bằng lòng cho cậu ở lại không đã.

Vợ chồng ông Ký Tân bỏ ra ngoài đi ăn cơm trưa. Chỉ còn lại Thiện Tố ở trong phòng bịnh. Chàng khép cửa sổ lại, sợ gió độc len vào phòng, rồi bật đèn lên cho sáng. Xong, chàng sửa lại mấy nhánh hoa huệ, hoa hoàng điệp trong chiếc lọ đặt trên bàn ở cạnh giường.

Cẩm Hương làm bộ nhắm mắt như đang ngủ. Bởi nàng biết ý mẹ. Bà muốn dò coi tình cảm của nàng đối với anh chàng nầy ra sao? Cuộc giao du giữa Thiện Tố và Cẩm Hương chưa bao giờ bà nghe nàng nói đến. Rồi bỗng dưng cả hai đi đám cưới chung và được chàng nuôi bịnh như vậy?

Cẩm Hương xét lại lòng mình. Nàng chưa bị búa tạ ai khệnh vào đầu, chưa bị ray rứt, chưa bị đau thốn con tim vì ai, chưa cảm thẩy thiếu vắng vì không gặp mặt ai, chưa mừng rỡ trong lòng khi nghe ai nhắc đến tên, chưa ghét, chưa hờn, chưa giận, cũng chưa buồn vui bất chợt không rõ nguyên nhân…. Đó là những lý do, những câu hỏi để nàng nhận định mình có rơi vào lưới tình chưa? Vấn đề đó con Thụy Châu dạy cho nàng biết hồi hai đứa còn học chung năm Đệ nhị niên. Cho nên, nàng khẳng định rằng: “Như vậy là mình chưa xao xuyến yêu thương anh chàng nầy”.

Thiện Tố kéo ghế ngồi sát giường bịnh, nắm tay Cẩm Hương bóp nhẹ, tha thiết:

– Em thấy trong người thế nào? Sắc mặt em hôm nay tươi, anh mừng lắm! Phải để cho anh bịnh thay em mới đúng, vì anh khỏe mạnh! Thấy em lì lịt, không ăn, không uống, nóng, lạnh bất thường anh vừa sợ, vừa lo, lại vừa tự trách mình tại sao lại rủ em đi đám cưới làm chi cho nên nông nỗi nầy? Thật anh ngu quá mà! Anh thành thật xin lỗi, bởi tại anh tất cả!

Cẩm Hương không trả lời. Nhưng bỗng dưng dòng lệ mỏng chảy trên má. Thiện Tố lấy khăn chặm nước mắt cho nàng, rồi bất ngờ chàng hôn nhanh lên má lên môi nàng. Phản ứng tự nhiên, Cẩm Hương xoay người vào trong trùm mền kín lại. Nhưng cái hôn đó hình như có một luồng hơi ấm chạy khắp châu thân, và nàng có cái cảm giác lâng lâng nhè nhẹ len lén vào hồn. Biết Thiện Tố đã ra khỏi phòng, nhưng nàng vẫn trùm mền kín mít không dám giở ra. Nàng vừa thẹn vừa sung sướng nên không muốn cho Thiện Tố bắt gặp đôi má ửng hồng của nàng. Phải ở đây có cái hang, nàng nhứt định sẽ chun xuống ngay cho đỡ mắc cỡ.

Ông bà Ký Tân ăn cơm xong, trở lại phòng bịnh. Bà kêu lên:

– Nóng quá, sao con trùm mền bít đầu bít đít vậy? Bộ con lạnh hả?

Cẩm Hương không trả lời, bà thuận tay kéo mền ra. Nàng nắm chặt lại. Bà rờ trán, rờ tay xem có gì không? Trán nàng đẫm mồ hôi, bà hoảng hồn gọi Thiện Tố:

– Hãy vào xem, Cẩm Hương nóng hổi và toát mồ hôi đầu. Mau mời phạm-nhe!

Thiện Tố lo sợ:

– Dạ, để cháu đi mời thầy phạm-nhe.

Nói rồi chàng bước đi nhanh, Cẩm Hương hoảng hồn, nói láo với mẹ và để cản anh ta lại:

– Đừng gọi phạm-nhe, con có gì đâu? Tại trùm mền ngủ quên đó mà.

Thiện Tố thoáng buồn, thầm nghĩ. Chắc Cẩm Hương giận nên không muốn cho mình ở lại. Mình vừa mới lau nước mắt cho nàng đây mà! Nàng có cái phản ứng khó hiểu: Trùm mềm. Vậy là sao?.

Riêng Cẩm Hương cũng nghĩ ngợi. “Đàn ông là như thế sao? Thiện Tố thật sự không biết tâm sự của con gái sao? Chàng vô tình đã làm rung động tâm hồn cô gái trẻ vô tư, chưa có người yêu và chưa một lần yêu dù là yêu đơn phương… Hay ngoại cảnh làm cho tâm hồn nàng xao động sanh ra lãng mạn, thương mây khóc gió… Hoặc nàng ở đây mà tâm hồn bay bỗng đi đâu… Nàng không biết! Và nàng sợ lắm, không muốn biết! Nhưng sao trong đầu óc nàng cứ luôn nghĩ đến chàng và cảm thấy hương vị ấm áp của cái hôn còn phảng phất trên má trên môi nàng!”

Bà ký Tân biết con không sao thì an lòng, và bà cũng đoán được phần nào tâm tư của chàng thanh niên và cô ái nữ của mình, bà hỏi con:

– Con có muốn uống chút nước không?

Cẩm Hương không nói, chỉ lắc đầu:

– Dạ không.

Bà quay qua nói với Thiện Tố:

– Trời hôm nay nóng bức quá, cháu ở đây với nó, hai bác xuống băng đá dưới kia, có bóng cây ngồi cho mát một chút. Nếu nó có cần gì thì nhờ cháu giúp dùm cho, hay là gọi bác nghen.

Thiện Tố “dạ”. Ông bà Tân bước ra khỏi phòng. Chàng kéo ghế đến ngồi gần giường Cẩm Hương, nhẹ hỏi:

– Em có muốn ăn gì hay uống nước không?

Cẩm Hương lắc đầu. Nàng chỏi tay muốn ngồi dậy. Nhưng nàng cảm thấy đầu hơi nặng nên rên nhẹ rồi lại nằm xuống. Thiện Tố nói:

– Để anh đỡ đầu em lên cao, dựa lưng vào thành giường cho dễ chịu nghen?

Cẩm Hương gật đầu. Chàng lòn tay phía sau chêm thêm gối để nàng dựa lưng cho khỏi bị cấn. Cẩm Hương nói:

– Cảm ơn anh hổm rày đã vất vả vì em. Nay em cũng đỡ rồi, giờ chỉ chờ em bình phục mà thôi. Em nghỉ lâu lắm là 3 tuần nữa em trở về dạy lại. Công viêc nhà máy dồn đống đang đợi anh đó.

Thiện Tố cười buồn, nghĩ là Cẩm Hương còn giận mình. Anh nói:

– Bộ em còn giận anh hả? Việc ở nhà máy thì có Thiện Cảm lo, vậy chớ lúc anh đi coi ruộng cả mấy tháng thì sao?

Cẩm Hương nhớ đến giọng điệu chanh chua của bà má lớn, và hai bà chị của Thiện Tố hay nổi chứng bất ngờ làm cho người đối diện thấy dễ ghét khó ưa nên nàng vẫn cương quyết:

– Đó là chuyện có dự định trước, còn chuyện nầy quá bất ngờ. Em cũng khỏe nhiều rồi không dám làm phiền anh nữa.

Thiện Tố có vẻ không vui, xẳng giọng:

– Được rồi, em không cho ở, thì mai anh về làm việc lại!

Cẩm Hương biết anh ta giận, nàng dịu giọng:

– Em về nhà dưỡng bịnh. Hôm nào rảnh anh có thể lên nhà thăm em. Nhưng anh phải rủ ai đi theo, chớ anh đến một mình thì không được, vì bên nội em khó lắm, họ sẽ dị nghị và cười mẹ con em.

Thiện Tố tươi ngay nét mặt, mắt ngời sáng siết chặt tay nàng, Cẩm Hương giật tay lại

– Anh đã vi phạm nhiều rồi nghen!

Chàng cười trừ!

o O o

Đêm nay là đêm rằm tháng ba. Các ông trong Hương Chức Hội tề sau Tết ta đã đi quyên tiền của các thương gia trong châu thành quận để mướn gánh hát bội về hát cho dân coi miễn phí. Bà Tư Hiền dù là vợ hai nhưng cũng là dâu ông Cả, và là vợ nhỏ ông chủ nhà máy chà đã đóng góp số tiền lớn cho lễ hội nên cũng được giấy mời đi chung với gia đình bên chồng xem hát bội. Từ chiều bà Tư Hiền đã sang nhà bà lớn để cả hai cùng đi. Trước đó, bà có rủ Cẩm Hương đi, nhưng nàng từ chối, vì sợ đông người chen lấn. Thiện Tố chưa về, hay đã đi xem hát cùng gia đình? Nàng không biết.

Sau hơn ba tuần nghỉ dưỡng bịnh, trở lại dạy học, Cẩm Hương cảm thấy không khí ở nhà trường thật khó thở. Bạn đồng nghiệp lạnh lùng với nàng, còn các học trò không còn thân thiện với cô giáo như trước nữa. Nàng nghe phiền muộn vô cùng mà không biết lý do tại sao? Nhưng trong nhà, nàng được bà Tư Hiền chăm sóc chu đáo hơn. Còn nàng thì luôn cố tình lánh né Thiện Tố. Mỗi hôm đi dạy về, nàng kêu đói để được ăn cơm trước. Sau đó nàng vào phòng, đóng cửa lại đọc sách, xem tiểu thuyết hoặc chấm bài cho học trò, rồi ngủ. Nàng không cùng bà Tư Hiền chờ Thiện Tố ăn cơm như dạo trước. Có lẽ Thiện Tố biết ý nàng, nên lặng lẽ làm việc của mình. Sáng sớm chàng đi làm, có bữa khuya lơ mới về. Hai người họ không có lý do mà tự dưng hình như có chiến tranh lạnh với nhau!

Hồi trưa, Thục An lấy xe hiệu Delahaye của ba nó chở Ái Mỹ và Ánh Nguyệt xuống Cai Lậy thăm Cẩm Hương, nhân lúc hai con kia đến nhà nó chơi. Cẩm Hương dắt cả ba đến quán bà Hai Ngâu, bảo:

– Bọn bây đến Cai Lậy mà không ăn bì bún, bì cuốn, nem chua là uổng một chuyến đi.

Bà Hai Ngâu vui vẻ:

– Tôi vừa ép bánh tằm còn nóng hổi. Cô nào muốn ăn bánh tằm bì chan nước cốt dừa thì có ngay.

Ái Mỹ nhìn nắng chan hòa khắp phố xá:

– Sáng nay oi bức, ăn bì bún mát miệng hơn.

Thục An bảo:

– Nhơn tâm tùy thích. Tao không mấy đói, chỉ ăn hai cuốn bì là đủ no rồi.

Cẩm Hương và Ánh Nguyệt ăn bánh tằm bì. Bốn cô đang ăn uống nói cười vui vẻ. Ánh Nguyệt dừng lại, khoe dùm bạn:

– Chị Cẩm Hương có biết là hai con chồn đèn nầy có bồ rồi không?

Cẩm Hương mở to mắt ngạc nhiên, nhìn Thục An và Ái Mỹ:

– Thiệt vậy sao?

Thục An dúc dắc:

– Người yêu của tao đẹp lãng mạn như kép Từ Anh trong gánh hát Huỳnh Kỳ.

Ái Mỹ kênh kiệu:

– Còn người tao yêu giống như hoàng đế Bảo Đại.

Cẩm Hương mắc tức cười hai con khoe khoang lớn lối nầy. Bỗng thấy Ánh Nguyệt làm thinh tư lự, Cẩm Hương động lòng:

– Còn mầy thì sao Ánh Nguyệt?

Ánh Nguyệt làm bộ để mặt buồn áo não:

– Em đang yêu một chàng, chàng cũng đã đá lông nheo lia lịa với em. Em đợi chàng viết thư tỏ tình. Gần Tết chàng chỉ gởi thiệp chúc xuân vậy thôi. Đợi chàng tỏ tình chắc phải đến cóc mọc râu! Nhưng em biết ảnh thương em lung lắm, nhưng ảnh nhút nhát nên ngại ve vãn em đó thôi.

Thục An chợt nhớ ra:

– Tháng trước tao đi xe điện (tramway) đến Hốc Môn để thăm dì Tư tao. Trên xe tao gặp con nhỏ Thanh Hà. Bây còn nhớ con nhỏ roi roi, có nước da ngăm đen học dưới bọn mình 1 lớp đó không? Tao với nó trò chuyện tương đắc lắm. Khi chia tay, nó có cho cái địa chỉ và ân cần mời tao đến chơi. Nhà nó ở đường Mặc Má Hồng (Mac Mahon, về sau đổi tên Công Lý). Té ra con nhỏ lấy chồng Tây. Dân Tây mới ở đường Công Lý thuộc khu sang trọng. Tuần rồi có dịp qua ngang đó, tao tìm đến thăm nó. Thằng chồng Tây của nó chở hai đứa tao đi ăn cơm Tây nhà hàng ở đường Bonard (về sau đổi là đường Lê Lợi) uống rượu rum pha li-mô-nát.

Ánh Nguyệt hỏi tới:

– Chồng Tây của nó bao nhiêu tuổi? Có đẹp trai không? Có giống Clark Gable không?

Thục An cười:

– Chồng nó khoảng ba mươi ngoài, không đẹp trai, nhưng khi nói, cười có duyên đáo để. Hắn là Biện lý tòa thượng thẩm đó đa.

Ái Mỹ trề môi:

– Ăn nói có duyên mà ưa buộc tội can phạm giữa tòa án thì thất đức lắm đó. Tao không thèm lấy thứ chồng như vậy đâu. Thà tao ở vá còn hơn.

Ánh Nguyệt nói:

– Mầy nghĩ vậy cũng đúng. Mợ Ba tao thường nói: “Mấy người ăn ở thất đức thì coi chừng sanh con sẽ không có lỗ đít”. Nhưng chồng con Thanh Hà chỉ phán tội cho những người phạm tội thôi mà. Mầy khó tánh thì sẽ gặp… chồng mổng chổng mông mà gào cho coi.

Cả ba phá lên cười muốn vở nóc nhà, và hai cô kia xúm lại đấm thùm thùm lên vai cô con gái nói trây, phát ngôn bừa bãi, ẩu tả có cái tên Ánh Nguyệt trong sáng đó.

Ăn xong, Cẩm Hương dắt ba cô dạo quanh phố chợ Cai Lậy. Họ mua một vài món đồ lưu niệm rồi ra xe về. Nhìn làn khói bụi cuốn tỏa phía sau và xe khuất trong ngõ quẹo, Cẩm Hương trở về nhà trọ mà lòng man mác buồn.

Trăng tròn ngạo nghễ trên lưng trời phương đông. Ngày rằm, cũng là vào ngày nước rông, Cẩm Hương mở cửa sổ nhìn ra ngoài. Ánh sáng loang loáng trải trên mặt kinh dài sau nhà bà Tư. Nước nhấp nhô đưa đẩy từng đợt sóng nhẹ. Dòng kinh được trăng rọi lộ màu nước ngấm nhiều phù sa. Đêm nay vắng tiếng đùa giỡn của mấy đứa trẻ tắm dưới kinh như những mùa trăng qua, cũng thiếu bóng dáng xuồng câu có ngọn đèn tán chai le lói, và thiếu người giặt áo quần trên sàn lảng sau nhà hay trên những chiếc cầu nhũi dưới mé kinh. Ngọn gió nhẹ thổi cũng đủ đưa cành so đũa lay động thướt tha ngoài mái hiên còn rải rác những bông trổ muộn, những trái non xanh lặt lìa dài như chiếc đũa ăn cơm cọ quẹt vào mái nhà vào vách bổ kho nghe xạc xào.

Nàng nghĩ: đêm qua, đêm nay và đêm mai nữa, nhà nào cũng vậy, già, trẻ, bé, lớn, đều đi xem hội chợ và xem hát chầu trong dịp cúng rằm Thượng Nguơn ở đình trong phố quận. Mỗi năm trừ những ngày Tết ra, trong làng chỉ có 3 ngày vui lớn nầy. Cho nên dân trong làng và các làng lân cận làm sao bỏ qua cho được? Nam thanh nữ tú, ăn mặc tươm tất. Trên đường, từng nhóm năm bảy người đi bộ, xuồng bơi, ghe chèo, còn những người ở gần lộ đá thì đi xe ngựa, xe kéo…

Cẩm Hương thở dài. Gần đây sao nàng cảm thấy dằng dặc muộn phiền, và hình như thiếu vắng thứ gì đó nhưng nàng không biết phát xuất từ đâu và tại sao? Nàng rời phòng, đi lần xuống nhà bếp rót ly nước uống, và mở cửa ra ngồi trên chiếc võng bên hiên nhà. Bà Tư khéo tay đương võng nầy bằng dây từ bẹ chuối xiêm chẻ mỏng phơi khô nên chắc và mềm để ai đó nằm, ngồi không bị cấn. Nàng ngã lưng lên võng, lót hai bàn tay dưới ót, một chân xoải dài trên võng, một chân chỏi dưới đất để đong đưa. Tiếng võng kêu kẽo kẹt phát ra từ chỗ hai đầu lòn trong 2 vòng sắt bị khô dầu. Nàng nghĩ ngợi miên man, nhớ hai em, nhớ cha mẹ già. Bà Ký Tân hay than thở:

– Má rầu thúi ruột, thiệt uổng công cho cái thằng Thành ăn học đàng hoàng tới nơi tới chốn bây giờ lại thương cái con đi làm thư ký cho hãng Denis Frères của Tây. Trong hãng toàn là Tây tà. Con gái học trường Tây, trường u không ý tứ đó, tự do ngã ngớn đụng ai cũng hốt cũng ôm không ra gì cái thể thống gì hết! Thiệt là khó coi, chướng mắt! Còn thằng Tuấn lúc rày bày đặt nhậu la-ve với con trai ông chủ lò chén Chòm Sao.

Cẩm Hương biết lò chén Chòm Sao chớ! Đó là chỗ sản xuất tô, tượng, chén dĩa, chậu, vịm, ảng, bồn, lu, hũ, khạp… Nói tóm lại là đồ gốm làm bằng sành. Nơi đó có 4 gian nhà lợp ngói âm dương. Ngoài sân lót gạch tàu. Giữa sân là chòm cây sao, có 4 cây cao vút, nên quạ từ các nơi kéo về là ổ trên ngọn. Lò nầy ở làng Hưng Định cách chợ Lái Thiêu chừng 2 cây số.

Má nàng hậm hực:

– Từ lâu, má muốn thằng Tuấn cưới con gái ông chủ lò đường. Cô ta hiền lành dễ thương, tuy xinh lịch mà không liến xáo như gái tân thời. Mấy hôm trước đây, nó gởi thư về thăm ba má nói rằng nó đã để ý con Á̉nh Nguyệt, bạn thân của con. Cô nầy, tuy giỏi nữ công, giỏi chữ nghĩa ngang ngữa với thằng Tuấn nhà mình, nhưng ngặt cái là miệng cổ lép xép liên tu bất tận như vịt xiêm rỉa tép nên má ngại lắm.

Cẩm Hương trấn an mẹ:

– Ánh Nguyệt học chung với con lâu rồi. Con biết nó tuy là gái tân thời, nhưng không vượt ra khỏi vòng lễ giáo. Con gái của má đây cũng vậy mà, nên xin má cứ an tâm.

Bà Ký Tân giả bộ quắc mắt, khôi hài:

– An tâm sao được, con? Cổ lúc nào cũng lễ phép với người trưởng thượng. Nhưng má nhìn cái nút ruồi bên mép cổ biết ngay là cổ ưa eo óc móc xỏ chồng, biến chồng thành tên râu quặp, run lập cập khi vợ nguýt háy con mắt có đuôi. Đó là cái tướng gái hay ăn tạp, ăn xàm xạp tối ngày “Thịt quay nhai nguyên ký, canh bí ních hết nồi, mâm xôi xơi sạch bách”.

Bà bật cười thành tiếng và Cẩm Hương cũng cười ngất ngất. Nàng thừa biết mẹ nói vậy chớ bà đã có cảm tình với Ánh Nguyệt rồi.

Cẩm Hương cười nhìn mẹ:

– Còn con, sao không nghe má nhắc tới? Vậy khỏe quá, má khỏi lo cho đứa con gái nầy.

Bà cú đầu con, trìu mến:

– Con là đứa má lo nhiều nhứt, vì con là gái. Cậu Thiện Tố coi cũng liền lạc trai, tánh tình lại thuần hậu, có tâm địa tốt. Cậu ta có vẻ quyến luyến con lắm. Cậu ấy đang làm nghề ngổng chi, và con có nghĩ gì cho tương lai của mình không? Đừng có nói láo với má rằng con không có tình ý gì với cậu ta nghen. Có con gái lớn như hũ mắm treo đầu giàn, không biết rơi xuống lúc nào!

Rồi bà chép miệng nhìn trời xa. Cẩm Hương thương mẹ vô cùng, hai năm nay bà già đi ngó thấy. Nàng cố tình làm cho mẹ vui, nên nói:

– Bộ má thấy anh Thiện Tố có ý với con hay sao? Ồ, tại sao con không biết gì hết vậy cà? Cái anh chàng đó tối ngày quần vo, áo vận, vác lúa hụt hơi, lúc nào không vác lúa gạo thì tính toán li chi lời lỗ, thiếu thừa, đến tối tăm mày mặt. Cái mặt anh ta lại lầm lì chừ bự, thì còn thời giờ đâu mà nghĩ đến kẻ khác? Con không ham đâu. Lạy tạ Trời Phật cho hắn đừng bao giờ nghĩ đến con. Người ta mở miệng ra thì tiền hô hậu ủng, quan yêu dân chuộng. Còn anh ta mở miệng ra như cú kêu ục rúc. Nhắc đến ảnh con thấy mà phát ngán ngẩm mớ đời!

Cẩm Hương ngừng lại, cười cười liếc xéo mẹ, nũng nịu hỏi:

– Bộ má muốn gả con cho anh phu khuân vác đó hả?

Bà Tân cười nhẹ:

– Phu khuân vác thì sao? Người sang hay hèn là do hành vi của họ, chớ không phải gò bó vào bực cao, bực thấp của thân phận. Đừng vịn vào địa vị sang hèn đó mà bỏ lỡ lương duyên làm uổng phí cuộc đời! Cho nên theo má nghĩ, Thiện Tố sẽ là người chồng tốt, sẽ đem hạnh phúc cho người nào nó thật lòng thương yêu. Người ta nói đàn bà chỉ ở trong nhà lo cho con cái… Đàn bà đã có đàn ông lo mọi thứ chuyện bên ngoài… Má thì khác, nền móng hạnh phúc của gia đình là trách nhiệm chung của cả hai vợ chồng, đàn ông hay đàn bà đều phải làm việc sanh lợi như nhau. Con thấy cậu mợ Sáu con đó, mợ thì khoa bảng, còn cậu có gì đâu? Chỉ cái bằng Thành Chung mà rớt lên rớt xuống 2, 3 lần mới đậu. Nhưng cậu mợ vẫn hạnh phúc và các con đã nên người hết rồi. Nên đừng đòi hỏi quá nhiều ở đối tượng của mình. Cái thực tế và quan trọng là mình có thương yêu đối phương và đối phương có thật lòng yêu mình không?

Cẩm Hương không ngờ mẹ mình là người đàn bà tuy sống ở thôn quê mà nhìn cuộc đời có những ý nghĩ sâu sắc như vậy! Hèn gì 3 đứa con của bà đều được bà ân cần dạy dỗ, cho học hành đến nơi, đến chốn. Nàng nói:

– Nhưng có chồng khoa bảng, giàu sang, có địa vị vẫn hơn chớ má?

Má nàng gật đầu:

– Con nói đúng. Nhưng đối với người đàn bà có chồng có con thì hạnh phúc gia đình mới là vô giá con à. Con cũng biết các tràng pháo tay nào rồi cũng chấm dứt. Các giải thưởng rồi cũng sẽ đóng bụi. Các quán quân hoặc kẻ thắng cuộc rồi cũng sẽ bị quên lãng. Giàu sang, địa vị, khoa bảng nếu ở trong tay người thiếu đức hạnh thì nguy hiểm vô cùng. Thiện Tố tuy không đi làm việc ở công sở, không ngồi ở văn phòng, không có địa vị trong xã hội, nhưng cậu ta là người có học, có phong cách của người đàn ông và có tư cách ở đời. Má không ép bức con cái trong vấn đề tình cảm hôn nhân, nhưng má lấy kinh nghiệm và nhận xét của mình nói cho các con biết để các con lựa chọn người phối ngẫu cho mình. Theo trào lưu tiến hóa, và dù cho cuộc đời có nhiều đổi thay nam nữ bình quyền… Nhưng câu “Gái chính chuyên chỉ có một chồng!” vẫn là khuôn vàng thước ngọc cho đàn bà chúng ta. Cho dù gặp người chồng khư khư ôm quan niệm “Trai năm thê bảy thiếp” đi nữa, âu cũng là phần số hẩm hiu của người đàn bà, đương sự đành phải chịu chớ biết làm sao! Không lẽ “ông ăn chả, thì bà ăn nem”! Bởi vậy ông bà ta mới có câu “Phận gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu”. Thanh niên chân tình và thành thật như Thiện Tố không dễ tìm ở thời buổi nầy đâu con…

Cẩm Hương háy yêu mẹ:

– Thôi được rồi sư mẫu Ký Tân ơi, lần nầy xuống đó dạy, Cẩm Hương của sư mẫu sẽ năn nỉ Thiện Tố đi cưới cổ cho rồi…

Nói đến đó, nàng cười lớn:

– Má thật là lạ! Mẹ của người ta thường bắt con gái mình phải tìm đối tượng môn đăng hộ đối, giàu sang, có địa vị… Tệ lắm cũng phải có bằng cấp ngang hàng với con mình, còn má thì xúi con đi cưới anh nông dân đó làm chồng.

Bà Ký Tân cười ngất, bảo con.

– Như vậy có gì không tốt đâu con? Ước mơ của má cũng bự sự không thua kém ai đâu, nhưng ở đời phải biết người biết ta, đừng có trèo cao quá thì sẽ té đau. Cứ mơ mộng cao xa, rượt bắt những cái ngoài tầm tay mình thì khổ lắm. Bắt được mà không giữ được lại càng đau khổ hơn. Bởi “Càng cao danh vọng càng dầy gian nan” mà.

Nghĩ đến mẹ, Cẩm Hương cảm thấy hãnh diện và yêu kính cảm phục mẹ bội phần. Còn cha nàng, ông Ký Tân vốn thích đọc sách, nên mỗi khi có dịp ra chợ ông thường đến tiệm sách tìm mua sách báo chất đầy mấy dãy kệ trong phòng sách. Cho nên, mỗi tối rảnh rang, bà Ký Tân cũng lấy những quyển sách “Học Làm Người“, sách đề cao nhân nghĩa đạo lý con người, sách trau giồi đạo đức… ra xem để bồi bổ kiến thức. Cuốn “Gia Huấn Ca” bà đã thuộc nằm lòng. Chữ nào trong sách vở không thông suốt thì bà hỏi chồng. Một người đàn bà có trình độ chưa hết Tiểu học mà hiếu học, cầu tiến như bà, dù ở Sài Gòn hoa lệ cũng không có được bao nhiêu. Cho nên khi đàm đạo với bạn bè, khách khứa, bà tỏ ra hoạt bát, lời nói giản dị mà cận nhơn tình, ráo rẻ thế sự và tràn ngập cảm thông. Mấy nhỏ Thụy Châu, Thục An, Ái Mỹ, Ánh Nguyệt…bạn của con gái, và bạn của con trai rất kính phục bà.

Thụỵ Châu đã than thở với Cẩm Hương:

-Về chuyện tình yêu và hôn nhơn tao đâu dám tâm sự với bà già tao. Hễ tao mở miệng ra là bị mắng ngay: “Chuyện chung thân của con là để cho cha mẹ sắp đặt. Biết rằng con có ăn học, nhưng làm sao hiểu việc đời bằng ba má? Có đời nào trứng khôn hơn mén?”.

Ái Mỹ xuýt xoa:

– Mèn ơi, nếu đứa nào có tâm sự rối nùi đem bày tỏ với má chị Cẩm Hương, thì bác sẽ khuyên lơn, an ủi, giúp nhiều ý kiến vượt qua chướng ngại một cái rột.

Thục An ca ngợi:

– Ờ, bác gái là bà tiên trong cổ tích, bà thánh trong đạo Thiên Chúa, là thị nữ của Quan Thế Âm trong kinh Phổ Môn.

Ánh Nguyệt lẽo lự, bắt bẻ Thục An:

– Đức Phật Bà có nàng Long Nữ làm thị nữ, cầm bình cam lộ rồi. Phải nói bác gái là bà quản gia của Đức Phật Bà thì đúng hơn.

Tiếng tằng hắng của Thiện Tố, Cẩm Hương giựt mình lật đật ngồi bật dậy, vuốt lại mái tóc, rồi giả giọng tự nhiên:

– Anh mới về?

Thiện Tố đến ngồi trên khúc cây xoài to. Khúc cây xoài từ cây xoài bị chết nhác ở côi vườn của ba chàng, mà chàng đã nhờ chú Sáu làm vườn cắt ngang lấy đem về, rồi dùng giấy nhám chà mặt cây cho hết dăm, hết sần sùi trở nên trơn nhẵn. Chàng dùng khúc cây ấy để làm cái đôn ngồi, và được đặt nó đối diện với chiếc võng. Chàng hỏi:

– Em đang nghĩ gì mà có vẻ suy tư quá vậy? Anh về lâu rồi, nhưng không dám gây tiếng động mạnh sợ làm em tỉnh giấc mơ tiên của em! Em nghĩ gì? Có liên quan đến anh phải không? Cho anh biết với.

Cẩm Hương đong đưa chiếc võng, cười nhẹ:

– Đang nghĩ những chuyện vu vơ lúc còn trẻ. Anh biết để làm gì?

Dưới ánh trăng bàng bạc, mắt Thiện Tố sáng ngời, anh cười nửa miệng:

– Bộ bây giờ cô Cẩm Hương già lắm sao? Biết để thương yêu em nhiều hơn nữa.

Nàng không trả lời. Chàng làm thinh không nói. Không gian như ngừng lại, không gian như lắng đọng giữa hai người. Bỗng Thiện Tố đứng lên, bước tới cầm lấy tay nàng:

– Anh muốn biết Cẩm Hương có người yêu chưa? Nếu chưa thì cho anh cơ hội, và em tìm hiểu thêm về anh. Sau nầy, nếu em bằng lòng thì chúng ta sẽ tiến đến hôn nhân… Em có biết không Cẩm Hương? Thật sự lòng anh xao động khi gặp em lần đầu tiên đứng nhìn mưa dưới hiên trước nhà. Nhưng anh ngại thân phận mình không xứng với em, nên lòng dặn lòng không nên tiến thêm nữa, hãy xem em như người bạn thông thường thôi. Nhưng cho đến khi em bị ngã bịnh, anh không còn tự chủ được nữa! Đêm em mê sảng, nếu em có mệnh hệ nào, chắc anh chịu không nỗi!

Cẩm Hương bồi hồi e thẹn cúi đầu. Làn gió mát rượi thổi qua. Trời về khuya, trăng càng lên cao, ánh trăng càng trong sáng trải lên vạn vật, trải lên vùng trời quê đầy tình yêu thương.

Đêm đó Thiện Tố và Cẩm Hương ngồi chuyện vãn, kể chuyện nọ xọ chuyện kia. Mãi khi bóng trăng gác đầu lên ngọn cây dương bên xóm xa, mãi đến khi hương hoa bưởi ở khu vườn bên cạnh tỏa theo cơn gió mỏng và hơi sương mát lạnh, cả hai mới chia tay, mạnh ai về phòng người nấy.

Vào buồng, nằm lên giường rồi mà Cẩm Hương vẫn còn thao thức. Nàng vặn cao ngọn đèn dầu, lấy thư của Ánh Nguyệt ra xem lại cái đoạn:

“…Nhỏ Thục An và Ái Mỹ chủ nhật tuần rồi có dắt kép đến thăm em. Kép của Thục An là anh chàng Ấn lai (cha Ấn mẹ Việt) có dáng oai phong và râu hùm hàm én, mày ngài mắt to như Từ Hải trong truyện Kiêu. Tiếng nói anh ta sang sảng như rống, như gầm nghe ớn óc. Vậy mà bạ chuyện gì cũng nựng nịu nhỏ Thục An giữa bàng dân thiên hạ. Ai biết sau lưng người ta tụi nó hun hít ra sao, mùi mẫn tới bực nào? Quỉ ơi, người cầu hôn em mà có mặt mày dữ dằn và thái độ trống trải như vậy chắc em sợ đến chết giấc, ở đó mà cười híp mắt và có thái độ ra điều tự đắc như con quỉ cái Thục An.

Còn bồ của Ái Mỹ thì dễ nhìn hơn, người dong dỏng cao, thái độ khép kín, nhưng lời nói ngọt như đường cát, mát như đường phèn, như mứt bí, mứt dừa. Hắn ưa vuốt đuôi lươn lời nói bất cứ ai. Hèn chi lời ngọt của hắn không lọt vào tim, gan, phèo phổi, lá lách lá mía, ruột già, ruột non của con thị tì Ái Mỹ sao được?

Hai thằng kép của hai con đó nói để giới thiệu em cho em của họ, bạn của họ. Như em đã từng tâm sự với chị rằng: Trái tim dại khờ của em đã có một chàng tân học bảnh trai xâm lăng rồi. Hắn đã xây thành đắp lũy, cất chòi canh trong đó, nên em khó mà dời đổi hoặc chứa chấp anh Ba anh Bảy nào khác.

…Còn nhỏ Thụy Châu thì tức cười lắm. Nó đem thư tình của anh Thịnh ra khoe. Nhỏ nói: “Hễ viết thư nào cho tao xong, ảnh cũng ướp dầu thơm hiệu Coty tao thích cả…” Thiệt hết nói nổi, con nầy đía xạo không ai bằng mà! Nó mua dầu thơm hiệu Coty để xức hàng ngày mà. Có nghĩa là nhỏ xịt vào lá thư vài giọt dầu thơm của nó đó chị à. Con chim chèo bèo nầy ưa lộng giả thành chơn lắm… ”

—>Chương 10

This entry was posted in Dư Thị Diễm Buồn, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.