CÁC NGÔI CHỢ Ở SÀIGÒN, CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH TRƯỚC 1975 : Chợ Cầu Ông Lãnh

(TM tổng hợp và bổ túc)

5 – Chợ Cầu Ông Lãnh
– Bến Chương Dương – Đường Nguyễn Thái Học – Quận 2 – Sàigòn

Xét về mặt kinh tế, chợ Cầu Ông Lãnh là chợ quan trọng bậc nhất ở thành phố Sàigòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đây là chợ đầu mối. Tất cả hàng hoá, lúa gạo, rau cỏ, hoa quả, trái cây, gà heo, cá tôm, cây kiểng, bông hoa… từ Lục Tỉnh và miền Đông đổ về đây để bán sĩ cho các chủ vựa. Sau đó các chủ vựa này phân phối bán lại cho các chợ trong địa bàn, để sau cùng bán lẽ tới tay người tiêu thụ. Từ nhiều thế hệ, chợ này đã tạo ra hàng trăm, hàng ngàn công ăn việc làm và góp phần làm giàu có thịnh vượng sung túc cho thành phố Sàigòn nói riêng và cả miền Nam Việt Nam nói chung.

Trước khi trình bày chi tiết về chợ Cầu Ông Lãnh, tác giả bài này xin ghi lại sơ lược lịch sử và địa lý sông ngòi, kinh lạch trên các khu vực chung quanh chợ Cầu Ông Lãnh để thấy những yếu tố đã đưa ngôi chợ này lên ngôi vị Chợ của tất cả chợ trong địa phận Sàigòn, Chợ Lớn và Gia Định.

Nhà học giả Trương Vĩnh Ký trong tài liệu [3] năm 1885 đã viết :‘’ Bắc ngang kinh Bến Nghé, chạy thẳng tới Lò Heo (rạch Cầu Ông Lãnh) là một cái cầu bằng gỗ xây bởi một ông Lãnh Binh của triều đình An Nam, cư ngụ gần đó, bỏ tiền riêng ra và tốn công xây dựng. Từ đó cái tên này đã được xử dụng làm tên cho các các cơ sở khu vực chung quanh cầu’’. (Ông Lãnh Binh này tên là Nguyễn Ngọc Thăng sinh năm 1798 tại Giồng Trôm (Bến Tre), tử trận tại Gò Công năm 1866).

Theo tài liệu [39,40] : Một bài báo của Phong Vũ Trần Văn Hai (tức Khuông Việt) đoạt giải nhất cuộc thi lịch sử trên báo Tri Tân xuất bản tháng 6 – 1942 đã kể lại rằng: Năm 1874, triều đình Huế ký hiệp ước cắt đứt Nam Kỳ giao cho Pháp. Theo hiệp ước này thì chính quyền Pháp được đặt tòa lãnh sự ở Hà Nội và ngược lại, nhà Nguyễn được đặt tòa lãnh sự ở Sài Gòn, trụ sở đóng tại góc đường Đề Thám – Trần Hưng Đạo ngày nay, vị lãnh sự là ông Nguyễn Thành Ý (hiện còn tên đường ở phường ĐaKao, quận 1). Tên cầu Ông Lãnh tới từ việc thành lập tòa Lãnh sự này. Giả thuyết này không có sức thuyết phục bởi vì ngôi chợ mang tên chợ Cầu Ông Lãnh đã được lập từ năm 1874.

(Phụ đề của tác giả bài này: Hơn nữa, giả thuyết này không được chắc chắn lắm vì theo bản đồ Sàigòn năm 1867 (Plan de Saigon en 1867) dưới đây, người ta đã thấy có sự ghi chép rõ ràng ba chữ Cầu Ông Lãnh). Cách giải thích về tên cầu Ông Lãnh của học giả Trương Vĩnh Ký được nhiều người chấp nhận hơn cả.)

Bản đồ Sàigòn 1867

Theo tài liệu [18] : Hai tháng sau khi phá vở Đại đồn Kỳ Hòa (Chí Hòa) của Nguyễn Tri Phương, vào ngày 11 tháng 4 năm 1861, đô đốc Charner ban hành nghị định thiết kế quy hoạch Sàigòn – Chợ Lớn.

Phó Đô Đốc Bonard thừa hành giao cho Đại Tá công binh Coffyn thực hiện quy hoạch này. Năm sau, 1862, một chương trình mang tên Coffyn đã được đệ trình và được Bonard chấp nhận. (Chi tiết về chương trình Coffyn 1862 được trình bày trong tài liệu [19,20]).

Dựa theo bản đồ khu vực Sàigòn năm 1867, người Pháp cho đào hoặc trùng tu một số đường nước trong khu vực nhằm giải quyết vấn đề giao thông và vận chuyển hàng hoá vào Sàigòn lúc bấy gìờ. Là một phần của chương trình Coffyn 1862, rạch Cầu Ông Lãnh được đào từ rạch Bến Nghé ở một địa điểm ngày nay thuộc về Quận 2, Sàigòn.

Rạch Bến Nghé là một nhánh của sông Bến Nghé (sau gọi là sông Sài Gòn) bắt đầu từ một địa điểm sau này là nơi gặp gỡ của Bến Bạch Đằng với Bến Chương Dương, sau đó chảy về phiá Tây thì gặp rạch Lò Gốm (canal des Poteries). Rạch Bến Nghé này thời nhà Nguyễn gọi là sông Bình Dương, trong khi đó bản đồ Sàigòn 1950, ghi là Sông Cầu Ông Lãnh.

Từ thưở xưa rạch Bến Nghé là một đường nước thiên nhiên. Dọc theo rạch Bến Nghé có những hệ thống kinh tự nhiên, mà ba rạch quan trọng là rạch Ông Lớn,rạch ông Nhỏ và rạch Xóm Củi ( còn gọi là rạch Ụ Cây – Bassin aux bois). Rạch Bến Nghé và rạch Lò Gốm sau khi gặp nhau , hai dòng nước này hợp lại thành một để chảy về phía Nam ra rạch Cát, nhưng đoạn này thường cạn nước, ứ động gây trở ngại việc di chuyển của các ghe thuyền.

Nhận được tầm quan trọng trong việc vận chuyển trên đường thủy này, năm 1772, Chúa Nguyễn ra lệnh cho ông Nguyễn Cửu Đàm đào lại đoạn này từ nơi giáp nước của rạch Bến Nghé và rạch Lò Gốm chảy từ phiá Tây ( Phú Thọ, Phú Lâm xuống). Kinh được đào thẳng tắp về phía Nam nối Sa giang (rạch Cát), ông đặt tên cho kinh này là Ruột Ngựa (Mã trường Giang).

Mặt khác rạch Bến Nghé từ chổ giáp nước với rạch Ông Nhỏ (Tiểu Phong Giang) – khúc nhà thương Chợ Quán – đến kinh Ruột Ngựa – vì “chảy quanh co mà nhỏ hẹp,khuất khúc, nước cạn”, cho nên vào năm 1819, vua Gia Long hạ lịnh cho đào một con kinh mới. Phó Tổng Trấn Gia Định Thành là Huỳnh Công Lý,(cha vợ Vua Minh Mạng), được phong làm Khâm Sai, hiệp với ông Tổng Thanh Tra Gia Định, điều khiển 11.460 nhơn công khởi công ngày 23 tháng giêng, đến ngày 23 tháng tư năm Kỷ Mão (1819) là hoàn thành, đúng ba tháng. Con kinh này bắt đầu từ Cầu Đề Thông (còn gọi là Cầu Bà Thuông) chạy đến ngã tư sông Rạch Cát.Sách nói kinh dài 5.472 m (thước tây), bề ngang rộng 36m9, bề sâu được 17m28. Mỗi bên kinh có chừa một bờ đất rộng 20m50, bờ kinh ấy thông liền với đường sứ rộng 15m. Đào rồi, vua Gia Long đặt tên khúc kinh ấy là An Thông Hạ (Trịnh Hoài Đức – Gia Định thành Thông Chí,viết vào khoảng 1820 – 1822). Cầu Đề Thông (Bà Thuông) ngày xưa nằm gần làng An Bình phía Chợ Lớn và làng An Hòa bên phía Bến Bình Đông.

Người Tàu từ miền Cù lao Phố (nằm ở phía Đông – Nam của Biên Hòa, còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố) chạy về đây lập nghiệp, xây dựng cơ nghiệp dọc hai bờ kinh An Thông Hạ , ghe thuyền tấp nập thu hút dân thương hồ miền Tây, tứ xứ, tụ hợp về đây kể cả người ngoại quốc, họ gọi vùng này là Đề Ngạn (Chợ Lớn).

Dưới thời Pháp thuộc, danh hiệu Arroyo Chinois được dùng như một tên chung để chỉ rạch Bến Nghé và kinh An Thông Hạ.

Người Pháp gọi Arroyo Chinois để phản ảnh hệ thống sông rạch nơi đây có đông đảo người Tàu buôn bán, ghe thuyền tấp nập đến từ muôn phương trao đổi hàng hóa, người Tàu đóng một vai trò kinh tế quan trọng qua hệ thống giao dịch , tổ hợp thương mại và tài chính trong khu vực với người Trung Hoa (Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến…), người Âu Châu, Nhật, Thái, Ấn…Những sản phẩm thương mại chất đầy ở kho, vựa dọc hai bên kinh rạch như gạo, muối, cá khô, đường, tiêu…cũng như hàng hoá đã chế biến từ Trung Hoa, Ấn Độ , Tân Gia Ba (Singapore) …

Mặt khác,theo tài liệu [4] tên Arroyo Chinois được đặt ra vì hai lý do sau.

· Người Pháp đố kỵ danh từ Bến Nghé.

· Dọc theo rạch có nhiều nhà của người Tàu (địa đồ cũ của Pháp ghi bazar chinois).

Người Việt gọi Arroyo Chinois là kinh Tàu Hủ hay kinh Chợ Lớn hay sông Chợ Lớn. Theo học giả Trương Vĩnh Ký (viết năm 1885) và Huỳnh Tịnh Của (viết cuối thế kỷ 19) thì đoạn phố dọc hai bên kinh Chợ Lớn ( Bến Nghé) được gọi là Tàu Khậu, đó là cách người Triều Châu phát âm từ “thổ khố” (khu nhà gạch), sau trại âm thành Tàu Hủ (Tài liệu [18].

Thời Việt Nam Cộng Hòa, tên Arroyo Chinois được đổi lại thành Rạch Bến Nghé bao gồm rạch Bến Nghé nguyên thủy và kinh An Thông Hạ ,chảy từ cột cờ Thủ Ngữ ở quận 1 Sàigòn ,ngang qua quận 5 – Chợ Lớn ,cho đến giao điểm với rạch Lò Gốm ở phường Bình Tiên – quận 6 và phường Rạch Cát – quận 7. (Vào năm 2005, ngụy quyền cộng sản đã lấp đoạn đầu của rạch Bến Nghé phần tiếp giáp với sông Sài Gòn để làm đường hầm Thủ Thiêm).

Theo tài liệu [4] : Vùng Chợ Lớn thưở nay buôn bán thạnh vượng một phần lớn là nhờ kinh Tàu Hũ nầy. Đây là đường thủy vận nối liền Sài Gòn với các sông ngòi chảy xuống miệt Hậu Giang. Con đường thủy nầy tiện lợi vô cùng vì đã thâu ngắn đường ghe thuyền tránh được nguy hiểm khỏi trổ ra đường biển để vào Cửa Cần Giờ. Tàu nhỏ, ghe thương hồ, các ghe chài “ăn lúa” từ Bạc Liêu, Bãi Xàu, Sốc Trăng, kéo lên, hoặc thuyền “cá đen” Biển Hồ (Nam Vang) đổ xuống, đều noi theo kinh Tàu Hũ nầy mà “ăn hàng”, “ăn gạo”, hoặc đợi “cất lúa” lên cho các nhà “tầu khậu” và nhà máy xay Chợ Lớn, cũng như nhờ con kinh Tàu Hũ nầy để giao dịch với thương cảng và các tàu hàng buôn xuất ngoại.

Đường nước rạch Bến Nghé – kinh An Thông – rạch Lò Gốm chảy xuống kinh Ruột Ngựa rồi hợp lưu chảy về phiá Tây (về miền Tây) và miền Đông (Biên Hoà và miền Trung, Bắc) là cửa ngỏ quan trọng của thương thuyền vào Bến Nghé Sàigòn – Chợ Lớn. Kinh Ruôt Ngựa trở thành con kinh trọng yếu.

Để giảm thiểu áp lực lưu lượng vận chuyển thương mại trên kinh Ruôt Ngưa cũng như rạch Bến Nghé ,vào năm 1905 – 1906, kinh Tẽ được đào bắt đầu từ sông Sàigòn nơi cầu Tân Thuận xuống đến cầu Chữ Y. Gọi là Tẽ bới vì được xem như là một nhánh Tẽ của kinh Bến Nghé,từ sông Sài Gòn đến Chợ Quán dài khoảng 4360 thước.

Kinh Đôi (Canal de Doublement) được đào nối tiếp kinh Tẽ bắt đầu từ cầu Chử Y xuống đến sông Cần Giuộc song song với kinh Tàu Hủ để giảm bớt lưu lượng lưu thông ghe thuyền trên kinh này và đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng chuyên chở nông phẩm từ miền Tây bằng đường thủy lộ khi nền kinh tế miền Nam phồn thịnh lên,hàng hoá vào quá nhiều.

Theo tài liệu [41 ] : Kinh Tẽ và kinh Đôi được đào từ năm 1906 đến 1908 từ sông Sài Gòn đi về phía tây, ăn đến sông Rạch Cát, dài khoảng 13 km. Đoạn kinh mới này nhờ được thực hiện bằng cơ giới nên vừa rộng vừa thẳng, làm tăng thêm khả năng thông thương giữa Sài Gòn – Chợ Lớn với miền Tây.

Mặt khác,tài liệu [19 ] viết là kinh Đôi được xây vào năm 1912.

Hơn nữa,theo tài liệu [42] thì kinh Đôi được đào vào khoảng năm 1925.Người Pháp cho đào một con kinh bắt đầu từ câu chử Y đi về phía tây, chạy song song với kinh Tàu Hủ và gặp lại kinh này ở ngả ba rạch Lò Gốm, sông Rạch Cát và đầu sông Chợ Đệm. Con kinh này dài khoảng 13 cây số.

Kinh Đôi và rạch Lò Gốm là đường thủy giúp ích rất nhiều cho sự thịnh vượng hai đô thị Sàigòn và Chợ Lớn (tài liệu [4]).

Tài liệu [39] đã viết rằng : ‘’Sau khi lập chợ, người ta đào một con rạch nhỏ (rạch Cầu Ông Lãnh) từ rạch Bến Nghé vào tới chợ để ghe thuyền dễ dàng đưa hàng nông sản vào tận trong chợ, xuồng ghe dày đặc cả một khúc kênh và được chia bến như bến Mỹ Tho, bến Sóc Trăng, bến Long Xuyên’’.

Bản đồ 1893 – Vị trí rạch Bến Nghé và rạch Cầu Ông Lãnh

Theo tài liệu [18] : ‘’ Rạch Cầu Ông Lãnh có nguồn từ rạch Bến Nghé chạy quanh khu Cầu Quan – Cầu Muối – Cầu Kho, với nhiều nhánh tẽ mang tên điạ phương của những cây cầu: cầu Kho (rạch Cầu Kho), cầu Muối (rạch Cầu Muối) Cầu Quan (rạch Cầu Quan)…Rạch Cầu Ông Lãnh (vẽ màu xanh trên bản đồ 1893 dưới đây), lấn chiếm sâu vào một phần đại lộ có tên là Boulevard de l’Abattoir (đại lộ Lò Heo) và chạy xuyên ngang qua xóm Lò Heo (vì xóm nầy có một lò heo – Abattoir). Về sau, rạch Cầu Ông Lãnh bị lấp mất đi khi đại lộ Kitchener (đường Nguyễn Thái Học sau này) được hình thành vào năm 1907 để thay thế đại lộ Abattoir. Xóm Lò Heo trở thành một phần của xóm Cầu Muối sau nầy (gồm có chợ rau quả, rạp hát và đình Cầu Muối)’’.

Cũng theo tài liệu [18] : Cầu Ông Lãnh nguyên thủy ngày xưa (1867 – 1893), bằng gỗ như đã viết trong tài liệu [4], đã biến mất và được thay thế bởi một chiếc cầu xi măng cốt sắt ở cuối đại lộ Kitchener (đường Nguyễn Văn Học) bắc ngang qua kinh Bến Nghé (Tàu Hủ) mà người ta thấy ngày nay. Chiếc cầu xi măng trong ảnh dưới đây, hình chữ L ngược, ở đầu đại lộ Kitchener bắt ngang qua con kinh Bến Nghé, nối liền Bến Chương Dương – Quận 2 với Bến Vân Đồn – Quận 4 bên kia rạch. Cầu này được dân Sài Gòn – Chợ Lớn gọi là Cầu Ông Lãnh, tồn tại cho đến những năm sau 1975.

Một tài liệu khác [39] đã viết rằng: Năm 1929, rạch Cầu Ông Lãnh được lấp thành đường – nay là đường Nguyễn Thái Học để xây cầu Ông Lãnh bằng xi măng cốt thép. (Chú thích của tác giả bài này: Tài liệu nầy viết năm 1929 , rạch Cầu Ông Lãnh bị lấp để làm đường Nguyễn Nguyễn Thái Học, trong khi đó tài liệu [18] lại viết là 1907?).

Vào năm 2003, chiếc cầu hình chữ L này đã bị phá hủy và thay thế bởi một cái cầu mới khác.

Trong tài liệu [3] : Ông Trương Vĩnh Ký đã nói tới chợ Cầu Ông Lãnh nhưng không có chỉ rõ địa điểm và ngày tháng năm xây chợ này. (Chú thích của tác giả bài này: Dựa theo năm viết tài liệu này, thì người ta có thể nói là chợ Cầu Ông Lãnh phải được thành lập từ trước năm 1885).

Tài liệu [43] đã viết rằng chợ Cầu Ông Lãnh được xây vào năm 1874 ở khu vực cầu Ông Lãnh.

Hơn nữa, theo tài liệu [44] :’’ Năm 1875, chính quyền Pháp ở Sài Gòn chính thức cho phép thành lập chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối’’. Trên thực tế, hai chợ này có thể đã được gầy dựng từ trước đó.

Mặt khác, theo tài liệu [45] , Chợ Cầu Ông Lãnh nằm trên đường Nguyễn Thái Học, Quận 2, được xây cất năm 1929.

Trước năm 1975 và sau đó cho tới ngày bị giải tỏa, chợ Cầu Ông Lãnh tọa lạc ở Bến Chương Dương ngó ra Bến Chương Dương, song song với đường Cô Giang và giới hạn bởi hai đường Nguyễn Thái Học và Đề Thám. Không phải ngẫu nhiên mà những người xưa đến từ nhiều nơi khác nhau đến đây, gây dựng và thành lập ra thành phố mang tên Sàigòn ngày nay, đã chọn nơi này làm nơi họp chợ; Và cũng không phải không có lý do mà chính quyền Pháp đã ký nghị định hợp thức hóa thành lập chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối ở gần bên, và sau đó bỏ tiền của và nhân lực để mở mang khu vực này. Đây là một vị trí chiến lược vì những lý do sau đây:

· Vị trí này đã đặt chợ Cầu Ông Lãnh ở ngay trung tâm thành phố Sàigòn và sát bên tỉnh Gia Định, hàng hoá được trực tiếp phân phối tới một thị trường to lớn tập trung đông đảo nhiều người tiêu thụ.

· Vị trí này nằm ở ngã ba của giao điểm sông Sàigòn và rạch Bến Nghé, nhưng chợ Cầu Ông Lãnh lại hoàn toàn nằm trong rạch. Ghe thuyền chuyên chở hàng hoá tới chợ cập bến hay thả neo trên rạch, không tràn lan ra sông Saigòn, không đụng độ với tàu biển và làm cản trở lưu thông trên sông này:

· Chợ Cầu Ông Lãnh chỉ cách thương cảng Sàigòn tọa lạc ở Vĩnh Hội – Quận 4, vài cây số, nên dễ dàng và thuận tiện cho việc xuất nhập cảng hàng hoá.

Hình trên cho thấy chợ Cầu Ông Lãnh được kiến trúc theo kiểu chợ nhà lồng. Hàng hoá, người bản, kẻ mua có thể vào và ra chợ bằng nhiều mặt khác nhau.

Thời Pháp, Bến Nghé được chia thành nhiều bến nhỏ như bến Mỹ Tho, bến Sóc Trăng, bến Long Xuyên… những chiếc ghe thuyền từ Lục Tỉnh cặp vào các bến này dày đặc cả một khúc kênh (tài liệu [46]).

Các ghe thuyền đầy ấp nặng khẩm hàng hóa lúa gạo, thịt cá, gà vịt, trái cây, cau từ miền Tây, Hóc Môn, Bà Điểm đưa lên và rau quả, hoa tươi, cây cảnh từ miền Đông đưa về (Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Đà Lạt.) đổ xuống kho vựa bán sĩ trong khu cầu Ông Lãnh. Hàng hóa từ ghe đổ xuống kho vựa, tức thì có ghe lấy hàng đi. Chợ đầy khách thương buôn, người bỏ mối, kẻ mua sỉ về bán lại cho các chợ trong khu vực Sàigòn, Chợ Lớn và Gia Định, ngay cả nơi xa như Cần Thơ (vải vóc, thuôc vấn, thuốc lá, cau, nước ngot, rượu…). Sau này khi các đường quốc lộ liên tỉnh đã đuoc mở mang, từ khoảng năm 1956 trở đi, ngoài bằng ghe thuyền, hàng hóa về chợ được chuyên chở bằng xe vận tải, xe đò hay các loại xe cơ giới khác. Chợ họp suốt ngày đêm nhưng từ nửa đêm tới sáng là đông và nhộn nhịp nhất.

Theo tài liệu [47] : Từ khoảng năm 1947, sau khi chợ Cầu Muối hình thành, thì chợ Cầu Ông Lãnh chia thành 3 khu vực:

· Khu vực các vựa bán trái cây nằm trên bờ rạch Bến Nghé, từ chân cầu Ông Lãnh đến đầu đường Yersin.

· Khu vực bán cá (chợ cá) trên bờ rạch bến Nghé, từ đầu đường Yersin đến chân cầu Calmette. Không ít ghe chở cá đồng cũng như cá biển đưa về chợ Cầu Ông Lãnh đậu san sát ở khu vực này.

· Khu vực bán đồ khô tạp hóa gọi là Chợ Cháy, nằm đối diện với chợ trái cây.

Theo tài liệu [48] : Khu bán đồ khô tạp hóa sau khi bị một trận hoả hoạn cháy rụi, chính quyền cho xây lại một chợ riêng gần đó mang tên chợ Cháy. Vì vậy, người dân sống ở khu vực này gọi nôm na vùng đất mình đang ở là Xóm Ba Chợ: chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối, chợ Cháy.Sau này ngôi chợ Cháy bị giải tỏa chỉ còn lại hai chợ.

Theo tài liệu [42] ‘’Xóm Ba Chợ là một xóm náo nhiệt nhứt Sàigòn, vì ba cái chợ được xây cất ở đó, chợ nầy cách chợ kia lối một trăm thước. Đó là chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Cầu Muối và Chợ Cháy (bị cháy về sau, nhưng được xây lại, nhưng thiên hạ cứ che chòi để bán). Hàng hóa các tỉnh về đó ban đêm, mà hàng nhập cảng của Sài Gòn, cũng đi tỉnh từ đó, thường cũng cứ ban đêm. Nội đám phu khuân vác, đã đông đến hai ba trăm rồi, chưa kể khách buôn bán và khách ăn chơi, tất cả có trên một ngàn người “đứng đường” vào ban đêm, trong một diện tích rất là nhỏ’’.

Ngoài ra còn còn phải kể thêm một khu vực vựa mía nằm ở chân cầu Ông Lãnh, đi phía về đường Đề Thám. Những ghe chở mía về chợ Cầu Ông Lãnh đậu dài theo mé sông.

Như thế, chợ Cầu Ông Lãnh nằm trên Bến Chương Dương trải dài khoảng trên cây số từ cầu Calmette tới đường Đề Thám. Mặc dầu đã chiếm lĩnh một mặt tiền dài như thế, các hoạt đông kinh doanh buôn bán chợ Cầu Ông Lãnh còn lần chiếm tràn lan tiếp diễn nhộn nhịp ở đầu cầu bên kia – Bến Vân Đồn – Quận 4.

Tuy vậy, khu vực đường Bến Chương Dương ngay trước chợ trái cây luôn luôn đông đúc người buôn kẻ bán với những gian hàng bán ăn hàng ngày phục vu người làm việc trên ghe dưới bến, trong và ngoài chợ, các người buôn bán và khách hàng.

Theo tài liệu [4] : Ở mé sông chợ Cầu Ông Lãnh, có chùa bà Thiên Hậu có thể do người Tàu bang Phước Kiến lập ra.

Trước năm 1975, khu vực chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối có rất nhiều đình hát bội và cải lương như rạp hát Cầu Quan, rạp hát Cầu Muối và nhiều rạp hát chiếu phim xi nê như Kim Châu, Kim Đô, Rex “cũ”, Thành Xương (Diên Hồng), rạp Khu Dân Sinh…

Ngày 24 tháng 1 năm 1971, chợ Cầu Ông Lãnh bị một trận cháy lớn, thành phố Sàigòn mặc dầu đã xử dụng tất cả lực lượng cứu hỏa mà không chữa nổi, phải nhờ trực thăng Chinook khổng lồ của Mỹ đến giúp chữa lửa (tài liệu [49,50,51,52] ).

Sau năm 1975, chợ Cầu Ông Lãnh còn phải tiếp nhận những hàng bán cá ở chợ Trần Quốc Toản dời về đây (tài liệu [53] ).

Ngày 13 tháng 4 năm 1999, chợ Cầu Ông Lãnh lại bị cháy một lần nữa. Theo tài liệu [54]: Sau đêm này, ‘’chợ Cầu Ông Lãnh chỉ còn một bãi hoang tàn, đổ nát trên một diện tích khoảng 6.000m2. Cả khu nhà lồng chợ trái cây chỉ còn trơ lại những khung sắt. Những căn nhà bê tông cốt thép kiên cố dọc mặt tiền đường Bến Chương Dương cũng chỉ còn là những bức tường loang lổ, chỉ chực đổ sập bất cứ lúc nào’’.

(Chú thích của tác giả bài này: Trận hỏa hoạn năm 1971 đã là đề tài của nhiều bài viết cũng như hình ảnh đăng trên Internet từ những năm 2015 gần đây, trong khi đó, trừ vài bản tin tức đăng trên báo chính thức của ngụy quyền cộng sản, rất ít tài liệu và hình ảnh, nếu không muốn nói là rất hiếm về trận hỏa hoạn 1999. Tại sao một biến cố trọng đại lạ thường ảnh hưởng sâu xa và to tát đến đời sống người dân vùng Sàigòn, Chợ Lớn và Gia Định mà không gây được sự chú ý và tính hiếu kỳ của ai cả?).

Rất tình cờ, trận hỏa hoạn 1999 này lại xảy ra vào lúc ngụy quyền cộng sản có một kế hoạch đập bỏ cầu Ông Lãnh cũ để xây một cầu mới. Nhân cơ hội này, ngụy quyền cộng sản đã giải tỏa hoàn toàn chợ Cầu Ông Lãnh vào năm 2003.

Tính từ năm thành lập 1875 đến năm giải tỏa, chợ Cầu Ông Lãnh đã hiện hữu, kinh doanh buôn bán liên tục ở Sàigòn đã được ít nhất 128 năm.

Sau giải tỏa, nhiều nhà buôn bán cá của chợ Cầu Ông Lãnh và của chợ Trần Quốc Toản trú ngụ ở đây, dời về chợ đầu mối thủy hải sản Bình Điền (Quận 8 – Bình Chánh), một số nhỏ dời qua chợ cá Chánh Hưng (Quận 8), chợ cá Hòa Bình (Quận 5). Còn các nhà buôn bán nông sản thì dời tạm về chợ đầu mối Tân Xuân (Hóc Môn), sau đó vài năm chuyển lên chợ đầu mối mới ở Tam Bình (quận Thủ Đức).

Đoạn văn dưới đây trích từ tài liệu [39,47] cho thấy khung cảnh tàn tạ của khu Cầu Ông Lãnh sau khi chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối bị giải tỏa:

‘’Khi chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối dời đi, không chỉ các chủ vựa hay tiểu thương chia tay chốn cũ ngậm ngùi, luyến nhớ khu chợ đã gắn bó với nhiều thế hệ mà còn là nỗi khốn đốn của những người lao động phụ việc vốn trước giờ sống bám vào chợ, làm bữa sáng lo bữa chiều. Nhiều gia đình nhiều đời sống bám vào chợ. Họ là mấy trăm người bốc xếp, đẩy xe cút kít chuyển hàng trong chợ và cả ngàn người gọt củ, lặt rau, đóng hàng, dọn dẹp… phải thất nghiệp. Chỉ có một ít người theo các chủ vựa đến nơi buôn bán mới, số còn lại hầu hết phải xoay qua công việc khác, buôn bán vặt mưu sinh.Chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối tuy đã không còn hiện hữu nhưng trong ký ức của người Sài Gòn, nhất là những cư dân sống quanh vùng cầu và chợ, hình ảnh những hoạt động, mua bán rộn rịp suốt ngày đêm của ngôi chợ tuổi đời hơn trăm năm như vẫn còn thấp thoáng đâu đây. Tất cả như còn lưu luyến và tưởng niệm hai ngôi chợ nổi tiếng một thời. Một vài gian hàng rau trái lèo tèo bên lề nhánh đường rẽ từ Bến Chương Dương lên đường Nguyễn Thái Học và ngược lại, bên chân cầu là mấy mẹt hải sản cá, tôm, mắm, muối. Dưới chân cầu Ông Lãnh, vẫn còn đó những mảnh đời nghèo khó đang bươn bả kiếm sống trong đèn đêm’’.

(Phụ đề của tác giả bài này: Tỉnh bang Québec ở phía bờ biển Đại Tây Dương của xứ Canada có một con sông tên là St Laurent. Con sông này bắt nguồn từ hồ Ontario, trên đường chảy xuống Québec để ra biển ở hạ nguồn, vì lý do chảy giữa tính bang Ontario của Canada và tiểu bang New York của Mỹ, nên làm thành một biên giới tự nhiên giữa hai xứ. Dọc theo con sông này, có nhiều thành phố lớn của Canada, trong đó quan trọng bậc nhất là Toronto và Montréal. Kể từ năm 1959, hai xứ Canada và Mỹ đã dùng con sông này như một phương tiện chuyên chở bằng đường thủy, cho phép các tàu từ bên Âu Châu, Nam Mỹ và các tàu quốc nội của tỉnh bang Québec và Onrario chở hàng hoá tới các bến cảng thương mại của các thành phố và các khu kỹ nghệ của Canada và Mỹ trải dài từ hạ nguồn sông ở vịnh St Laurent lên tới vùng hồ Érié. Khi trở xuống các tàu này trở ngược lại lúa mì và các sản phẩm nông nghiệp khác cùng máy móc về Âu Châu. Kỷ nghệ chuyên chở bằng đường thủy đã cho phép trao đổi buôn bán hàng hoá lên tới hàng tỷ dollar mỗi năm, đã tạo ra công ăn việc làm cho hàng ngàn người và làm giàu có cho các thành phố dọc trên sông và hồ. Cách vận chuyển bằng tàu trên thuỷ lộ nầy cũng đã góp phần làm giảm các chất khí có tác dụng nhà kiếng, và như thế làm đỡ nóng quả địa cầu. Các xứ bên Âu Châu như Bỉ, Hòa Lan, Pháp, Đức.. người ta xử dụng các hệ thống sông và lạch để chở hàng hóa bằng tàu giữa các thành phố và các thương cáng ở gần biển. Mô hình chuyên chở bằng đường thủy này có thể áp dụng cho thủy lộ rạch Bến Nghé, kinh Tẽ và kinh Đôi. Tiếc thay, việc giải tỏa hoàn toàn chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối bởi ngụy quyền cộng sản, đã làm tàn lụi kỹ nghệ vận tải hàng hoá trên các thủy lộ này. Nay, tất cả đã đi vào dĩ vãng).

Sau trận hỏa hoạn năm 1999, thay vì giải tỏa toàn bộ chợ Cầu Ông Lãnh, ngụy quyền cộng sản cũng có thể xây dựng lại chợ Cầu Ông Lãnh và các bến cập ghe tàu của rạch Bến Nghé theo những tiêu chuẩn hiện đại thực dụng, tiện nghi và vệ sinh trong chợ cho người bán và người mua hàng, giao thông xe cộ an toàn và trật tự trên đường lộ cũng như ghe thuyền trên sông rạch chung quanh chợ. Sửa sang chỉnh trang lại chợ Cầu Ông Lãnh và rạch Cầu Ông Lãnh và luôn cả chợ Cầu Muối không những mang lại những lời nhuận kinh tế vô cùng to lớn và lâu dài cho thành phố Sàigòn và miền Nam Việt Nam mà còn là một cách bảo tồn các di tích lịch sử của thành phố này.Điều này rất khả thi bởi vì trong cùng thời điểm này, vào năm 1992 và sau đó 2006, ngụy quyền cộng sản đã sửa chữa tu bổ lại nhà lồng chợ Bình Tây. Cái chợ này chỉ cách chợ Cầu Ông Lãnh vài cây số đường. Sự khác biệt giữa hai chợ, là chợ Cầu Ông Lãnh tọa lạc trong một khu đất vàng, đất kim cương của thành phố Sàigòn. Trên đó ngụy quyền cộng sản làm giàu to một cách thật mau chóng với những chương trình và dịch vụ địa ốc mờ ám, bất hợp pháp.

Hai tài liệu [55,56] đã xác minh nhận định trên.

Theo tài liệu [56] :‘’Rồi những bãi đất trống ngày nào (do việc giải tỏa chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối), những khu nhà kho rộng mênh mông giờ cũng được thay bằng những dự án xây nhà lầu chọc trời hiện đại.

Hỏi ý kiến bất cứ cư dân và những khách viếng thăm về môi trường và văn hóa thành phố Sàigòn, thì tất cả đều có cùng nhận xét như người viết (tác giả tài liệu [56]):

· Phát triển thiếu bền vững: Quá gia trọng (surcharge,overload), ô nhiểm không khí và nước, vấn đề giải quyết chất thải đặc,giao thông tắc nghẽn, thiếu cây xanh,ngập lụt do lấp kinh rạch (Sài Gòn – Chợ Lớn là thành phố sông nước).

· Bảo tồn di sản và phát huy giá trị văn hóa lịch sử: Sự biến mất gần đây của nhiều kiến trúc, phong cảnh có giá trị văn hóa lịch sử (Bến Bình Đông, bến Chương Dương, bến Hàm Tử) qua lợi ích trước mắt chứ không đặt trên cơ sở lâu dài.

Phong cách kiến trúc, văn hóa và môi trường sinh sống của một thành phố làm nên cá tính của thành phố ấy. Đứng trên tòa nhà cao ốc ở quận 4, chỉ thấy nhà là nhà mới mọc chen chúc mà không có cây xanh nào trong toàn quận.Tác giả đã đi qua và ghi lại những gì đã thay đổi trong các năm qua và qua bài này dóng lên tiếng báo động về sự biến mất của những khu phố cổ.Những công trình kiến trúc đô thị có giá trị văn hóa được thay bằng những tòa nhà không đồng bộ, nhếch nhác ,không có đặc thù kiến trúc, hậu quả của sự thiếu hoạch định các khu phố của chính quyền địa phương.

Đặc biệt nhất là dọc theo rạch Bến Nghé, kênh Tàu Hủ trên đại lộ Đông Tây vừa xây và các đường gần đại lộ đi Chợ Lớn. Ở những nơi này,sự thay đổi đã làm các khu phố thay đổi hầu như toàn diện’’.

Tài liệu tham khảo:

3-Trương Vĩnh Ký: Souvenirs historiques sur Saigon et ses Environs – 1885.
4. Vương Hồng Sển: Sài Gòn Năm Xưa – Sống Mới – 1968.
18. Y Nguyên Mai Trần: Kể chuyện kinh cầu xưa vùng Sài Gòn Chợ Lớn trước 1975 – Phần 1 & 2.
19. Ton Nu Quynh Tran & Truong Hoang Truong: Le réseau des canaux et arroyos à Saigon – Cholon – Jusqu’à la première moitié du XX siècle : Évolution du processus d’utilisation du réseau hydraulique entre flux commerciaux et urbanisation coloniale – Center for Urban and Development Studies – Vietnam.
20. Ton Nu Quynh Tran : Les prémisses de l’urbanisation de Saigon – Empreintes du patrimoine culturel français sur l’évolution urbaine locale – Pages 59 – 68 – Faire Savoirs N° 12 – Décembre 2015.
39. Phạm Dinh – Chợ Cầu Ông Lãnh – Dấu xưa xe ngựa 26/2/2017.
40. Các cách lý giải nguồn gốc tên gọi Cầu Ông Lãnh – 07/0/2015.
41. Lê Công Lý – Lịch sử kinh rạch ở Sài Gòn – Chợ Lớn và nỗi lo úng ngập – 19/11/2018 – Trí Thức VN.
42. Bình Nguyên Lộc – Sài Gòn Xưa In Ít – Nguồn: Binhnguyenloc.com) – Di cảo – Phù Sa số 19 – 09.04.1992:
43. Thanh Ý Vân – Chuyện Ông Lãnh và 5 bà vợ nức tiếng Sàigòn – 27/09/2015.
44. Nguyễn Mỹ Khanh – Chợ Cầu Muối của tôi & Chợ Cầu Muối – Sài Gòn Xưa – Nam Kỳ Lục Tỉnh – Xưa và nay – 11 – 2013.
45. Giai thoại kỳ thú về những ngôi chợ nổi tiếng của Sài Gòn xưa.
46. Báo Mới – Chợ Cầu Ông Lãnh – Dấu xưa xe ngựa – 26/02/2017.
47. Chợ Cầu Ông Lãnh – Địa điểm mua sắm nổi tiếng ở Sài Gòn – 121/08/2015.
48. Ký ức không thể nào quên về chợ Cầu Ông Lãnh và chợ Cầu Muối – Saigonxua.org và Fanpage Saigonxua – 27 April, 2018.
49. Trang Nguyên – Nhớ về trận cháy Chợ Cầu Ông Lãnh – 04/12/2016.
50. Tận mục vụ cháy chợ Cầu Ông Lãnh ở Sài Gòn năm 1971 – Kienthucnet.vn – 1/04/2018.
51. Loạt ảnh về vụ cháy chợ Cầu Ông Lãnh năm 1971 – Dansaigon – Kiến Thức.
52. Chợ Cầu Ông Lãnh cháy lớn gần 45 năm trước – VnExpress Hình ảnh kinh hoàng về vụ cháy chợ Cầu Ông Lãnh 1971 – Việt Báo – 22/06/2015).
53. Nguyễn Thị Thanh Tùng – Chợ Trần Quốc Toản xưa – 9/12/2017.
54. Vụ Cháy Chợ Cầu Ông Lãnh: Chợ Cá, Chợ Trái Cây Ra Tro – Việt Báo – 19/04/1999.
55. Linh Lam – Giai thoại về giang hồ chợ Cầu Muối: Đế chế suy tàn, giới du đãng giải thể – Phapluatplus.
56. Nguyễn Đức Hiệp – Chợ Lớn – Lịch sử địa lý, kinh tế và văn hóa – Phần 1 – Diễn Đàn Forum.

—> Chợ Cầu Muối & Chợ Xã Tây

<— Chợ Bến Thành & Chợ Cũ

<— MỤC LỤC

This entry was posted in Bạn đọc viết, Một thời để nhớ, Tài-liệu - Biên-khảo, TM and tagged . Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s