Dư thị Diễm Buồn: MỘT GÓC TRỜI THÔN Dà(11-12)

CHƯƠNG MƯỜI MỘT

Hôm nay chủ nhật, sáng sớm hai bạn đồng nghiệp chung nhà của Cẩm Hương trọ về quê thăm gia đình. Họ bảo rằng, chiều tối, theo chuyến xe cuối họ mới trở lại, hoặc là sáng sớm ngày mai trước giờ vào lớp. Lúc sáng đi chợ về bà Tư Hiền ghé qua lấy tiền nhà của họ gởi, và cho nàng mấy trái bắp Buôn-Mê-Thuột còn nóng hổi. Bắp nầy có hột màu tím ngã nâu, ăn dẻo, bùi và ngọt. Ở miền đồng bằng chưa nhiều người trồng nên ít có thứ bắp hột tím như vậy. Bà Tư vui vẻ bảo:

– Chút nữa về, bác bảo Thiện Tố rước cháu qua ăn trưa. Không biết ai bán mà hôm qua Thiện Tố mua về mấy con tôm càng xanh vỏ ngon quá. Bác có mua giá và bún, trưa nay sẽ làm món bún tôm nướng. Cháu qua ăn nghen.

Nàng cười buồn, từ chối khéo bằng cách viện lẽ hôm nay phải ở nhà giặt và ủi áo quần, soạn bài vở chuẩn bị cho tuần tới… Nàng không bận lắm, nhưng không muốn gặp mặt Thiện Tố. Nỗi hờn ghen còn vương vấn trong lòng cô gái trẻ mới yêu và được yêu. Bà Tư Hiền ra về, cũng không vui. Cẩm Hương đưa bà ra tới đường, rồi trở vào nhà đóng cửa rào lại còn đang săm soi mấy bụi hoa hồng, mấy khóm cúc vàng nghệ, bông nở ngày tím, hoa huệ trắng thanh khiết theo làn gió thoảng đưa hương dìu dịu…

– Chị Cẩm Hương! Chị Cẩm Hương…

Nàng quay đầu nhin ra hướng người gọi. Một nam, một nữ cười tươi đứng ngoài cổng. Cô gái có vẻ ẻo lả đứng khép nép bên người con trai. Người con trai mặc áo thun cổ lật tay cụt màu trắng, trên miệng túi có thêu nhánh cúc bằng chỉ xanh. Quần sọt (short) màu cà-phê sữa bằng loại hàng xi-mi-li dầy và ngang tới nửa dùi, bày cặp giò khoẻ mạnh vạm vỡ. Trông cậu tươi như cây xoài, cây mận thấm hơi sương mát lạnh vào trời hừng đông. Còn cô thiếu nữ mặc quần lụa đen, áo bà ba bằng lụa màu hồng. Đầu đội chiếc nón lá Gò Găng. Nón nầy sản xuất ở Qui Nhơn, mặt trong ghép bằng những cọng tre nhỏ mức như cọng nhang có thêu chỉ ngũ sắc chằng chịt. Cô xinh xắn, tươi trẻ, gọn gàng trong y phục nửa Âu, nửa Á. Cẩm Hương thoáng ngạc nhiên, rồi vui mừng hiện rõ trên nét mặt, nhưng hơi e dè nhìn người thanh niên như dò hỏi:

– Ơ Thành, sao em đến đây?

– Em xuống thăm chị. Đây là Nguyệt Cúc bạn gái của em. Nguyệt Cúc, còn đây là chị Cẩm Hương một kiện tướng của gia đình, mà nhiều lần anh đã nhắc đến.

Nguyệt Cúc miệng cười tươi như hoa, lễ phép chào:

– Dạ chào chị, hôm nay em mới được gặp chị. Anh Thành cứ hay nhắc đến chị luôn.

Cẩm Hương cũng cười vui:

– Vậy sao? Thành nói xấu hay nói tốt về chị của cậu ta đây?

Đúng như trong thư Thành viết gởi cho nàng mấy tháng qua. Ba của Nguyệt Cúc dạy học ở trường Pétrus Ký, còn má cô ta dạy ở Huỳnh Khương Ninh. Cô là đứa con gái thứ hai của gia đình có 2 anh em. Anh cô đang học trường Đại học Dược khoa ở Pháp.

Nguyệt Cúc là một cô gái trẻ đẹp có thân mình cân đối, cô thường đánh quần vợt là thứ giải trí làm cường thân kiện thể. Nước da cô trắng hồng, miệng nhỏ mũm mĩm dễ thương. Mái tóc đen huyền của cô cắt ngắn. Cô nhí nhảnh, có nếp sống tự lập và cách nhìn đời tự nhiên, vô tư, nên trông cô yêu đời và như luôn mang niềm vui đến cho những người chung quanh. Cô không rụt rè, nhút nhát hoặc quá khiêm cung, thận trọng như Cẩm Hương, hoặc như những người con gái Á Đông cha mẹ còn vướng mắc ít nhiều nền gia giáo phong kiến. Bởi ngay từ nhỏ cô đã hấp thụ nền văn minh Tây phương của cha mẹ, và học trường đầm từ thuở bé. Sau khi lấy xong bằng trung học Pháp, cô chuyển qua học chương trình Anh ngữ ở Hội Truyền Giáo Tin Lành. Vì cô muốn con đường tiến thân của mình sau nay là du học ở Mỹ chớ không ở Pháp như ý định của cha mẹ. Nguyệt Cúc liếc qua người yêu:

– Dĩ nhiên là anh Thành luôn khen chị. Anh khen nhiều lắm, đôi lúc em thấy ghen tương nữa đó.

Cẩm Hương bật cười thành tiếng về lời chân thật và hết sức tự nhiên của cô gái. Cẩm Hương mời cả hai vào nhà. Ba người hàn huyên nói cười rộn rã … rất là tâm đầu ý hiệp.

Thấy Cẩm Hương cứ nhìn chiếc nón Gò Găng chăm chú, Nguyệt Cúc cười thẹn:

– Chắc chị ngạc nhiên tại sao em đội chiếc nón dành cho mấy bà sồn sồn nầy? Ở Sài Gòn em quen mặc áo đầm, xách bóp đầm che dù reng. Nhưng khi đi chơi với anh Thành, em mặc quốc phục, nên em mượn chiếc nón của bà vú em. Tuy nó nặng, thô ở mặt ngoài, diêm dúa ở mặt trong nhưng che mát đầu lắm.

Cẩm Hương dịu dàng:

– Dù sao đi nữa, khuôn mặt của Nguyệt Cúc vẫn trẻ măng, vẫn trong sáng.

Thành vui vẻ nhìn chị:

– Chị nói vậy, Nguyệt Cúc sẽ mừng hết lớn và em cảm thấy mát lòng không uổng chuyến đi nầy.

Cẩm Hương nhớ lại mẹ mình càm ràm: “Thằng Thành về nhà đòi lấy con nhỏ làm ở hãng Denis Frère nên má giận hờn không thèm nói đên tên nó nữa…”. Bà còn rủa xả: “Nó là thằng bất hiếu. Sanh nó để má sanh trứng gà, trứng vịt luộc ăn còn sướng miệng hơn…”. Má nàng không biết cô nầy thuộc gia đình gia giáo. Nhờ vào sự quen biết của ba má cô mà Thành được làm việc tại Sài Gòn. Có lẽ tại Thành không nói rõ với mẹ, nên bà cứ tưởng con mình bị mấy con me Tây trá hình dụ dỗ. Chớ bà đâu có ngờ thật ra con dâu tương lai rất tương xứng với con trai bà. Theo Cẩm Hương nhận xét, có lẽ sau nầy cô ta còn trội hơn Thành là khác, Cẩm Hương bảo Thành:

– Em có đưa Nguyệt Cúc về thăm ba má chưa?

Thay vì Thành trả lời chị, nhưng Nguyệt Cúc cười lớn nhanh miệng:

– Anh Thành có rủ em đi thăm ba má ảnh mấy lần, nhưng em ngại không dám đi.

Cẩm Hương cười chúm chím:

– Tại sao em ngại?

Nguyệt Cúc phụng phịu:

– Tại em làm việc chi ảnh cũng rầy. Ảnh bảo phải làm như vầy, phải làm thế kia, nếu không làm như vậy thì sai rồi… Và sau cùng lúc nào ảnh cũng nói: “Má anh khó tánh lắm, còn ba anh thì dữ nữa. Em mà là anh thì em sẽ bị đòn nứt mông rồi”.

Cẩm Hương mắc tức cười, đánh vào vai Thành:

– Cái thằng nầy, sao em hù cổ chi vậy? Nguyệt Cúc đã bị nó gạt rồi. Đừng có nghe nó nói bậy. Nếu bà già gặp em sẽ thương mến em liền. Hãy sắp xếp, hôm nào em theo Thành cùng chị về thăm ông bà già nghen. Đừng ngại, có chị mà, Thành không dám ăn hiếp em đâu.

Nguyệt Cúc liếc Thành như hỏi ý, cậu ta cười nheo mắt với người yêu. Nàng trả lời Cẩm Hương bằng cái gật đầu và khẽ “dạ”.

Hôm đó Cẩm Hương dắt đãi em và bạn gái em mình chầu cơm trưa ở quán ăn nơi cầu đúc bắc qua đường đi vào chợ dù biết rằng đàn bà con gái con nhà đàng hoàng ít ai ăn chợ, ăn quán như vậy. Tuy nhiên Nguyệt Cúc có cách sống tự do, và Cẩm Hương cũng là người cởi mở. Họ không nghĩ nhiều đến những chuyện ràng buộc bởi tiểu tiết thường tình đó. Vả lại, nàng cũng không phải đi một mình mà còn có em trai và Nguyệt Cúc nữa mà.

Thật ra, Nguyệt Cúc có cái tên trong khai sanh là Marguerite Lý Hoàng. Lý Hoàng là tên của cha cô. Khi vào dân Tây, ông thêm vào tên Henri vào tên mình. Anh của cô tên là Marcel Lý Hoàng.

Từ khi yêu Thành, Marguerite liền lấy tên Nguyệt Cúc cho vừa lòng chàng. Hoa marguerite là loại hoa cúc xòe cánh hình tròn như mặt trăng rằm. Nguyệt Cúc là tên dịch từ tên hoa marguerite. Cô ta bảo với người yêu “Nếu được qua Huê Kỳ du học, em sẽ đổi tên là Daisy. Đó là tên mà người Mỹ dịch từ tên hoa marguerite vậy”.

Quán Phú Hưng chứa khoảng 8 cái bàn vuông, mỗi bàn có 4 cái ghế đẩu, chia mỗi bên 2 cái. Trên bàn ở góc trong có chai nước tương nhỏ, keo ớt ngâm giấm, hũ tiêu cà, hũ muối và ống sành đựng chừng mười đôi đũa. Bên trong là quầy tính tiền và nào là thùng đựng thuốc gói, thuốc lá, hộp quẹt diêm để bán cho khách hàng khi họ cần. Quán trưa nay ít người, ông chủ quán đang ngồi nhổ râu, suy gẫm chuyện đời. Thấy khách vào, ông xăng xái đi ra, lanh lợi, niềm nở chào mời:

– Chào cô giáo! Chào thầy, chào cô.

Họ chào lại. Cẩm Hương hỏi:

– Dạ chào chú, em Hưng dạo nầy học hành thế nào, có thường về không chú?

Ông chủ quán vui vẻ trả lời:

– Dạ, Hưng học cũng được hạng trung bình. Chiều thứ sáu nào nó cũng về và sáng sớm thứ hai thì trở xuống dưới. Tội nghiệp, từ nhỏ đến lớn nó không có xa nhà. Bây giờ đi học xa nên nó nhớ nhà và nhớ em út lắm. Hôm nay, cô giáo và quý thầy cô muốn dùng món chi?

Cẩm Hương quay lại bảo với em mình:

– Ở đây nổi tiếng nem ngon. Người ta thường nói đến Cai Lậy mà chưa ăn nem thì coi như chưa đến Cai Lậy. Vậy hai em thử món ngon vùng nầy nghen. Sao Nguyệt Cúc, có thích ăn nem không?

Cô gái nhoẻn miệng cười như hoa hàm tiếu:

– Anh Thành ăn món gì thì em ăn món đó.

Cẩm Hương có vẻ hài lòng về cô em dâu tương lai nầy. Thành cười ha hả, cười chảy nước mắt. Nguyệt Cúc háy và lòn tay xuống bàn nhéo Thành có ý bảo chàng im. Thành vừa cười vừa nói:

– Nguyệt Cúc, em biết ngoan ngoãn từ hồi nào vậy? Đi chơi với anh có lúc nào em chiều ý anh đâu? Nhứt là về ăn uống, bao giờ em cũng kén chọn kỹ và khó khăn lắm. Sao hôm nay bỗng dưng em ngoan hiền quá vậy?

Nguyệt Cúc liếc xéo Thành, tự nhiên nói:

– Tại đi với anh, chỉ có hai đứa mình nên em phải bắt anh chiều cho vui! Còn bây giờ có chị Cẩm Hương. Em nể chị nên không dám sách nhiễu đó chớ bộ!

Cẩm Hương cười, gọi một dĩa nem chua và một dĩa nem nướng. Nàng hỏi hai em:

– Hai dĩa nem nầy ăn khai vị. Hai đứa muốn ăn gì thì gọi thêm? Bún nem chua, hay bún nem nướng? Ngoài ra tiệm nầy còn có hủ tíu bột-mút nấu với sườn heo non có tôm và mực, bún nước lèo, bánh xèo, cơm tấm với bì, sườn nướng, tôm, chả… Món nào cũng ngon lắm.

Người chạy bàn vừa bưng lên những thức ăn đặt xuống. Không ai bảo ai, cả ba chị em mở mắt thao láo nhìn dĩa nem đã lột hết lớp lá chuối gói. Từng miếng nem mỏng trong vắt, lớn bằng ngón chân cái đều đặn nằm trong những chiếc lá vông non gói nem heo héo, xanh mướt. Màu nem hường tái của màu thịt nạc tươi đã trở chua, có vân trắng của bì heo lẫn lộn. Trên mỗi chiếc nem có một miếng tỏi chua trắng ngà kèm theo miếng ớt sừng trâu đỏ ngâm giấm. Dĩa kia, ghim trong những cây tre non nhọn đầu, mỗi cây chừng năm viên nem vò tròn lớn hơn viên đạn bắn cu-li của trẻ con đã nướng vàng óng. Mùi thơm theo hơi khói nghi ngút bốc lên. Đó là món nem nướng. Cả hai dĩa nem nằm cạnh chén nước mắm chua ngọt đỏ màu tương ớt, điểm dưa kiệu xắt mỏng, cùng củ cải đỏ, củ cái trắng, dưa gừng xắt chỉ. Một dĩa rau sống vun chùn, lẫn lộn nhiều loại như là húng cây, húng nhủi, rau răm, dấp cá, lá quế, ngò om, ngò gai, ngò rí tươi xanh, cùng những lá cải xà-lách lớn bản, màu xanh non nhẫn nằm hơn hớn.

Cả ba, ăn uống no nê, nói chuyện tự nhiên vui vẻ cởi mở. Trong khi đó ở bàn bên trong của quán có cặp vợ chông trẻ cùng ba đứa con nhỏ đang ngồi ăn hủ tíu. Nhưng đôi mắt người của người đàn bà luôn hướng về bàn của Cẩm Hương và chốc chốc lại ngước nhìn nàng như theo dõi.

Thành nhanh chân lại quầy hàng trả tiền, Cẩm Hương miệng còn đang ăn ngồm ngoàm không kịp cản em, đưa tay khoát khoát ra dấu để nàng trả. Nguyệt Cúc cười khúc khích:

– Để anh Thành trả tiền. Ảnh vừa mới lãnh lương hôm qua đó chị. Ảnh không bao chị em mình thì ảnh cũng tiêu vào các chuyện khác hoặc là đãi bạn bè hết.

Cẩm Hương cười:

– Trong hai người em trai của chị, Thành là đứa hào phóng nhứt. Em phải kềm chế nó mới được. Hứa với chị, lần sau chúng ta về thăm ông bà già chị nghen. Má ba chị có thành kiến trong việc đàn bà con gái đi làm sở của ngoại quốc, nhứt là sở của Tây. Nghe Thành nói em làm cho hãng Denis Frères, má ba chị cứ tưởng em như phần đông những cô gái phóng túng đi làm hãng ngoại quốc khác. Nhưng chị chắc chắn rằng, khi ổng bả gặp được em họ sẽ có cách nhìn khác và họ sẽ thương mến em…

Thành nhìn người yêu cười có vẻ tinh ranh. Chàng chẫm rãi nói:

– Ba má có thành kiến cũng không sai. Hãng ngoại quốc có người vầy, người khác. Những người làm việc giấy tờ, những người coi về dọn dẹp. Có cô nhí nhảnh, hết cặp bồ thì đú đỡn với nhân viên người Pháp, người Chà và xuất thân từ tỉnh Pondicherry bên Ấn Độ. Còn Nguyệt Cúc giữ chức phụ tá quản lý của hãng, có văn phòng riêng biệt. Bạn gái thân của cổ là con ông phụ tá Giám đốc, nên ban Giám đốc coi cổ như con cháu trong nhà.

Cẩm Hương bảo:

– Nguyệt Cúc có cốt cách tao nhã, có phong độ trí thức, có dáng dấp cao sang. Trông người thì biết nguồn gốc, tánh tình của Nguyệt Cúc rồi.

Nguyệt Cúc xúc động nhìn Cẩm Hương biết ơn. Thành vừa bỏ tiền thối vào túi quần, trở về chỗ mình ngồi xuống ghế, lấy cây tăm, che miệng xỉa răng. Chàng cười hỏi.

– Hai kẻ hạ thần không chán sống kia, thì thầm nói lén trẫm gì đó? Bộ không sợ đao phủ quân sao?

Nguyệt Cúc cười hí hí, rồi giả nghiêm mặt nói:

– Tâu bệ hạ, thần thiếp nói bệ hạ là ông vua xạo!

Cẩm Hương chêm vào;

– Như bổn Quận Chúa đây, được sự thương mến của Thượng hoàng và Thái hậu, khuyên ngài nên chừa cái tánh xạo khó thương dễ ghét đó đi. Nếu không thì sẽ bị giáng chức, và làm kiếp lưu đày ngoài biên ải đó bệ hạ…

Cả ba cười như vỡ chợ! Cẩm Hương sực nhớ giựt mình, len lén liếc chung quanh xem có ai nhìn không? Vì nàng quên đi ở đây là Cai Lậy Quốc! Đàn bà con gái ngồi ăn hàng ăn quán đã một việc khó coi rồi, lại còn nói rôn rổn, cười inh ỏi nữa. Lạng quạng có người xấu miệng tiếng ra tiếng vào, đồn đãi sai sự thật cũng phiền lắm! Nhưng rồi, nàng tự trấn an. Thây kệ, tới đâu thì tới!

Lúc tiễn hai cô cậu lên xe trở về Sài Gòn, Cẩm Hương đưa cho em mình một giỏ xách hơi nặng. Nàng gởi về tặng cho ba má Nguyệt Cúc ba chục nem chua, một chục xoài cát đen đầu mùa.

Nguyệt Cúc siết chặt tay Cẩm Hương:

– Đáng lẽ em tìm gặp chị sớm hơn. Chị biết không? Anh Thành cứ khoe với em chị đẹp, hiền hậu, dễ cảm thông. Ảnh còn khoe chị Ánh Nguyệt, bạn thân của chị đang gây xao xuyến trong tim anh Tuấn. Em ước mong cả 3 sẽ có ngày gặp nhau.

Cẩm Hương ngạc nhiên:

– Tuấn và Ánh Nguyệt chưa đi tới đâu. Tuấn nhút nhát chưa dám tỏ tình với Ánh Nguyệt.

Nguyệt Cúc bảo:

– Nhưng ảnh cứ nhắc chị Ánh Nguyệt với tụi em luôn. Hổm rày ảnh còn coi sách báo để có thể viết bức thư tỏ tình cho chị Ánh Nguyệt thiệt mùi nữa đó.

o O o

Lớp Cẩm Hương dạy đầu năm được 20 học trò nữ, và 30 nam. Nam nữ học trò nàng có đứa đã 15, 16 tuổi rồi. Lâu lâu mấy đứa học trò gái vừa tới tuổi dậy thì được cha, hay mẹ đến xin phép nghỉ học để sửa soạn việc hỏi cưới. Có đứa vắng mặt lâu ngày, sau đó hỏi ra mới biết nó đã có chồng hay có vợ rồi. Đa số phụ huynh học sinh ở đây cốt cho con đi học để biết đọc, biết viết rồi về làm ruộng rẫy hoặc buôn bán hơn là quyết tâm cho con ăn học đến nới đến chốn….

Học trò của Cẩm Hương gần cuối năm chỉ còn 2/3. Ngày hôm qua thứ hai, đi học được 30 trò, hôm nay còn có 18 trò. Nàng lấy làm lạ hỏi, nhưng không đứa nào biết tại sao? Đến giờ ra chơi vào, chú Bảy cai trường xuống chuyển lời bà Đương dạy nữ công cũng là coi về đời sống nhân viên mời nàng lên văn phòng.

Cẩm Hương viết đề bài “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ người đào giếng” cho học sinh làm luận văn, rồi đi lên văn phòng.

Bà Đương có vóc người mập mạp khoảng ngoài 40 tuổi, tóc hoa râm. Chồng bà là thầy Tán dạy lớp ba cũng ở trường nầy. Bà có 8 đứa con lăn măn. Đứa con trai lớn của bà đang học năm thứ hai trường Le Myre de Vilers dưới Mỹ Tho. Trong trường bà nổi tiếng khó khăn. Học trò thấy bóng dáng bà ở xa, là chúng quẹo nẻo khác để né. Vì gặp bà nếu nam sinh thì bả sẽ bảo: “Tóc em dài cần đi hớt. Sao quần áo lem luốc, dơ bẩn vậy? Móng tay em quá dài cần phải đi cắt…” Nếu gặp nữ sinh thì bả luôn chì chiết: “Con gái phải đằm thắm, nết na, làm gì mà la hét om sòm? Tóc em nên kẹp vén vang lên, đừng để xù xụ như tóc con ma đội mồ. Em giỡn hớt cách chi mà tóc tai bù xù, quần áo xốc xếch như mụ điên?…”.

Cẩm Hương vừa bước vô văn phòng chào bà. Bà vui vẻ chào lại mời nàng ngồi ghế đối diện với bà. Bà hỏi Cẩm Hương vài ba câu chuyện xã giao bâng quơ rồi kéo học tủ lấy bức thơ đưa cho Cẩm Hương, nghiêm khắc bảo:

– Cai Lậy tuy là chợ quận nhưng nhỏ lắm. Người lạ mặt mới đến đầu chợ thì 15 phút sau, là cuối chợ biết hết … Đây, thư của phụ huynh học sinh gởi cho trường. Cô hãy đem về xem rồi mai cho chúng tôi biết ý kiến.

Cẩm Hương chưng hửng, nhưng cầm lấy thơ chào bà, rồi bước ra đi về lớp. Lớp học vẫn yên lặng, chỉ nghe tiếng rào rào của ngòi viết trên giấy. Vì học trò đang làm bài, nàng ngồi vào bàn, lấy thư ra xem. Trong thư có những câu rào trước đón sau, và tỏ ý là mình đại diện cho một số phụ huynh học sinh trong quận lên tiếng:

“Cai Lậy, ngày… tháng… năm

Kính thưa ông Đốc học,

Gần đây một số nữ giáo chức trẻ, theo thói Tây Đầm có những hành vi không tốt như uống rượu, ăn hàng ăn quán, cười nói giỡn hớt lả lơi với đàn ông… Những sự kiện nầy chúng tôi nghĩ rằng sẽ gây ảnh hưởng không tốt cho các con em vô tư, hiền lành của chúng ta trong quận lỵ… “

Cẩm Hương tức muốn rêm cả ngực. Rõ ràng là đặt điều, thêm thắt câu chuyện để nói xấu nàng. Không dằn được, nàng xách lá thơ trở lên văn phòng. Nếu để đến ngày mai, thì đêm nay nàng sẽ thức trắng năm canh!

Lần trở lại nầy có cả ông Đốc học Tý đi họp mới về. Ông Tý ngồi giữa, bà Đương và Cẩm Hương ngồi đối diện nhau. Nàng trình bày hết mọi việc về cậu em trai và bạn đến thăm nàng hôm chủ nhật. Không dằn được, nàng tức tối:

– Thưa ông Đốc học, tôi thiết nghĩ, những lúc dạy, tôi không làm gì phạm nội qui của trường, còn ngoài giờ dạy và ở bên ngoài đó là đời tư cá nhân của tôi. Sao ở đây lại có những người ăn không ngồi rồi thò vò vào chuyện người khác vô duyên như vậy? Còn thêm bớt để đặt điều nữa. Thật là xấu miệng độc mồm không sợ mắc khẩu nghiệp!

Ồng Đốc Tý cười hiền lành, khuyên:

– Thôi bỏ đi cô, chuyện cũng không có gì nghiêm trọng. Hôm nào họp phụ huynh học sinh tôi sẽ nói khéo với họ. Nhưng cô cũng phải để ý, người dân ở đây rất nghiêm khắc về vấn đề nam nữ… Chuyện vừa xảy đến cho cô đó, có nhằm gì đâu, nhưng nó cũng làm cho cô bực mình lắm. Cho nên tốt nhứt tránh là hơn, “Nhập giang tùv khúc, nhập gia tùy tục “ mà cô.

Cẩm Hương cảm ơn ông rồi trở về lớp. Cả buổi đó, nàng chẳng còn tâm trí nào mà dạy học. Và nàng cảm thấy ghét cay ghét đắng tất cả những ai ở quanh nàng!

o O o

Sau khi về thăm ba má, Cẩm Hương trở xuống nhà trọ. Xe đến Ngã Ba Trung Lương thường thì dừng lại không lâu, chừng 30 đến 40 phút thôi, để cho hành khách lên xuống cùng đưa hàng hóa lên xe. Người ta gọi là Ngã Ba Trung Lương, có lẽ là ở đây có 3 ngã. Đó là ngã đi vô Mỹ Tho, ngã đi Sài Gòn, và ngã về Mỹ Thuận. Nơi nầy có nhiều hàng quán bán thức ăn cho hành khách lỡ đường trễ bữa. Nhiều sạp bán các loại chuối ép phơi khô, các loại kẹo chuối, bánh tráng ngọt trộn sữa, bánh phồng khoai nước cốt dừa. Có nhiều người bán dạo theo xe rao hàng lanh lảnh, người mua gọi ơi ới… hợp thành âm thanh đặc biệt, trong một cảnh sinh động náo nhiệt. Thường trong những chuyến đi hoặc về nầy, Cẩm Hương hay mua kẹo chuối. Loại chuối ép phơi khô xắt ra ngào với đường thẻ, hoặc đường tán cho keo lại, rồi trộn với đậu phộng và dừa rám xắt mỏng. Họ trải bằng mặt để nguội cắt ra từng cục vuông vừa miếng ăn, gói lại bằng giấy kiếng trong suốt, vào từng bịch nhỏ bán cho hành khách. Ba má nàng rất thích ăn kẹo chuối, uống với nước trà. Nàng cũng thích kẹo nầy, mỗi lần nhai kẹo thì lẫn lộn mùi chuối hòa với đường. Kẹo chuối vừa ngọt, vừa dẻo, đậu phộng vừa dòn vừa béo như dừa. Uống với nước trà Xiểu Chủng nóng, thật là tuyệt.

Một thiếu nữ vừa bước lên xe, có lẽ cô ta hơn nàng đôi ba tuổi. Dáng vóc coi khỏe mạnh, nước da trắng, tóc dài được kẹp gọn, miệng cười má lúm đồng tiền rất xinh. Cô ta mặc áo dài the bông nhung ép màu lá mạ, quần xá xị đen, cổ quấn khăn the trong suốt màu hồng thắm. Cô ta không son phấn, chỉ tỉa gọn cặp chân mày. Về nữ trang cô đeo bông vàng, giây chuyền mặt ông Phật cũng bằng vàng, và chiếc vòng tay mã não màu nâu đỏ. Cô không đẹp, nhưng mặn mòi, coi thiệt dễ mến, nhứt là khi cô cười ngỏn ngoẻn phơi chiếc răng khểnh bên mép trái, và đôi lúm đồng tiền xoáy sâu dưới gò má gần mép miệng.

Thấy cô nhìn dáo dác tìm chỗ ngồi, Cẩm Hương xích vào gần cửa sổ xe. Cô gái ngồi xuống tỏ lời cảm on bằng giọng trong ấm. Cẩm Hương lí nhí trong miệng “Không có chi”, rồi nhắm mắt lại giả bộ ngủ. Cô gái không ngồi yên, nhích qua, nhích lại, chồm tới, thụt lui. Xe bắt đầu lăn bánh. Cô ta biết Cẩm Hương còn thức nên gợi chuyện:

– Cô đi về đâu vậy?

– Dạ, tôi về Cai Lậy.

Cô ta cười cởi mở:

– Vậy là mình đi chung đường và xuống cùng bến. Tôi cũng về Cai Lậy. Hình như cô không phải người ở đó? Vì tôi ở Cai Lậy từ nhỏ mà chưa bao giờ gặp cô? Cô ở nơi khác, đến làm việc ở Cai Lậy hả?

Có người đồng hành nói chuyện cũng đỡ buồn, nên Cẩm Hương vui vẻ trả lời:

– Dạ, tôi cũng chỉ mới về làm việc ở đó thôi, và cũng ít hay đi đâu.

Cô ta cởi mở kể chuyện Cai Lậy, kể chuyện làm ăn.. .Và cô ta thành thật:

– Tôi ở gần máy chà lúa. Cô biết máy chà đó chớ? Nhà tôi mái ngói vách gạch, có hàng rào đá lớn trước nhà.

Cẩm Hương gật đầu, nhớ là mình có lần đi cúng miễu với bà Tư Hiền, trên đường về ghé qua đó và được Thiện Tố đãi nước mía. Cô gái tự nhiên mở giỏ, lấy chiếc bánh ú ra ăn. Ăn xong, cô ta lấy khăn tay chùi miệng, rồi mở bóp đầm lấy ra tấm kiếng tròn để trong lòng bàn tay săm soi cái mặt. Xong, cô mò lấy bịch nhỏ kẹo dừa mở ra mời Cẩm Hương, Cẩm Hương nhã nhặn từ chối. Cô gái lấy một cục, giở giấy gói, để vào miệng nhai ngon lành. Cục kẹo vừa hết thì cô lôi ra bao xí muội lấy một trái ngậm rồi, bảo Cẩm Hương:

– Cô biết không? Dượng rể tôi là ông bang Phước Kiếng có cái chành lúa gần máy chà gạo của ông Hai Cung. Dì tôi muốn làm mai tôi cho anh tài phú người Tàu lai coi trẻ trung và cũng lành trai lắm. Tuy tôi cũng biết lấy chồng Chệt khỏi phải làm dâu, được ăn thịt hà rầm. Nhưng lấy chồng Tàu tối ngày cứ nghe nó làm chuyện làm ăn buôn bán xí xô xí xào hoài thì chán eo chán óc! Tôi thích lấy chồng Việt hơn để còn được nghe nói những câu mặn mòi tình tứ, mà dễ cảm thông với nhau hơn. Mặc dù tôi ưa ăn hầm dĩ hơn mắm, nhưng lấy chồng Chệt thì không được đâu.

Cẩm Hương cảm thấy mình mến cô bạn đồng hành trên chuyến xe nay. Cô cởi mở, hồn nhiên. Gần cái miệng, bên mép trái bờ môi cô có nốt ruồi tròn. Thứ gái nay ăn hàng xàm xạp tối ngày, ăn hàng không để cái miệng kéo da non, ăn hoài không ngán, ăn suốt tháng tròn năm… Cô ta tiếp:

– Cô đi qua nhà máy chừng một đổi thì nhà ông nội tôi, tôi sống với ông bà từ lúc nhỏ. Còn ba má và các em tôi ở gần trong Vườn Đào. Hôm nào mời cô vô nhà tôi chơi. Tôi tên là Ngọc Huệ. Còn cô tên gì? Cô làm gì ở quận nhỏ bé nầy vậy?

Ngọc Huệ nói đến đó thì xe đến bến. Mọi người nhanh chân xuống xe, cô ta cũng vậy. Cẩm Hương không gấp gáp gì, đợi mọi người xuống xe hết rồi nàng mới thủng thỉnh đi xuống. Trước khi được xe kéo đi, Ngọc Huệ còn nói lớn: “Nhớ hôm nào vô nhà tôi chơi nghen, đến máy chà cô hỏi nhà ông Cả Bảy thì ai cũng biết…”, Cẩm Hương đưa tay chào cô ta. Nàng quãy túi nãi trên vai, vừa đi vừa lẩm bẩm: “Người dân ở miền quê chân thành và hiếu khách”.

Chiều nay, trên đường dạy học về, Cẩm Hương lơn tơn đi với ba đứa học trò. Thu Lan và Ngọc Hà tranh nhau kể cho nàng nghe về mùa nước nổi bắt tôm trứng. Còn Vĩnh Hà là người gốc Huế thuộc dòng dõi vua chúa có cái tước hiệu quý tộc Nguyễn Phúc, thuộc thế hệ Công tằng Tôn nữ. Em điềm đạm, ít nói là trưởng nữ của ông bà Nguyễn Phúc Ưng Bằng về làm ở quận nầy trước nàng mấy tháng. Em lắng tai, chăm chú nghe hai bạn và mỉm cười nhiều hơn nói.

Mỗi tuần, cứ vào ngày thứ sáu, trước 45 phút tan trường, học trò lớp Cẩm Hương dạy phải ra sân cho huấn luyện viên môn thể dục hướng dẫn. Nên hôm nay các em về hơi trễ.

Khi Cẩm Hương cùng lũ học trò ra về thì mặt trời đã ngã khỏi rặng cây bên kia sông. Ánh sáng túa nhiều màu: xanh, đỏ, tím, vàng… phản chiếu nhau làm cả một vùng trời màu sắc thắm tươi rực rỡ. Gió chiều mát rượi lùa các cành lá cây ăn trái trồng hai bên đường va chạm nhau rào rào. Trên không trung, lác đác đám cò, vạc lẫn chim én chập chờn đôi cánh. Và trên nóc nhà nhà đã quyện tỏa làn khói nấu cơm chiều. Dưới dòng rạch, cặp ngỗng trắng đuổi rược nhau kêu cò két, cò két…

– Cô ơi! Cô ơi… Mừng quá hôm nay được gặp lại cô!

Cẩm Hương quay lại. Thì ra Ngọc Huệ, cô thiếu nữ nàng gặp và quen trên chuyến xe đò mấy tuần trước. Và còn có bà chị thân mến của Thiện Tố đi chung với cô nữa.

Cẩm Hương cũng vui vẻ:

– Chào chị Ngọc Huệ. Chị vẫn khỏe chớ? Chị đi chợ hả?

Tay xách mấy gói thuốc Bắc lủng lẳng đưa lên, Huệ nói:

– Không, tôi đi hốt thuốc cho ông nội tôi. Hổm rày ông bị ể mình. Còn đây là chị Kiều Lan con ông chủ nhà máy Phú Hưng ở bên kia sông đối diện nhà tôi. Chị Kiều Lan, còn đây là chị bạn tôi mới quen trên chuyến xe đò hôm tháng trước. À chị tên gì cà? Đến nay tôi vẫn chưa biết tên?

Ba đứa học trò cúi đầu chào khách rồi rù rì với nhau, sau đó đến gần Cẩm Hương “Thưa cô em vê, chào cô em về.. .chào cô em về”.

Ngọc Huệ cười để lộ hàm răng trắng đều. Nàng lanh miệng:

– Thì ra cô là cô giáo? Cô giáo tên gì đây?

Cẩm Hương nhỏ nhẹ:

– Thưa chị, tôi tên Cẩm Hương. Chị gọi tôi là Cẩm Hương được rồi.

Kiều Lan mở to đôi mắt xếch ngược, ngời sáng nhìn nàng. Chị ta làm mặt lạ làm mặt lạ cho Ngọc Huệ biết như chưa bao giờ gặp Cẩm Hương. Chị hỏi:

– Phải cô ở nhà trọ bên nhà dì Tư Hiền không?

Cẩm Hương nghĩ không biết mụ ta sắp dở trò gì đây? Nàng bảo:

– Dạ thưa phải.

Kiều Lan cười khẩy, hất mặt lên nhả nọc:

– Huệ à, em coi cô giáo đây đẹp khuynh quốc khuynh thành không? Đã vậy cổ theo cách Tây đầm giao thiệp với bạn trai rất là… hào sảng. Thuở Cai Lậy Quốc chưa có cô giáo nầy thì em là hoa khôi. Bây giờ em phải chịu làm á hậu rồi. Em có tức cho tới á khẩu không?

Ngọc Huệ vẫn hồn nhiên:

– Cô giáo tuy không đẹp theo kiểu hoa hậu, nhưng lại đẹp thùy mị đoan trang. Vậy cũng đủ làm cho mấy bà già trầu trong vùng mình hăng hái cầm trầu cau đi cưới cho con cháu họ rồi.

Kiều Lan nói:

– Hèn nào dì Tư Hiền, vợ bé của ba chị muốn đi hỏi cổ cho thằng em trai khác mẹ của chị đó đa.

Bỗng Kiều Lan hất hàm quay qua hỏi:

– Nè cô giáo, thằng em tui có cho cô biết lòi hứa hôn của ông Cả Bảy với ông nội tui chưa?

Cẩm Hương làm sao quên được Kiều Liên xon xỏn chửi, và còn hăm he Thiện Tố nữa. Người đời thường nói: “Khôn cho người ta vái, dại cho người ta thương. Đừng dở dở ương ương chúng ghét” Bà chị nầy và cô em đó, xem bộ tánh tình không khác nhau chi mấy! Cô Kiều Lan nếu mặt không cau có, đôi mắt cô nếu không có cái nhìn nung nấu dữ tợn, nếu cặp môi quạu quọ của cô nở nụ cười thoải mái thì nhan sắc cô cũng trên trung bình. Cũng như cô em Kiều Liên tánh tình giống chị. Cô chị Kiều Lan nầy đã dữ tợn lồ lộ mà còn có vẻ ác ngầm nữa.

Cẩm Hương ấp úng trong miệng chưa biết nói gì, chỉ gật đầu. Kiều Lan đanh đá, bồi tiếp:

– Thằng em một cha khác mẹ với tôi vô phước có bà má đi giựt chồng người ta. Còn nó bây giờ lại học thói bỏ mồi bắt bóng, phụ khó tham giàu, làm trò lường gạt phản bội. Thật là mẹ nào con nấy, cả một phường không ra gì, cá mè cùng lứa mà!

Cẩm Hương vô cùng khó chịu trước thái độ trịch thượng, bất lịch sự của Kiều Lan. Nàng nghiêm giọng:

– Xin lỗi chị, chúng ta chỉ quen thôi, tôi chưa biết gì về chị và chị cũng không biết gì về tôi. Cho nên tôi nghĩ rằng chúng ta không nên nói đến người vắng mặt!

Nếu là một người khác, nghe Cẩm Hương nói câu đó sẽ mắc cỡ đỏ mặt tía tai. Nhưng Kiều Lan không chút nao núng, mặt không đổi sắc, còn tỏ vẻ thân thiện giả nhân giả nghĩa, làm bộ từ bi mèo khóc chuột chết. Chị ta tha thiết:

– Cô mới đến đây, tôi thấy cô không biết nên nói dùm, kẻo bị những người xấu gạt gẫm. Chớ thật ra chẳng có lợi lộc gì cho tôi cả. Vả lại họ cũng là người sống chung với chúng tôi mấy chục năm nay rồi. Tôi chỉ không muốn gia đình mình sau nầy mang tai tiếng xấu thôi. Mong cô hiểu, chứ tôi cũng không ác ý hay oán thù chi họ…

Cẩm Hương hết nhịn nỗi, nói thẳng:

– Cảm ơn chị, nhưng tôi chẳng dính líu gì với những người chị vừa nói cả. Nên chuyện của họ tôi thật sự không muốn nghe và cũng không muôn biết. Xin chị cảm phiền đừng nhắc đến nữa.

Kiều Lan chẳng có chút liêm sĩ, còn cười gằn và giọng nói càng đắng chát hơn. Cô ta nhấn mạnh từng chữ, từng câu một. Cẩm Hương ngẫm nghĩ “Thế gian nầy không có loạn chắc mụ không vui”. Kiều Lan hằn học:

– Cô không muốn nghe chuyện của người khiếm diện? Vậy thì tôi nói về người hiện có mặt ở đây! Tôi muốn nói đến Ngọc Huệ, chắc cô không phản đối chớ?

Cẩm Hương chưng hửng, giờ mụ muốn giở trò gì mà kéo Ngọc Huệ vào nữa đây? Nãy giờ Ngọc Huệ để Kiều Lan nói chuyện với cô giáo. Vì nàng vừa gặp người quen là vợ ông lái xoài đi ngang qua. Hàng năm vợ chồng ông lái, đều đến mua sát hết cả vườn xoài nhà cô để đếm bán lại cho bạn hàng ở Sài Gòn. Hai người vui vẻ hỏi thăm về chuyện vườn xoài và giá cả, cho nên Ngọc Huệ không để ý Kiều Lan và Cẩm Hương đang nói gì với nhau. Giờ bị Kiều Lan gọi giựt ngược, nàng chào bà lái xoài, bảo:

– Hôm nào thím cứ đến gặp ông nội tôi, ổng sẽ bớt cho, chỗ quen biết mấy năm nay mà, đừng có ngại…

Bà lái xoài chào chị rồi thoăn thoắt đi. Ngọc Huệ đi trở lại, tươi cười hỏi:

– Chuyện gì vậy chị Kiều Lan?

Kiều Lan không trả lời, kéo tay chị Ngọc Huệ lại trước mặt Cẩm Hương nói như hét:

– Cô Cẩm Hương, cô có biết Ngọc Huệ đây là ai không?

Cẩm Hương chưa kịp mở miệng thì người đàn bà độc địa nay giáng xuống một câu, làm nàng á khẩu luôn:

– Ngọc Huệ là hôn thê của thằng con ngoại hôn cùa ba tôi đó cô à!

Ngoài trời còn sáng trưng mà trong lòng của Cẩm Hương đã sụp tối! Ngọc Huệ không biết Kiều Lan đã châm ngòi chiến tranh với Cẩm Hương, cô ta cười, ánh mắt rạng rỡ và ướt rượt, Cẩm Hương choáng váng! Chỉ có nhắc đến người mình đang yêu nên Ngọc Huệ mới có cử chỉ như vậy! Chị ta đỏ mặt, bảo :

– Chị Kiều Lan nói bậỵ không hà. Em chưa phải là hôn thê của anh Thiện Tố. Chị nói vậy coi chừng mất duyên con gái của em đó. Thôi, mình về đi. Trời cũng sắp tối rồi. Chào cô giáo nghen, hôm khác gặp lại, có dịp nào mời cô đến nhà tôi chơi.

Kiều Lan vùng vằng chưa chịu bỏ đi. Ngọc Huệ dịu dàng bảo Cẩm Hương:

– Tui đâu có quan tâm đến sự sắp đặt của ông bà hai bên. Ba má tui nhờ thầy bói khoa Tam Nguơn Đồ Hình coi tuổi của tui và tuổi ảnh khắc nhau. Ba má tui cưng, không muốn tui khổ nên có ý không bằng lòng. Nhưng ông nội tui thì cương quyết gả. Còn đối với tui, tiến tới hay rút lui cũng không quan tâm lắm. Ảnh cũng bảnh trai, có học hành, vui vẻ, đàng hoàng. Nhưng tui chưa có cảm tình với ảnh nhiều, cho nên sao cũng được. Tính vô cũng cá vồ cá tra. Tính ra cũng cá tra cá vồ.

Cẩm Hương ngầm thở dài. Rõ ràng đây là lời nói nước đôi, nửa xôi nửa chè, nửa cá he nửa cá chẻm. Ngọc Huệ hối:

– Thôi tụi mình về, chị Kiều Lan.

Nãy giờ tuy làm thinh, nhưng lòng ganh ghét của Kiều Lan vẫn còn sôi sục. Nàng chưa chịu buông tha Cẩm Hương:

– Ủa, Huệ quên đi thử áo mới đê hôm ra mắt họ nhà trai sao?

Ngọc Huệ chưng hửng:

– Nhà trai nào?

– Thì bên chàng trai oai phuông lẫm lẫm đó!

Ngọc Huệ nhéo Kiều Lan:

– Giỡn hoài! Cái thứ ăn hàng hà rầm như em ai mà thèm đi coi mắt chị ơi?

Kiều Lan liếc xéo qua Cẩm Hương:

– Huệ giỡn thì có, hôm chị gặp má Huệ trong chợ, bà đã cho chị biết hết rồi.

Cẩm Hương nghe đối đáp: “Vậy hả? Với em thì sao cũng được…”.

Họ đã đi rồi! Cẩm Hương như cái xác không hồn, lửng thửng về nhà trọ. Mọi sự vật chung quanh nàng không còn ý nghĩa gì nữa cả. Bao nhiêu mộng đẹp đã vỗ cánh bay đi. Cõi lòng nàng tan nát. Từ nhỏ đến bây giờ nàng mới yêu được một người, và được hai bên cha mẹ hài lòng, và ngấm ngầm khuyến khích. Nàng không đòi hỏi cao xa, mơ mộng viễn vông. Nàng đặt hết niềm hy vọng vào người ấy, mong rằng sau nầy hai người sẽ có một mái gia đình ấm êm và hạnh phúc. Nàng luôn tự nói với lòng sẽ phụng dưỡng kính yêu mẹ chàng như mẹ mình và hiếu thảo với bà để cho bà được hạnh phúc ở tuổi xế chiều. Nàng thừa biết rằng từ thuở thiếu thời bà luôn gặp cảnh bất hạnh, trái ngang.

Cẩm Hương thở dài ngao ngán! Một ước muốn bình thường như vậy mà thật sự sao quá khó khăn! Nàng không biết làm gì để khuây khỏa đây? Nàng dã dượi lười biếng không muốn ăn, không muốn ngủ, không muốn làm bất cứ việc gì… và chán nản vô cùng.

Gió chuyển mùa, các lá cây trước nhà trở màu xanh già, rồi vàng và rụng bay tua tủa nhứt là lá so đũa, và lá me nhà hàng xóm. Mặt nước kinh sau hè phẳng lặng, chỉ gợn vài làn sóng lăn tăn khi nhánh cây khô nhỏ rơi xuống hay chiếc lá lìa cành lảo đảo rớt trên mặt nước đậm phù sa của con kinh đào nầy.

“Hò ơ…chèo ghe bán cả lòng tong
Em xa người nghĩa khóc ròng như mưa
Hò ơ… tay em hái trái bí đao mà mắt em trào lệ thảm
Xa vắng anh rồi thiên ảm địa hôn…”

Giọng hát của bà hàng xóm nghe buồn não nuột và hợp với hoàn cảnh của Cẩm Hương làm nàng rướm nước mắt.

Suốt mấy cái cuối tuần rồi, cứ mỗi chiều thứ sáu tan trường là nàng đi qua lộ đón xe đò đi Sài Gòn rồi từ Sài Gòn đi xe về Lái Thiêu. Đến sáng sớm thứ hai nàng xuống xe đò trước cửa trường, đi thẳng vào lớp dạy ngay. Nàng cố tình tránh né không muốn gặp bà Tư Hiền và nhứt là Thiện Tố. Bà Tư Hiền là một người chất phác thật thà. Con bà đã có hứa hôn, bà sắp có dâu, mà tại sao còn hùa với con để cố tình gạt gẫm nàng? Lòng người thật khó hiểu! Thật không ai có thể biết trước được họ muốn gì?

Sáng sớm Cẩm Hương ngồi sau hè nhà, trầm ngâm nhìn làn khói tỏa bay từ những thư từ đang đốt trong chậu sành. Biết tâm sự của con, bà Ký Tân khuyên lơn:

– Con đừng tự gạt mình nữa! Bộ đốt hết thư từ rồi, là quên hết được sao? Nhớ thương vẫn là nhớ thương, không dễ dàng quên được đâu. Má chỉ mong con đừng vì ai mà đau khổ mãi, đừng khựng lại ở những gì đã qua.

Cẩm Hương hết sức ngạc nhiên, nàng không ngờ mẹ mình có những ý tưởng thâm trầm và cao đẹp như vậy. Nàng mỉm cười, ánh mắt kính yêu và tự tin nói với mẹ:

– Cảm ơn má, má cứ để mặc con đau buồn, rôi chuyện đâu cũng sẽ vào đấy.

Bà Ký Tân trìu mến nhìn đứa con gái độc nhứt của mình. Bà xuống bếp bớt lửa, đậy nấp um nồi đậu đen cho mau mềm để nấu chè với táo khô. Và trước khi múc ra chén, ra tô, bà còn cho thêm vào dừa rám, khổ tai xắt mỏng để cả nhà bà giải lao.

o O o

Chiều thứ sáu hôm nay, khi hết giờ dạy học là Cẩm Hương xách túi nải ra lộ đón xe đi đến chỗ của Thục An ở Bến Tranh. Con nhỏ đó còn nhắc mấy đứa bạn ngày xưa về họp mặt như đã hẹn trước, để đập bồn đập bát một bữa cho vui, vì lâu quá bọn nàng chưa gặp lại nhau sau gần cả năm rồi.

Bến Tranh là một quận trù phú, nằm sát Quốc Lộ Bốn và liên tỉnh lộ 29 là những đường giao thông quan trọng nối tỉnh Định Tường với các tỉnh lân cận. Quận Bến Tranh không nhiều vườn tược sản xuất cây ăn trái sầm uất như quận Cái Bè, hay như các huyện khác trong tỉnh. Tuy nhiên, Bến Tranh có nhiều ruộng cung cấp gạo quý như nàng hương, gié vàng, nanh chồn. Có nghề nuôi tằm, dệt vải, cùng các tiểu công nghệ khác như đương đệm, làm túi xách đệm, làm đệm trải, làm nóp đệm để ngủ thay mùng, đương thúng rổ tre Những sản phẩm ở đây nổi tiếng đương khéo, đương dầy dặc, lâu bền. Nên rất được chiếu cố.

Cẩm Hương đến nhà Thục An sớm nhưng vẫn sau cô bạn Thụy Châu. Con nhỏ Thục An, đang ở với mẹ trong ngôi nhà thờ ông bà của cha mẹ nó từ nhiều năm nay, sau khi cha nó là chú Hương Hào Trạch theo vợ bé ở Cầu Dầu gần chợ Vòng Nhỏ (Mỹ Tho). Nhà của Thục An như là cái biệt thự, rộng rãi, có nhiều phòng và cách xa những nhà lân cận bởi hàng rào bằng đa cao quá đâu, nên cho dù bọn họ có đông người, gây ồn ào cũng không làm phiền đến hàng xóm.

Cái sân nhà của Thục An được lót gạch tàu, giữa có bày hòn non bộ, hai chậu cau kiểng, hai chậu mai chiếu thủy, bốn chậu lan đất, mấy chậu bông lài, mai tứ quí… Bông huệ, cây kiểng tầm thường được chăm sóc chu đáo nên trổ bông ê hề, trổ lá rậm rạp. Ba của Thục An tuy mê vợ bé nhưng cũng thường về thăm viếng vợ lớn, các con và chu cấp tiền bạc nuôi con rất đầy đủ.

Nguyên do chú Hương Hào Trạch sống một kiểng hai quê là cũng do ý muốn của thím! Số là thím đẻ cho chú một trưởng nam, ba đứa con gái, mà Thục An là cô gái út. Khi Thục An được tám tuổi, thím lại có thai. Thai nhi bị chết trong bụng mẹ khi được sáu bảy tháng gì đó. Thím phải đẻ non. Lần đẻ đó tưởng thím qua đời, và thím bịnh kéo dài cả năm. Từ đó thím không thích gần gũi chồng, và khuyên chú nên kiếm vợ bé.

Chú Hương Hào Trạch buồn bã, than với dòng họ, bạn bè. Kỳ đưa thím đi viếng chùa Vĩnh Tràng ở miệt Chợ Cũ Mỹ Tho đi vô, để tạ ơn Đức Quan Âm Bồ Tát. Nơi đây, vợ chồng chú gặp cô gái tên là Sáu Cầm đến làm công quả cho chùa. Cô Sáu cầm lỡ thời, tánh tình hiền lành, vui vẻ… Thế là Chú Hương Hào Trạch và cô Sáu Cầm dính với nhau. Thím cũng chấp nhận. Cô Sáu Cầm biết điều lắm. Dù ở riêng nhưng thỉnh thoáng cô cũng tới lui thăm lom vợ lớn của chồng, quà cáp trong những ngày giỗ và Tết nhứt.

Hôm nay, thím Hương Hào Trạch đi Giáp Nước (ở vàm Hòa Khánh thuộc quận Cái Bè, đi đường tàu một đổi qua sông Cửu Long là địa phận của tỉnh Vĩnh Long) thăm hai bà chị. Nhà chỉ còn có chị bếp già. Trước khi đi, thím dặn con gái:

– Mấy thuở chị em bạn bè bây gặp gỡ nhau. Con phải tiếp đãi cho tử tế. Má có nấu nồi ca-ri vịt để ăn với bún. Nồi thịt bắp đùi, trứng và cá lóc, má đã kho xong trên bếp đó. Dưa cải chua đã xắt vừa miếng ăn ướp sẵn đựng trong thố, để ở tủ lưới ngăn trên, ngăn dưới còn có hột vịt muối, tôm khô trong keo, và gói lạp xưởng. Chị bếp cũng đã nấu nồi canh chua cá bông lau. Má có mua sẵn mấy trái dưa leo, cà chua, củ hành tây và trái su đựng trong rổ. Nếu cần thì con cứ lấy ra xào nấu cho bạn bè ăn. Trái cây sắp trong dĩa bàn cũng đã rửa sạch rồi…

Thụy Châu trong phòng tắm bước ra, trông sạch sẽ và mát rượi mặc dù nó ốm tong như cây tăm xỉa răng. Tội nghiệp con nhỏ, khi hay tin hôn phu của nó cưới vợ đầm, nó bịnh luôn cả tháng không ngồi dậy nổi. Cẩm Hương nhớ lúc nghe tin đau khổ của bạn, nàng không khỏi rủa lén: “Đồ cái thằng gặp đó bỏ đăng, thấy trăng quên đèn thế nào cũng gặp quả báo! Sẽ bị con đầm đó cho nó cặm sừng to như sừng bò hống vậy!”. Thấy Cẩm Hương, Thụy Châu mừng quýnh lên:

– Thành hoàng Thổ địa ơi, bấy lâu nay mầy trốn đâu mất biệt vậy con quỉ? Tao chẳng biết tin tức gì của mầy cả. May là tao gặp con Ánh Nguyệt trong chợ Ông Tạ (Sài Gòn) nói, tao mới biết mầy vẫn còn hiện hữu trên cõi phàm phu tục tử nầy…

Thục An cười ha hả:

– Thấy chưa Cẩm Hương, con Thụy Châu dạo nầy tiến bộ ngó thấy.

Thụy Châu cười:

– Tại nhờ anh mầy bỏ tao, nên tao mới khôn ra. Nếu lấy anh mầy chắc tao đã thành mụ già lú lẫn không chừng.

Nghe hai đứa vui vẻ nói cười, Cẩm Hương thầm phục nhỏ Thụy Châu và cũng thầm khen con Ánh Nguyệt. Đang khi Thụy Châu và anh Thịnh yêu nhau da diết thiết tha, và cũng đã đính hôn rồi, vậy mà nó dám tiên đoán là cuộc hôn nhân họ sẽ không thành!

– Ê, tao bận tay, đứa nào ra mở cửa xem ai đến nữa vậy bây?

Tiếng nhỏ Thục An eo éo dưới bếp vọng lên. Cẩm Hương và Thụy Châu cùng đi ra mở cửa. Người mới đến còn ở ngoài sân mà nghe cái giọng rổn rảng cùa nó thì biết ngay là ai rồi, Thục An làm bộ không nghe thấy, nhìn ra cửa sổ xem độ rày cô nàng xảnh xẹ nầy ra sao?

– Thục An đâu? Cô tiểu chủ của cái nhà lớn quá xá nầy đâu rồi? Sao không ra tiếp khách quý là người đẹp đất Định Tường ai thấy cũng thương đã đến rồi nè…

Đó là Ánh Nguyệt, cái con mắc toi, mà Ái Mỹ đã đặt cho biệt danh là Gia Cát Lượng. Đây là thứ gái có cái miệng tía lịa, tía lia, lanh lợi, lẹt chẹt đôi lúc làm bực mình kẻ khác đó. Nhưng tâm của nó lại hiền, tánh tình chân thật, dễ dãi, không độc ngầm, lúc nào cũng tận lòng giúp đỡ bạn bè. Mặc dù cũng có đứa lợi dụng tánh tình dễ dãi của nó, nhưng khi biết được, nó chăng một chút giận dữ, oán hờn hay thù ghét… Chưa ai thấy nó buồn được nửa ngày, chưa bao giờ nghe nó nói không ưa ai, và cũng chưa hề giữ lâu chuyện rắc rối được 3 ngày trong bụng… Có lẽ nhờ thế mà con nhỏ tròn trịa, tươi mát, trẻ mãi không già, càng ngày lại càng đẹp phơi phới hơn các bạn trong nhóm.

– Chu mẹt ơi! Sao dạo nầy mầy đẹp chi mà đẹp lạnh đẹp lùng như vậy hả Ánh Nguyệt? Tao bắt đầu ganh tị rồi đây! Ái Mỹ viết thư cho tao nói cùng đi với mầy đến đây hôm nay mà. Nó đâu rồi?

Được Thụy Châu khen tới tấp làm nhỏ Ánh Nguyệt cười ha hả có vẻ khoái chí tử lắm. Thay vì trả lời người khen mình, con nhỏ lại quay qua hỏi Cẩm Hương:

– Ê, làm gì chị thộn mặt nhìn trân, nhìn tráo mặt em vậy hả chị Cẩm Hương? Bộ trên mặt em có vẽ chữ cho chị đọc sao? À con Ái Mỹ chết bằm đó cuối tuần nầy được hôn phu nó về thăm. Nên không biết ả ta có đến không nữa? Thôi tụi mình hãy tha thứ cho nó, đừng chấp nhứt chi con yêu lồi đó vì nó đang yêu và được yêu mà.

Cẩm Hương nguýt bạn, trề môi nói:

– Xì, dạo nầy sao binh cho nhỏ Ái Mỹ quá vậy? Mầy nói đúng quá, trên mặt mầy đang hiện rõ chữ “cà chớn” để tao đọc đó!

Thục An, còn cầm cái khăn lông nhỏ lau tay, vừa đi ra vừa nói lớn:

– Mấy con kia sao không vào nhà mà đứng ở đó xí xô xí xào vậy? Con Ánh Nguyệt truyền nghề bói toán cho mầy hồi nào mà bây giờ mầy vượt qua, đọc được cả chữ vô hình trên mặt sư phụ vậy Cẩm Hương?

Cả bọn vừa đi vào nhà vừa cười rộ vui vẻ. Mãi đến gần 7 giờ tối con Nguyệt Mi mới lò mò tới. Nó phụng phịu càm ràm với các bạn:

– Mấy chị xem, con thần thừ Ái Mỹ hẹn 2 giờ chiều tới nhà tui để hai đứa cùng đi đến đây. Đợi mãi gần 4 giờ, tui sốt ruột sợ trễ xe, nhưng nó cũng chẳng đến. Tui định bỏ đi, nhưng ngặt nỗi là nó chưa bao giờ thất hẹn nên phải rán chờ thêm chút nữa. Đến 4 giờ hơn, thằng em trai nó chạy cót két xe đạp đến cho biết nó không đi được! Thật là đồ quỉ sứ báo hại mà. Tui lật đật bao xe thổ mộ đến đây liền.

Bạn bè làm bộ xuýt xoa ra vẻ cô là đứa thật đáng tội nghiệp lắm!

Nguyệt Mi là cháu gọi cô Sáu cầm bằng dì, học trường Collège de Mỹ Tho, chớ không phải bạn học của 5 cô áo tím. Tuy nhiên Nguyệt Mi rất mến Thục An và Ái Mỹ, Ánh Nguyệt nhưng không thân thiện lắm với 2 cô kia.

Ánh Nguyệt thường bảo lũ bạn bè:

– Con Nguyệt Mi hiền lành, nhút nhát, nay nhập bọn với mấy đứa chằn ăn trăn quấn như tụi mình. Nó sẽ cảm thấy lạc loài, rồi rút lui gấp, rút lui như gặp phải tà, ma, quỉ quái vậy.

Lần đó, Ái Mỹ cãi lại:

– Đừng có quả đoán mầy. Chị Cẩm Hương cũng hiền lành, chững chạc, ăn nói mực thước. Vậy mà sau khi nhập vào bọn mình, chỉ lại làm đầu thầy.

Thục An nhận xét:

– Cẩm Hương ngọt như đường cát, mát như đường phèn và lành như sương sa, sương sáo, sương sâm. Cô ả lại dễ cảm thông cho cái tật cà chớn của bọn mình. Ả thích nói bông đùa cho vui câu chuyện, chớ không hề nói tục, nói trây. Nhưng nghe bọn mình nói trây, ả chỉ cười ngất, rồi bỏ qua, không khó chịu hoặc chê bọn mình vô duyên mất nết…

Ái Mỹ cười rúc rích:

– Bọn mình có nết đâu mà mất?

Cẩm Hương trề môi liếc Ái Mỹ, rồi phản đối:

– Thôi Ái Mỹ ơi, đừng có nịnh bợ tao và hạ mình như vậy không nên. Tao chỉ cố gắng ở bầu thì tròn, ở hộp thì vuông cho cả bọn được thoải mái. Tụi bây đừng có tưng bốc tao quá. Tao mà bay cao sẽ té xuống nát thịt tan xương ngay.

Ánh Nguyệt cười hềnh hệch:

– Chị mà té xuống thì có em ra hứng, đỡ chị về Cai Lậy rồi giải giao cho anh Thiện Tố để ảnh an ủi và vỗ về chị.

Thụy Châu thiệt tình, lên tiếng.

– Thôi đi tắm đi rồi ra ăn tối. Hôm nay mầy vất vả nên khỏi làm công tác dọn cơm. Và sau bữa ăn khỏi rửa chén. Để bọn tao làm hết cho Nguyệt Mi.

Ánh Nguyệt tiếp lời Thụy Châu liếc liếc xuống bếp, nói lớn:

– Phải à, Nguyệt Mi đi tắm cho mát mẻ rồi ra ăn cà-ri dê và cơm nị của con Thục An nấu. Tụi bây có biết sao chúng ta sẽ được thưởng thức món ăn, và cơm lạ nấu theo kiểu Ấn Độ nay không?

Mấy đứa kia nhao nhao lên. Riêng Cẩm Hương thấy miệng Ánh Nguyệt cười chúm chím, cặp mắt có vẻ tinh nghịch, nghĩ thầm: “Không biết đến phiên ai sẽ là nạn nhân của con nầy đây?”. Ánh Nguyệt trợn mắt hỏi các bạn:

– Thật sự tụi bây không biết gì sao? Chu choa ơi, quả là chậm tiến! Có gì là lạ đâu, con Thục An sắp sửa lấy chồng, nên đi học nấu ăn đãi bọn mình trước, để rút kinh nghiệm khi về làm dâu cho gia tộc nhà chú Bảy Chà có tiệm bán hàng vải gần nhà hàng Chamer giàu nức trứng ở Sài gòn đó tụi bây ơi!

Cả bọn cười bò lăn! Con Thục An đang chụm lửa, chịu không nỗi xách cái nùi lau bếp rược chọi Ánh Nguyệt, cười chảy nước mắt và rủa xả om sòm…

Hôm nay có mặt 5 nàng ở đây, như đã hẹn với nhau từ năm ngoái, lúc họp mặt ở nhà Ánh Nguyệt. Theo lẽ thì phải 6 người kể từ dạo Nguyệt Mi nhập bọn thì là “Lục Nữ La Sát” chớ không còn là “Ngũ Nữ La Sát” nữa. Mai kia cả bọn có gia đình hết rồi thì muốn có hai, ba mống họp mặt chưa chắc đã được. Những buổi họp mặt hàng năm các cô kể lể cho nhau nghe, những chuyện vui, buồn… Rồi họ ăn uống, đi thăm di tích lịch sử, xem phim… Từ trước đến giờ cả bọn chỉ mới đi dự đám cưới của Thụy Châu tháng Giêng năm rồi thôi.

Tình trạng Thụy Châu đáng thương lắm! Sau ngày bị thằng anh ôn dịch của nhỏ Thục An bỏ, nó xất bất xang bang kéo dài gần hai năm trời nhỏ ta không bước ra khỏi nhà.

Nhưng sau cơn mưa, trời lại sáng chớ bộ! Có một hôm, em trai nó đi dọ giá lúa ngang qua ghé lại giây lát thăm chị mình. Thụy Châu lại lọt vào đôi mắt bù lạch ăn của bác thông ngôn quan Chánh Tham Biện, quen với em nó cũng có mặt hôm đó. Thế là thằng em làm Ô Thước bắc cầu. Vậy là năm rồi “Lục Nữ La Sát” gồm có: Thục An, Ái Mỹ, Cẩm Hương, Ánh Nguyệt, Thụy Châu, Nguyệt Mi. Cả bọn 5 cô kéo nhau về dự đám cưới của nhỏ Thụy Châu. Chủ rể lớn hơn cô dâu những 13 cái xuân già, vợ chết, nhưng không có con riêng. Anh chàng công chức bảnh trai đứng bên nàng Thụy Châu mảnh khảnh, nên trông đôi uyên ương nầy không chênh lệch về tuổi tác cho lắm. Phu quân nó cưng vợ, giỏi nịnh đầm nên nó không bận rộn hoặc bị ràng buộc như những người phụ nữ có chồng khác.

Nguyệt Mi chợt hỏi:

– Chị Cẩm Hương, sao chị có vẻ buồn quá vậy?

Cẩm Hương chưa trả lời, Thục An chợt thấy Thụy Châu vừa nhai ngồm ngoàm trái ổi chua chấm muối ớt, vừa hít hà vì cay, lên tiếng hỏi:

– Ủa, bộ mầỵ có bầu hả Thụy Châu? Tự nãy giờ tao thấy mầy chiếu cố nhiều về những trái chua đó nghen.

Thụy Châu cười hí hí:

– Vợ chồng tao đang mong đây! Chưa có mầy ơi. À mà nhỏ Nguyệt Mi nhận xét coi bộ đúng. Chuyện gì mà mầy có vẻ tâm sầu bạch phát quá vậy Cẩm Hương?

Ánh Nguyệt lại lên giọng thầy đời:

– Ở đây có Gia Cát Lượng, có trạng sư, có phụ thẩm, và tui cũng đã từng làm quan tòa xử tụi bây rồi. Cả bọn toàn là thứ tai to mặt bự có tầm vóc! Kể đi chị Cẩm Hương. Tụi em nghiên cứu tình hình, tìm cho chị một giải pháp ổn thỏa. Đừng có xạo, làm bộ ngây thơ vô số tội nói với bọn nay là chị không có gì hết đó nghen.

Mấy con khỉ đột có tài chí chóe nay đang dồn dập hỏi Cẩm Hương, cho dù không nói cũng không được với bọn chúng. Nàng chưa kịp mở miệng thì Thục An bỏ mỏ tới:

– Nè Cẩm Hương, mặc dù mầy được nhỏ Ánh Nguyệt truyền nghề bói toán, nhưng mầy có giỏi đến đâu cũng thua cái nhận xét thần thông quảng đại và đầy kinh nghiệm của sư phụ, có đúng không? Cho nên mầy hãy thành thật khai báo đi, đừng để nó lật tẩy thì ể mặt lắm đó…

Cẩm Hương đang buồn, nhưng cũng cố tạo cho mình miệng cười tươi. Tuy nhiên thật sự cái miệng nàng cười méo xẹo như miệng cô đào Năm Phỉ ca bản “Văn Thiên Tường”, cô nầy vừa ca vừa khóc nhểu nhão. Nàng dùng kế hoãn binh:

– Tụi bây chỉ giỏi tài đoán mò thôi! Bổn cô nương còn “khuya” mới buồn! Nhưng mà tụi bây nói cũng phải, trước sau gì tao cũng kể cho bọn bây biết nơi ăn chốn ở của kẻ hèn nầy. Nhưng không phải ngay bây giờ đâu. Khi nào thiên thời, địa lợi, nhân hòa thích hợp thì tao mới kể được. Thôi, khoan nói chuyện tao đã, tao thật sự rất mừng từ ngày con Thụy Châu giã từ đời độc thân bởi có bóng tùng để nương tựa. Con Ái Mỹ thì cũng có anh chàng bảnh trai đặt cọc rồi.

Thụy Châu chớp chớp bờ mi, làm vẻ hiu hiu thơ mộng như mấy người đẹp trong tranh của họa sĩ Tô Văn Vân ngoài Hà nội:

– Chồng tao tuy lớn tuổi hơn tao, tuy làm thầy thông ngôn cho quan Chánh Tham Biện, nhưng vẫn có tài băng bó vết thương lòng của tao còn giỏi hơn mấy ông thầy lang Tây hành nghề.

Thục An cũng lim dim đôi mắt, gật gù:

– Ừ hén, tao thấy mầy lóng rày lấy lại niềm vui sống. Tuy còn ốm nhom nhưng da dẻ mầy bắt đầu hồng hào. Tao nghe con Ái Mỹ nói chồng mầy bắt mầy uống thuốc bổ dầu gan cá thu mỗi ngày.

Thụy Châu cười:

– Phải rồi, lúc đầu uống dầu gan cá thu tanh quá là tanh, nhung uống riết rồi quen đi. Nhờ thế mà da dẻ tao bây giờ mới hồng hào như bọn bây thấy đó.

Nguyệt Mi cười:

– Chị Thụy Châu ơi, em nghĩ ảnh cưới chị vì cái ốm thơ ốm mộng của chị đó. Thôi thì để như vậy, tội gì uống thuốc bổ làm chi. Thuốc có nhiều thứ vừa hôi vừa tanh lại vừa đắng…

Ánh Nguyệt lườm:

– Hắn muốn Thụy Châu uống thuốc bổ là muốn nhỏ mập mạp, muốn vợ mình có da có thịt tươi mát đó đa. Chắc hắn không muốn đêm đêm ôm ấp bộ xương cách trí, hay ăn nằm với con khô cá hố…

Cả bọn cười rộ lên. Cẩm Hương mắng:

– Chuyện gì mà lọt vào cái miệng của con Ánh Nguyệt thì cũng trở nên dữ dằn gớm ghiếc cả. Thụy Châu như Nguyệt Mi nói, có vóc dáng mảnh khảnh như liễu rủ mai gầy, đó là ốm đẹp chớ có khô đét da bọc xương đâu.

Bỗng con Thục An rống họng nháy theo giọng kép Tư Út đóng vai Điệp trong vở cải lương “Hoa Rơi Cửa Phật”, phỏng theo sự tích cuộc tình Lan và Điệp: “Em Lan ôi tội tình chi mà em phải chịu đọa… ư đày”.

Nhỏ Ánh Nguyệt ngó chung quanh, không thấy ai khác ngoài mấy đứa bạn thân của mình, nên nó cũng lấy giọng hát tiếp: “Em Lan ôi, tội tình chi mà em phải tuột…ư quần!”.

Cả bọn ôm bụng cười ầm lên, nhưng đứa nào cũng mắc cỡ đỏ mặt tía tai, xúm lại đấm trên vai Ánh Nguyệt thùm thùm. Thụy Châu mắng:

– Bộ mầy điên rồi sao? Ca hát bậy bạ nghe mà phát nổi da gà.

Thục An rủa:

– Mầy là con mắc dịch mắc toi! Không để cho cái miệng sạch sẽ, chỉ hát những câu tục tĩu dơ bẩn không hà. Tao nghĩ nhà mầy ở kế bến xe đò nên ngày nào cũng nghe bọn đánh xe, bạn hàng, hành khách trật búa…ca hát nhảm nhí, ăn nói trây trúa, riết rôi mầy quen miệng.

Cẩm Hương điềm đạm:

– Tuy vậy, trước mặt người lớn nó tỏ vẻ hiền lành, trước nam phái nó tỏ vẻ đoan trang thùy mị. Chỉ khi nhập bọn với tụi mình thì nó trổ quỉ, trổ yêu.

Ánh Nguyệt ỏn ẻn hát thêm: “Em Lan ôi, tội tình chi mà em phải cạo… ư đầu“. Cả bọn lại phá lên cười hăng hắc. Nguyệt Mi, ngưng cười, nói:

– Rất may trong bọn không có người nào tên Lan cả.

Thụỵ Châu điệu đà:

– Nếu tao tên Lan, tao cũng nấu chè cúng ông bà ông vải của tao, xin đổi tên khác.

Thục An vo vảnh:

– Mèn ơi, tao định lấy biệt hiệu là Thu Lan. Nhưng thôi tao sẽ nghĩ sửa lại tên khác để mấy con yêu lồi tụi bây không có cớ chọc quê.

Nguyệt Mi làm giọng chị cả:

– Con Thục An thì chúng ta không phải lo nhiều, bởi anh Louis Trần Đình Linh đang chết mê chết mệt nó đó bây ơi. À mà nay, anh ta là dân Tây, trong tương lai chắc mầy sẽ đeo đít tàu theo hắn về Pháp? Bọn tao không ganh tị mà chúc phúc cho mầy đó Thục An. Nhưng hãy nhớ có ăn ra-gu và món bít-tết thì vài tháng cũng nên ăn canh chua cá kho tộ. Đừng có quên những món quốc hồn quốc túy nghen mậy.

Nguyệt Mi vừa dứt lời thì Ánh Nguyệt đổi đề tài, chỏ mỏ xực liền:

– Nguyệt Mi ơi, sao lúc nầy mầy nói chuyện giống bà già đi âm phủ quá vậy? Mấy đứa có đôi có cặp nhắc đến làm gì? Điều đáng nói là việc của chị Cẩm Hương, và tội nghiệp cho tao với mầy đang còn độc thân vô thời hạn đây nè. Tao đang tìm một đứa để hẹn hò, để làm đẹp phố phường mà mãi đến bây giờ chẳng đào đâu ra một mống. Thật là chán ốm, chán lỏm cái bụng!

o O o

Thục An vào trong bưng ra một rổ trái cây vun chùn, nào xoài sống, cốc, điều, mận, bòn bon, chôm chôm, mãng cầu, xa-bô-chê, ổi… Cuối bàn thì có sẵn cốm chuồi sầu riêng, kẹo đậu phọng, thau cốm dẹp trộn dừa và bình nước trà nóng. Dưới bếp còn sôi ùng ục nồi chè thưng. Lần nào họp mặt cũng vậy. Từ đêm đầu thứ sáu, cho đến suốt đêm thứ bảy rạng chúa nhựt, tối ngày cả bọn cứ ăn hết mặn, tới ngọt, bùi, chua, chát không ngớt. Cả bọn chí chóe sáng cả đêm không ngủ. Đứa nào mòn mỏi lắm chợp mắt một chút thì lại góp chuyện ồn ào, nên đố ai mà ngủ cho vô.

Con Ánh Nguyệt có lần đã nói: “Đêm nào cũng ngủ, ngủ từ khi lọt lòng mẹ cho đến bây giờ. Ngủ riết rồi sẽ bị mục mắt, và ngày nào đó tụi bây sẽ hối hận khi khám phá ra rằng đời người ngắn ngủi, sao không đi đó đi đây. Nếu mình ngày ngày cứ hùng hục làm việc để có tiền nuôi thân, thì mình lợi dụng đêm mà hưởng thụ những gì chính mình đã tạo ra… Cứ đêm nào cũng ngủ như vậy hoài thì há không phải là một mất mát lớn của kiếp người sao?”. Cả bọn cười vỗ tay tán thưởng … Có đứa cho là con nhỏ có lối suy nghĩ sâu sắc lịch lãm chuyện đời. Có đứa nói nó là bà cụ non. Có đứa nói, đồ điên, không ngủ có sức đâu mà làm việc. Có đứa còn nói nó bị nhiễm bởi ảnh hưởng nghề nghiệp của thằng anh nó làm xếp nhà máy điện, gần điện riết rồi bị “mát dây”.

Thục An cười lớn:

– Ánh Nguyệt à, thôi thì mầy đi cưới anh chàng Tuấn, làm em dâu của Cẩm Hương đi. Tụi bây có vẻ xứng đào xứng kép. Bởi mầy thì như con chim chèo bẻo tối ngày không để cái miệng kéo da non. Còn chàng Tuấn thì ít nói, lầm lì như cóc hầm hơi, nhưng ưu điểm của hắn là chân thành và làm việc có tiền nhiều để mầy tha hồ mua sắm…

Ánh Nguyệt háy Thục An. Cẩm Hương hứng chí cười lớn:

– Cảm ơn Thục An nghen. Bỗng dưng mầy nhắc chuyện nầy. Tao cũng thấy thằng Tuấn cưới con Ánh Nguyệt thật đẹp đôi và thật xứng. Mầy nghĩ sao con chim chèo bẻo? Có muốn làm em dâu tao không?

Thụy Châu nhăn mặt:

– Tụi bây không biết tâm lý con gái chút nào! Ai lại đi hỏi đối tượng một cách trắng trợn như thế bao giờ? Người ta là con gái, mắc đái cũng tìm lùm cây, còn tự ái và mắc cỡ nữa chớ. Nhưng tao thấy con Thục An nói đúng, và con Cẩm Hương ăn chắc rồi. Tụi bây biết không? Con bạn Ánh Nguyệt của chúng ta tánh tình như con trai. Trong bọn chỉ có Nguyệt Mi bằng tuổi hoặc nhỏ hơn vài đứa, còn lại thì bằng hoặc trên dưới nhau có 2, 3 tuổi thôi. Nhưng con Ánh Nguyệt luôn luôn gọi nhỏ Cẩm Hương bằng chị nghe ngọt sót. Đó là chuyện thứ nhứt, chuyện thứ hai là còn lâu nàng mới ngán nói đến chuyện lấy chồng. Nhưng lần nầy thì khác! Tụi bây mỗi đứa có 2 con mắt hãy nhìn xem nàng đã hồng hồng đôi má, và từ từ mặt đỏ như trái dưa hấu xẻ đôi rồi kia…

Bị các bạn cười chọc ghẹo ầm ỹ. Ánh Nguyệt phóng tới đấm lịch bịch vào lưng Thụy Châu, chống chế yếu xìu:

– Đừng có xạo nghen. Bộ có mình tao gọi Cẩm Hương bằng chị hả? Tụi bây cũng gọi như vậy. Tao gọi Cẩm Hương bằng chị ngay từ còn trung học, vì tao nể cái tính nhu mì, đằm thắm, chững chạc của chỉ. Tụi bây đừng có hùa với nhau dựng chuyện để tấn công tao. Và tụi bây cũng đừng hòng, bổn cô nương đã có người tình rồi.

Nguyệt Mi la lớn:

– Nhỏ Ánh Nguyệt có người tình không chân dung, hoặc người tình trong tiểu thuyết đó mấy chị ơi!

Ánh Nguyệt thật sự nghe lòng mình vui vui và thẹn. Nàng nhớ mỗi lần đến nhà chơi, Cẩm Hương lỡ bận tay chuyện gì đó, thì nàng được Tuấn tiếp đãi nồng hậu…

Cẩm Hương hứng chí:

– Thôi được rồi, hãy để yên cho Ánh Nguyệt dệt mộng cua được thằng em tuấn tú đẹp trai của tao. Bây giờ có đứa nào muốn nghe chuyện tình chưa thành thì sắp tan của bổn cô nương không? Hãy cho biết, để bổn cô nương chuẩn bị tinh thần mà kể cho nghe…

Cũng là con Thụy Châu có chồng rồi, nên nhiều kinh nghiệm nói lớn với Cẩm Hương cố tình cho cả bọn nghe rõ ràng:

– Cẩm Hương ơi, hãy bỏ cái thói ỡm ờ khó ưa dễ ghét đó đi. Mầy phải kể hết ngọn ngành gốc rễ, mọi chi tiết, dù lớn, dù nhỏ li ti cũng vậy cho bọn nầy nghe, để bọn nầy mổ xẻ, và xức thuốc bó băng vết thương lòng cho mầy nếu thấy cần.

Ánh Nguyệt theo Thục An xuống bếp bưng chén bát và nồi chè thưng lên, múc ra từng chén cho năm đứa. Mấy cô nương kia thì đi tiểu rồi ra ăn chè và lóng tai nghe Cẩm Hương kể về chuyện tình thơ mộng của mình. Họ chắc chắn rằng, mối tình đầu của Cẩm Hương sẽ lâm ly bi đát không thua gì những chuyện tiểu thuyết tình cảm ướt át của các tác giả nổi tiếng đương thời. Nồi chè thưng có nước cốt dừa, lá dứa, đậu xanh, khổ tai, bột khoai, bạch quả, hột sen, táo đỏ, dừa rám xắt mỏng…

Trong lòng Ánh Nguyệt niềm vui vẫn chưa tan biến. Cô ta có cảm tưởng, cuộc đời sắp tới sẽ còn ngọt béo hơn nồi chè nầy nếu mộng lớn của mình thành sự thật. Ánh Nguyệt chợt nhớ cách đây 2 tháng, sau lễ Phục Sinh, nàng quá giang xe hơi của người anh họ đi Cai Lậy thăm Cẩm Hương. Tại nhà bà Tư Hiền, bất ngờ nàng gặp Tuấn. Nhân ngày nghỉ phép chàng từ Sài Gòn xuống thăm chị. Thấy Thiện Tố xúc đất đắp gốc chuối, Tuấn cũng phụ giúp cào cỏ đổ xuống mương độn ủ phân để vô gốc cây. Trong khi Cẩm Hương phụ bà Tư làm món cơm tấm bì, Ánh Nguyệt pha nước chanh, gọt đu đủ chín để đãi hai chàng “lực điền tạm thời” kia.

Tuấn khen:

– Cô Ánh Nguyệt làm gì mà má ửng hồng vậy? Có phải từ trong bếp chui ra đây không?

Ánh Nguyệt mỉm cười, thẳng thắn:

– Hôm nay bác Tư không cho em vào bếp, vì bác có bày cỗ bàn, yến tiệc gì đâu. Còn em không biết sao mấy tuần nay mặt mày cứ ửng đỏ như mặt trời mọc. Lũ bạn gái chế nhạo em rằng: “Má đỏ hồng hồng muốn chồng thành dịch…”. Em có mài củ nghệ xức lên mặt, nhưng sắc hồng quái ác nay không chịu phai mờ bớt đi. Thiệt tình, em không biết làm sao đây?

Tuấn cười tươi:

– Sao cô vụng nghĩ như vậy. Mặt sáng sủa và có sắc hường rực rỡ như vầy là có hồng quang phát hiện. Cô sẽ gặp vận may, tấn tài, tấn lộc, tấn bình an, lại còn gặp được duyên lành như ý. Cô hãy tin tôi, tặng mấy củ nghệ cho người ta kho cá chạch, nấu món cà-ri gà khoai lang, nước cốt dừa đi.

Cả hai cùng cười. Thuận tay, Tuấn hái nhánh bông giấy tím đưa cho Ánh Nguyệt:

– Tặng cô nhánh bông nầy để lấy hên.

Đêm đó, khi về dưới mái nhà tổ đường ở Mỹ Tho, Ánh Nguyệt chiêm bao thấy mình lạc vào con đường với dãy nhà ngói. Trước mỗi nhà là cái cổng có cây bông giấy tím uốn theo vòm cửa bán nguyệt. Mỗi vòm cửa đều hiện lên khuôn mặt của Tuấn. Nhưng ánh nắng tràn tới làm nàng chói mắt. Tỉnh dậy, nàng thấy khung cửa sổ gài sơ, bị gió thổi đẩy mở toát ra để ánh bình minh lọt vào. Nàng mới khám phá ra rằng, tâm hồn trống trải lạnh lạt của mình bỗng dưng động tình xuân với em của Cẩm Hương rồi!

Nhưng Ánh Nguyệt đúng là Ánh Nguyệt! Cô không hổ danh đứa có cái nhìn nhạy bén và tinh khôn nhứt trong bọn. Nàng tỉnh bơ, tuyên bố với các bạn một cách ngon lành:

– Tụi bây nghĩ cũng không quá đáng! Bổn cô nương cảm thấy như có niềm vui âm ỉ trong tim nhưng không hay biết. Để rồi hôm nay, sau khi nghe bọn bây gán ghép tao làm em dâu chị Cẩm Hương, thì tao cảm thấy lòng mình như có làn gió mát thoảng qua, làm lửa tình nhen nhúm bỗng phừng lên hừng hực. Nhưng lửa tình vẫn thua nồi chè thưng của nhỏ Thục An nấu thơm chi mà thơm lạ thơm lùng, làm cho cơn ham ăn của tao lấn áp, nên tao quên đi mọi sự việc vừa le lói sáng thì vụt tắt ngấm trong lòng. Và dù chuyện tình của chị Cẩm Hương sắp kể ra đây có mặn như nước biển, hay đắng nghét như khổ qua, hoặc chua lè như khế tàu, hay chát ngầm như chuối non… đi nữa, thì cũng không bằng sự quyến rũ của nồi chè nầy… Ăn đi, ăn đi tụi bây. Ăn xong bọn mình còn nghe chị Cẩm Hương kể…

Cẩm Hương thầm biết Ánh Nguyệt cảm lăn, cảm lốc em nàng rồi, nên kề tai nói nhỏ với bạn: “Tao biết tẩy của mầy rồi, đừng làm bộ lặn mất để tao đỡ đòn đó nghen”. Nhỏ Ánh Nguyệt làm bộ cúi mặt húp chè rột rột, cười hí hí đánh trống lãng:

– Ông Tà ông Địa ơi, nhỏ Thụy Châu mặc bộ đồ màu đỏ đẹp hết chỗ chê!

Thụy Châu nghe ba chớp ba nhoáng, tưởng Ánh Nguyệt khen mình nên miệng cười tươi như hoa, xoay mình qua, lắc mình lại, vuốt áo quần rồi điệu đà:

– Của ông xã tao đi Singapore công tác, mua về cho tao đó.

Nguyệt Mi cười ngất: “Hèn gì”, rồi bỏ lửng câu nói. Thụy Châu nhìn đứa nầy hết đứa kia, muốn biết ý nhỏ Nguyệt Mi muốn nói gì? Thục An mắng:

– Mầy chậm hiểu quá đi. Nó nói mặc cả quần lẫn áo một màu đỏ, nên mầy giống như cái bao lì xì lớn vậy đó!

Cả bọn lại cười ầm lên. Thụy Châu thôi cười, háy bạn:

– Vô duyên! Thôi đừng có nói giỡn nữa… Bộ tụi bây không muốn nghe chuyện của nhỏ Cẩm Hương sao? Kể đi Cẩm Hương, bà chị thân mến của tụi em…

Mấy đứa bạn, chăm chú ngồi nghe bạn kể chuyện tình. Thụy Châu có chồng rồi, nên trông cô ta có vẻ sành đời hoạt bát lắm. Thục An vẫn ốm, mặn mà nhờ nước da ngăm, có duyên ngầm trong cái cười nửa miệng, chắc chắn đã làm cho anh kép sáp đính hôn điên đảo tâm hồn. Và Thục An có vẻ say sưa khi có dịp nhắc tới đối phương yêu quý của mình.

Nguyệt Mi đẹp, nước da trắng nõn trắng nà, mắt to, mũi cao. Tóc cô ta luôn cắt như bum bê, nhưng không phải mành tương mà trước sau dài bằng nhau, vén hai bên mép tai như mấy cô xẩm ở Chợ Lớn. Cô ta ít nói, điềm đạm, ý tứ, dễ thương. Nhưng lại là đứa đáng tội nghiệp lắm. Cô ta vẫn còn yêu một người đàn ông đã có vợ. Dù biết rằng mối tình đó sẽ gặp nhiều đau khổ trái ngang. Nhờ bạn bè khuyên can, nên nhỏ ngậm ngùi cắt đứt, nhưng làm sao khuyên, cấm được sự thổn thức, sự u uất của con tim!

Tuy anh Thịnh của Thục An bỏ Thụy Châu, nhưng tình bạn hai đứa không vì đó mà sút giảm. Thục An đã khuyên Thụy Châu:

– Anh Thịnh tao chơi đểu với mầy làm tao hổ thẹn với mầy và bạn bè. Giờ đây mầy cũng đã có chồng. Ngày trước, mầy yêu anh tao bằng cả tâm hồn và trái tim. Chắc mầy còn nhớ câu khuyên lơn của Thôi Oanh Oanh bảo Trương Quân Thụy: “Nên đem lòng thuở trước / Thương lấy kẻ về sau “.

Thụy Châu ngậm ngùi:

– Té ra cuộc đời giữa tao và anh Thịnh của mầy cũng hơi giống mối tình giữa Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy trong vở “Tây Sương Ký”

Nhưng chỉ chừng vài tháng sau ngày cưới, cảm được cái tánh khí cao thượng của chồng, Thụy Châu an lòng sống hạnh phúc bên cạnh chồng. Nhưng khi biết được người xưa không hạnh phúc bên cạnh vợ, nàng cảm thấy bùi ngùi.

Cái lầm lỡ của Thịnh phải trả giá quá mắc. Nhưng với Ái Mỹ, Ánh Nguyệt, thì lại khác. Họ coi tên Thịnh là kẻ ham đó bỏ đăng, tham mới nới cũ, thấy trăng quên đèn… bị bất hạnh là đáng kiếp! Và khi gặp chồng của Thụy Châu mặt mày có khí phách, vóc vạc vạm vỡ, ăn nói bặt thiệp vui vẻ, cả hai nhỏ khoái chí tử. Ái Mỹ trề môi dài cả thước:

– Chồng nhỏ Thụy Châu không đi Tây, nhưng bảnh trai, hào sảng, phong nhã có thua gì Tây đâu. Mấy dõng tướng của Tàu như: La Thông, Địch Thanh, Tiết Đinh San thua ảnh cả trăm cây số về sắc vóc…

Ánh Nguyệt cười hí hí, chót chét:

– Ê, tao thấy hình con vợ đầm của tên Thịnh rồi. Ngộ nghiệt gì đó! Con mẹ ấy có sóng mũi như cái mỏ con két, giống như bà phù thủy trong phim “Bạch Tuyết / Bảy Chú Lùn ” vậy. Môi mụ ta mỏng lét như mép con hến, con sò. Tụi bay nhớ lại đi, hình dung đi, giống y hệt như cái miệng con khỉ vậy.

Rồi cả hai dệt cả trăm thứ ác mộng cho Thịnh, rồi vui cười hỉ hả còn hơn dự trăm bữa tiệc ê hê bánh trái và tràn ngập thức ăn ngon. Và phấn khởi trong lòng như đã trả thù dùm cho Thụy Châu. Rồi cả hai kết luận:

– Cho đáng đời kẻ đứng núi nầy trông núi nọ, đương nuôi con chó mà cứ ngó con mèo, đương mặc lụa lèo mà khèo vải ú… Đồ cái thứ chết toi, diều moi quạ mổ, không lỗ mà chui!

Quê ngoại Ánh Nguyệt ở cùng tỉnh Bình Dương với Cẩm Hương. Nhưng gia đình ngoại cô nàng ở chợ, cô là con của chủ vựa gạo, nếp. Nên bạn bè hay ghẹo “Sau nầy, anh chàng nào lấy mầy khỏi sợ đói, mà còn sướng nữa, bởi chuột sa hũ nếp”. Ánh Nguyệt không đẹp lắm, nhưng rất có duyên, nhứt là cái miệng cười và đôi mắt to đen lay láy. Cô trắng trẻo, mảnh khảnh, vui vẻ, lanh lợi, bộc trực, thẳng thắn, xí xọn nên hay dễ mất lòng người khác. Nhớ lúc mới vào trung học, Cẩm Hương và cô chung lớp, ngồi cách nhau một cái bàn, mà hai người chẳng ai nói chuyện với ai. Bởi Cẩm Hương đằm nết, thấy Ánh Nguyệt cứ bô bô cái miệng mắc ghét, nên nàng không thèm chơi. Cho đến ngày kia, không biết đầu câu chuyện ra sao, nhưng khi Cẩm Hương vừa trờ tới ngang qua chỗ bọn họ, thì nàng nghe Ánh Nguyệt cười giỡn, và lớn tiếng khoe khoang với bạn bè:

– Tụi bây biết không? Tao vừa đến thì bao nhiêu đứa bu lại liền.

Trong đám bạn đó, có đứa lên tiếng:

– Tao biết, bởi mầy là cái hầm cầu tiêu mà…

Cả bọn vỗ tay, cười như vỡ chợ! Ánh Nguyệt rượt đánh con bạn vừa mới phát ngôn bừa bãi đó. Đứa chạy trước, đứa chạy theo phía sau, cả hai nhắm mắt hả họng cười ngất ngất, cười ha hả, hét la ơi ới như hai mụ điên… Ánh Nguyệt chạy vô ý nhào vào mình Cẩm Hương làm cả hai té chúi nhủi… Thế là sau đó, hai cô quen và thân nhau.

o O o

Gió thổi mạnh làm quàn quặt cây cành vú sữa ngoài mé hiên, sấm nổ ầm ầm như trời long đất lở, như muốn xé nát không gian, cùng những tia chớp vội, sáng lòe rồi tắt ngấm, báo hiệu cơn giông lớn sẽ đổ xuống vùng nầy. Ngọn đèn búp măng hiệu Aida treo từ trên trần nhà bị gió luôn qua cửa lắc lay. Thục An lên tiếng:

– Tụi bây, chỗ nào ngồi yên chỗ đó, đừng có chạy loạn lại đâm sầm với nhau, để tao đi kiếm thêm đèn cầy.

Ánh Nguyệt lên tiếng:

– Không cho rời chỗ, thì làm sao tụi tao nói chuyện được chớ? Ê, tụi bây có biết là chuyện tình của chị Cẩm Hương trái ngang, đen đúa cho nên ông trời gầm gừ giận dữ, phải không tụi bây?

Chưa ai trả lời Ánh Nguyệt thì Thục An cầm cây đèn cầy le lói đi ra:

– Tao đề nghị, tụi mình đêm nay nằm dưới gạch nói chuyện rồi ngủ luôn. Tuy trời mưa nhưng vẫn nóng quá, tụi bây thấy sao?

Cả bọn bằng lòng. Thế là mỗi đứa nào gối, nào mền, nào khăn lông dài, đứa ôm, đứa đắp, đứa ngồi, đứa nằm lê lết nơi phòng khách rộng lót gạch tráng men được lau sạch sẽ bóng ngời. Ngoài trời mưa đêu đều, mưa rào rạt, càng ngày càng lớn, mưa như cầm chĩnh mà đổ. sấm gầm trời và sét nháng lửa không ngừng… Đã nằm dưới nền gạch, nhưng Thụy Châu không quên nê theo rổ trái cây. Nguyệt Mi cũng mò tìm chén muối ớt. Ánh Nguyệt, Thục An cũng vói lây chén chè đang ăn dở của mình.

Tiếng mưa rơi, tiếng gió thổi ngoài hiên. Mưa tạt vào vách ào ạt, hòa với tiêng nước theo máng xối chảy vô lu sành rổn rổn. Gió mạnh thổi, làm những cây mãng cầu xiêm, mận, nhãn… quanh nhà cọ quẹt vào nhau vào cửa sổ và vào mái ngói rột rẹt. sấm chóp lơi và nhẹ nhưng mưa vẫn đổ ào ào. Cẩm Hương vẫn đều giọng kể lể… Các bạn lẳng lặng nghe, thỉnh thoảng có tiếng thở dài nhẹ, tiếng tằng hắng gằn xuống. Nhưng không đứa nào chen vào ngắt ngang để hỏi, để nhắc, hay để chọc quê… Cẩm Hương kết luận:

– Chuyện của tao là như vậy đó. Nó vừa vô duyên lại vừa lảng nhách. Vậy mà tao cảm thấy đau nhức lắm. Theo tụi bây thì tao phải làm sao? Tao muốn rút lui có trật tự cho rồi. Có lẽ khi trở lại trường, tao sẽ làm đơn xin thuyên chuyển đi nơi khác. Chuyện tình nầy có đến với tao cũng được, đến rồi đi biệt cũng không sao. Tao không muốn mình bị thất vọng và đầu độc cuộc đời dài của mình.

Các bạn lao nhao. Ánh Nguyệt nổi nóng:

– Lỗi đâu phải của chị, chị hãy làm sáng tỏ vụ nầy. Biết đâu mụ Kiều Tâu, hay ả Kiều Tặc… gì đó ganh ghét chị mà giở trò đặt chuyện để phá đám chơi.

Thục An chu mỏ:

– Trong bọn mình, mầy là đứa ít nói, chính chắn, lại khôn ngoan. Nhưng mỗi khi đụng trận rồi thì mầy là đứa chịu chơi nhứt, như con trâu điên có tiến chớ không có lùi như loài tép, loài tôm. Sao bây giờ chưa chi mầy đã muốn bỏ cuộc rồi? Phải phấn chấn lên chớ. Phải về tìm hiểu đời tư của hai con chị thần nanh đỏ mỏ của Thiện Tố mà trả đũa lại tụi nó cho tới sát ván. Đồ cà chớn, vô duyên âm đức sứt bàn nạo, không gạo nấu, không trấu un. Đồ mất dạy, ích kỷ, suy bụng ta ra bụng người… Thật là đồ cái thứ chết tiệt mà, vô duyên vô cớ đi kiếm chuyện với người ta…

Nguyệt Mi, nhăn mặt:

– Trời ui, chị về ở cái vùng cổ quái rồi tánh tình chị cũng nhiễm thói cổ quái luôn rồi! Nếu là em, thì em sẽ hỏi thẳng anh chàng Thiện Tố coi chuyện thế nào? Có đúng như lời hai mụ phù thủy Kiều Tâu, Kiều Tặc đó nói không? Nếu họ có dã tâm phá cuộc tình của chị thì chị hãy làm cho họ “cầu sanh bất đắc, cầu tử bất năng”.

Ánh Nguyệt cười hí hí:

– Ừ, phải làm cho hai mụ ó đâm, tà tâm, mất nết đánh chết cũng không chừa đó, khạc không ra mà nuốt cũng không vào. Phải làm cho họ vĩnh bất an ninh mới được.

Nguyệt Mi nhìn Ánh Nguyệt:

– Thị nầy chỉ giỏi cái miệng ồn ào, cái mồm huyên náo. Có ai thấy y thị dám giết chết con gián, con nhện chưa? Để rồi coi, mai sau có làm vợ anh Tuấn, rủi anh Tuấn xây phòng nhì, y thị sẽ nạt nộ hăm he chồng nghe ớn óc, nổi da gà. Rồi y thị đùng đùng xách dao phay đi bắt ghen. Tới nơi thấy chàng Tuấn ôm con mèo là y thị buông con dao ngã xuống chết giấc cho mà coi.

Cả bọn cười bò lăn bò lộn. Ánh Nguyệt trề môi liếc dài:

– Xì, chừng đó sẽ hay. Mầy đừng có khi dễ tao, rồi đoán mò chuyện khó có thật nghen mậy.

Thụy Châu xen vào:

– Tụi nó nói đúng đó Cẩm Hương. Tại sao mầy phải tránh né mẹ con Thiện Tố? Mầy có gạt gẫm họ đâu? Cảm thấy có lỗi phải là họ chớ không phải là mầy. Mầy muốn bỏ cuộc cũng được. Nhưng không phải âm thầm ra đi, mà trước khi đi phải hỏi cho ra lẽ. Mầy nghĩ xem, Thiện Tố của mầy năm nay bao nhiêu tuổi? Nếu hắn yêu thương ả Ngọc Huệ, cháu nội ông Cả Bảy thì hắn đã cưới rồi, đâu có gì cản trở mà mãi tới nay vẫn chưa tính tới? Tao chưa gặp mặt hắn, nhưng nghe mầy kể, tao biết hắn ta không phải là người dễ thay lòng đổi dạ. Nếu mầy thật sự yêu hắn thì phải vững lòng tin và phải tranh đấu cho tới cùng. Đừng nghe lời nhảm nhí của những kẻ chung quanh mà bỏ cuộc…

Thục An xen vào, càm ràm:

– Đời sao có cái ngữ vô duyên đó! Dùng hạ sách để chia rẽ người ta.

Ánh Nguyệt cười:

– Tao nghĩ rằng đầu óc chứa đầy những thứ dơ dáy xấu xa, đó là sự khôn ngoan của họ. Và nếu trên cõi đời ô trọc nay có địa ngục, thì chắc đó là thánh địa của thứ người nầy!

Cẩm Hương cười buồn:

– Thôi đừng có triết lý bá láp tầm phào nữa. Quan niệm của tao không sôi nổi như tụi bây. Với tao thì việc gì đến sẽ đến, không tranh giành, cũng không xin xỏ. Tao tin rằng, mỗi con người trên thế gian nầy đều có số phần cả, Ơn Trên đã an bài, nếu của tao thì chạy trời không khỏi nắng, trước sau gì cũng của tao. Còn nếu không phải của tao thì cho dù tao có nhốt trong thùng, tới thời cơ thì nó cũng bay cao, cũng chạy mất… Cảm ơn bọn bây có nhã ý khuyên, bảo… Nhưng thôi tao bỏ cuộc! Trong yêu thương mà có lắm chuyện phiền toái quá thì còn dây dưa làm chi? Mệt lắm tụi bây ơi!

Ánh Nguyệt học lóm ở đâu câu hát mà ngâm nga rồi ra giọng thầy đời:

“Ái tình canh chua cá kho, em đừng lo để anh kho dùm cho…” Tụi em nói như vậy, nhưng mọi việc tùy chị quyết định. Em nhắc cho, chị nên phải cẩn thận, đừng dùng những ngón đòn phép độc hại, quá đáng từ hành động cũng như lời nói, để sau nầy khỏi áy náy, hối tiếc. Em nghĩ và mong rằng anh Thiện Tố và chị sẽ gặp hoàn cảnh “tiền hung hậu kiết“. Bây giờ anh chị bị trặc trẹo nhiều thứ, nhưng thế nào cả hai cũng đi đến hôn nhân cho coi.

Các bạn nhìn nhỏ cười khúc khích. Nó nhột, nói như hét:

– Làm gì tụi bây cười? Thiệt đó, tao không nói xạo đâu. Hãy thử một lần nữa tin con Ánh Nguyệt nầy đi.

Cẩm Hương bỗng cười buồn:

– Chị tin Ánh Nguyệt. Trong đám khỉ đột tụi bây đây đứa nào tao cũng tin hết. Nhứt là con Ánh Nguyệt lại sắp là em dâu tao nữa, nếu không tin nó thì tin ai, bây nghĩ có đúng không? Mới nghe con Anh Nguyệt nói thì chí lý lắm, nhưng nghĩ lại thì chẳng có chỗ nào đáng tin cả. Hoặc dựa vào đâu mà tin chớ? Bởi nó tưởng nó là tiên tri không bằng!

Cả bọn cười ầm ỉ chọc quê nhỏ Ánh Nguyệt. Nàng ta nổi nóng quơ gối ném lung tung, thế là cả bọn cùng ném. Thánh thần ơi, nào mền, gối nhỏ, gối lớn, rơi rớt khắp phòng.

Mưa đã tạnh, nhưng gió vẫn còn và luồn lách qua cửa lá sách vào nhà lung lay những màn cửa sồ cửa buồng bằng voan màu xanh da trời lả lướt phất phơ.

Lật bật mà 3 giờ sáng rồi. Bạn bè đã yên bình trong giấc ngủ, thở pho pho đều đều. Cẩm Hương trăn trở không ngủ được. Nỗi buồn cứ đeo đẳng bên lòng nàng. Nàng rón rén đi vào phòng, mở cửa sổ nhìn ra ngoài trời. Cơn gió nhẹ, làm rơi lộp độp những giọt mưa còn đọng lại trên lá, trên cây… Nền trời đen, cao thăm thẳm, in những vì sao lu mờ rải rác đó đây. Hướng tây trăng lưỡi liềm chỉ còn là vệt mỏng lét và lờ mờ trong sương đục… Nàng chép miệng thở dài, khép cửa lại. Làn gió sáng đưa hơi sương lành lạnh vào phòng.

—>Chương 12

This entry was posted in Dư Thị Diễm Buồn, Truyện dài - Tiểu thuyết. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s