TRĂNG BUÔNG (chu sa lan)

Chương 13

Thức và Hiến bước chậm trên con lộ đất dọc theo bờ sông Đồng Nai. Đây là khúc sông nằm trong xã Thường Tân thuộc quận Tân Uyên. Từ Uyên Hưng lên tới chỗ hai người đang đi chừng mười cây số. Bề ngang của mặt sông không rộng lắm chừng bảy tám chục thước thôi. Sau khi uốn một vòng cong thật lớn tại Uyên Hưng, dòng sông Đồng Nai không có nhiều khúc quanh. Đó là một bất lợi cho anh trong việc dàn quân phục kích hai chiếc tàu sắt. Bù lại bờ sông cao hơn mặt nước do đó các khẩu súng máy có thể bắn trực xạ cũng như xạ thủ không phải đứng thẳng người để nhắm bắn vào mục tiêu. Thường thường ở trên cao bắn xuống dễ dàng và chính xác hơn là ở dưới thấp bắn lên.

– Đồng chí nghĩ sao?

Thức hỏi Hiến. Người tiểu đoàn phó trầm ngâm giây lát mới góp lời.

– Đồng chí tính phục kích tàu địch ở khúc sông này tôi thấy có lý hơn. Mình ở trên cao mà địch ở dưới thấp nên mình có cái thế hơn chúng. Ít ra mình không lo chúng bắn trúng mình…

Thức mỉm cười gật gù. Liếc nhanh thượng cấp Hiến từ từ tiếp.

– Mặt sông dù hẹp song cũng còn rộng. Nếu tàu địch chạy giữa dòng thời chúng nằm trong tầm bắn của B40. Nhưng nếu chúng chạy sát bờ bên kia thời hơi xa cho súng của ta…

Thức nhíu mày suy nghĩ. Sau trận đụng độ vừa qua anh mới thu lượm được chút ít hiểu biết về hỏa lực hùng hậu của hai chiếc tàu sắt. Đồng thời sự bại trận cũng làm cho anh bớt đi tính kiêu căng và độc đoán. Bởi vậy anh ta mới mời Hiến đi với mình quan sát địa thế. Hơn mười lăm năm quân vụ, Hiến là người có kinh nghiệm chiến trận nhất của tiểu đoàn.

– Muốn bắn gục hai chiếc tàu sắt ta phải dàn quân theo cách khác. Tôi đề nghị như vầy. Ta dàn một đại đội phía bên phải giả vờ phục kích địch. Đại đội này bắn thật rát cố dồn ép tàu địch về bên bờ chỗ chúng ta đang đứng, nơi ta trí súng nặng như B40 và 57 không giật. Như vậy ta mới có cơ hội để bắn…

Thức đồng ý vì anh ta cũng nghĩ như vậy.

– Tôi để đồng chí toàn quyền bố trí. Mình đánh ban đêm hả?

Hiến lắc đầu cười. Giọng nói của người tiểu đoàn phó tiểu đoàn 317 vang chắc nịch.

– Đánh ban ngày. Phải đánh vào ngay lúc địch nghĩ rằng ta không đánh thời chúng mới không có phòng bị. Từ nào tới giờ ta phục kích tàu toàn ban đêm do đó ban ngày chúng sẽ lơ là…

Thức im lìm nhìn dòng sông. Mặt nước trong lấp lánh sáng dưới ánh mặt trời chói chang của mùa hè. Mấy nhánh cây mục trôi lang thang. Bố trí quân để đánh địch là một chuyện. Địch có lọt vào vòng phục kích của mình không lại là chuyện khác vì nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố khó mà đoán định nhất là yếu tố tâm lý hay nói một cách khác là phản ứng của địch khi bị tấn công. Anh không có đủ tin tức để phỏng đoán. Kẻ chỉ huy hai chiếc tàu sắt tên gì? Thuộc thành phần nào? Học thức ra sao? Kinh nghiệm chiến trận nhiều hay ít? Địch xử dụng thứ vũ khí nào? Sức phá hoại của nó mạnh yếu? Anh hoàn toàn mù mờ về những điều đó.

14 giờ. Nối đuôi nhau và cách nhau chừng năm chục thước, hai chiếc Alpha 11 và 9 xuôi con nước từ ngã ba sông Rạng Đông về Uyên Hưng. Chiếc 11 chạy trước. Quỳnh ngồi trên mui. Nón sắt trên đầu. Áo giáp làm người nóng hừng hực. Mồ hôi thấm ướt lưng. Mồ hôi chảy thành dòng trên mặt. Trời lặng yên không chút gió.

– Nóng quá…

Tuấn càu nhàu. Quỳnh cười nhẹ.

– Mới chảy mỡ có chút mà mày đã la…

Dứt câu anh rút gói thuốc lá trong túi ra đưa mời Tuấn. Nó lắc đầu.

– Nóng gần chết mà hút cháy phổi anh…

Cười khằng khặc Quỳnh rút một điếu đưa lên môi rồi quẹt diêm. Mùi diêm sinh khét nghẹt khiến cho Tuấn phải quay mặt chỗ khác.

– Chừng nào mình mới được nghỉ hả anh?

– Mốt mới tới phiên của mình… Lần này tao cho thằng 9 đi trước…

– Sao kỳ vậy?

– Tại vì nó ít người hơn mình. Nó có năm mà mình sáu. Nó mệt nhiều hơn mình…

Tuấn làm thinh. Nó biết tính công bằng của thuyền trưởng. Không nói gì thêm Quỳnh đưa ống dòm lên quan sát bờ sông bên trái của mình. Thân cây khô chết vì thuốc khai quang đứng trơ vơ. Vài mô đất nhô cao cỏ mọc xanh rì. Bờ đất bên trái thấp hơn bờ bên phải. Nó chỉ cao hơn mặt nước chút ít thôi. Đang rê ống dòm Quỳnh hơi cau mày. Trong bờ có cái gì lấp lánh sáng. Chỉ có hai thứ mới phản chiếu ánh mặt trời là kim loại và mặt kính. Trong bờ đất kia làm gì có dân chúng. Như vậy chỉ có ánh kim khí. Súng… Quỳnh lẩm bẩm. Chiếc ống dòm của anh dừng lại khá lâu nơi chỗ phát ra ánh sáng rồi sau đó mới di động đi chỗ khác.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Anh đi sát bờ bên trái và cho nhân viên chuẩn bị…

– Nó sắp bắn mình hả anh?

Ánh hấp tấp hỏi. Quỳnh trả lời gọn.

– Chưa biết nhưng tao nghi ngờ…

– Tôi sẽ làm theo lời anh dặn…

Bỏ ống nói xuống Quỳnh nói lớn với Sang.

– Nhiệm sở tác chiến…

Sang bấm kèn cho Thành ở trên mui và Kỳ với Chơn đằng sau lái biết để chuẩn bị nổ súng khi có lệnh. Quay sang Tuấn, Quỳnh nói nhỏ.

– Đi gần bờ bên trái…

Tạch… tạch… tạch… Cắc bùm… AK, trung liên nồi nổ rền. Đạn xé không khí vút qua đầu khiến cho Quỳnh phải vội vàng nằm dài trên mui để tránh còn Tuấn phải rút xuống phòng lái.

– Bắn…

Quỳnh hét trong máy 46. Ụ súng 50 hai nòng của Sang nổ trước nhất. Tiếp theo là ụ đại bác 20 ly trên mui và khẩu 12 ly 7 ở đằng sau cùng lúc khai hỏa. Khác những lần bị phục kích, lần này súng trong bờ lại bắn ra dồn dập và dữ dội. Đạn AK ghim vào giáp chống B40 nghe bừn bựt. Đạn réo thành chuỗi âm thanh kinh dị.

– Thẳng vào bờ…

Quỳnh hét vào tai Tuấn. Bàn tay bóp chặt ống nói anh la lớn.

– 9 đây 11… Theo tôi… Thẳng vào bờ…

Hai chiến đỉnh cùng lúc quay thẳng mũi vào bờ đất đang có ánh lửa chớp. Với tư thế này chỉ còn có hai ụ súng 12 ly 7 trước mũi tác xạ thôi. Âm thanh vang lên mường tượng như tiếng rống của hoang thú. Đạn lửa kéo thành dây dài mờ mờ trong ánh nắng chiều. Khi còn cách bờ chừng hai chục thước Quỳnh hét trong máy 46.

– 9 đây 11… hàng ngang…

Tuấn làm theo lệnh của thuyền trưởng. Máy bên trái lùi, máy phải tiến, tay lái quay nhanh về bên phải, chiếc tàu sắt chầm chậm dàn thành hàng ngang song song với bờ đất. Bốn ụ súng nổ cùng lượt. Đại liên 50 bắn gục kẻ nào ló đầu lên hay dứng dậy. Đại bác 20 ly kềm cứng địch không cho bắn trả. M79 tự động rót vào hầm hố. Không có âm thanh nào khác hơn ngoài tiếng súng nổ liên tục của hai chiếc tàu sắt.

Đứng bên này bờ sông, qua ống kính của ống dòm, Thức và Hiến lặng nhìn bảy chục người lính vũ trang đầy đủ của mình nằm chết dí dưới hỏa lực khủng khiếp của địch. Thây người bay tung lên trời cùng với súng ống vỡ vụn. Anh dàn trận phục kích đúng nhưng chỉ có một điều sai là không ước tính được phản ứng của địch. Thay vì dạt về bờ bên phải để tránh, hai chiếc tàu sắt cắm mũi vào ngay chỗ phục kích rồi dùng ưu tiên hỏa lực bắn hủy diệt mục tiêu mà địch quân đang ẩn núp. Yếu tố tâm lý này không được ghi trong sách vở, binh thư hay những gì anh đã học. Nó là kinh nghiệm chiến trận, thứ kinh nghiệm phải trả bằng máu mới có được.

Đang ngồi nhìn vào bản đồ Thức ngước lên khi thấy Huân bước vào. Nhìn cánh tay băng bột của Huân anh cười nhẹ.

– Đồng chí khỏe chứ. Tôi mong được gặp đồng chí…

– Cám ơn đồng chí… Nhờ ơn bác và đảng nên tôi thoát chết trong cuộc phục kích của địch. Tôi chỉ bị gãy tay thôi. Tôi đọc báo cáo…

Thức giơ tay lên như ngăn không cho Huân nói tiếp.

– Hôm trước tôi có nhờ đồng chí…

Hiểu ý Huân ứng tiếng liền.

– Tôi có đưa thư của đồng chí tận tay cô Uyên nhưng chưa kịp trở lại lấy thơ thì bị tụi nó phục kích…

Hơi chồm người qua phía chỗ Thức ngồi, Huân thấp giọng.

– Tôi thấy có thằng lính thủy trong tiệm may của cô Uyên…

Thức cau mày song nín lặng không nói gì hết. Huân lại lên tiếng.

– Hai người nói chuyện có vẻ vui lắm. Cho lính điều tra tôi mới biết thằng đó tên Quỳnh. Nó là thằng chỉ huy hai chiếc tàu sắt…

Huân hơi nhếch môi cười khi thấy lửa giận hiện ra trong mắt của người đối diện.

– Đồng chí còn biết thêm gì nữa?

– Thằng Quỳnh lên nhà cô Uyên chơi hoài. Có khi nó ở cả buổi…

Thức lặng thinh như đang suy nghĩ chuyện gì khiến cho Huân cũng im lìm. Lát sau Thức mới lên tiếng.

– Đồng chí Hiến muốn gặp đồng chí để biết thêm tin tức. Tôi liên lạc với trung đoàn và sẽ gặp lại đồng chí…

Huân bỏ ra cửa. Còn lại một mình trong căn nhà lá Thức mới tỏ lộ sự giận dữ của mình. Cái tin Uyên quen biết với người khác khiến cho anh ta tức bực. Nếu nàng quen biết với ai trong làng chắc anh ta cũng không giận bằng quen biết với thằng lính ngụy. Bây giờ anh mới suy ra lý do Uyên từ chối lời cầu hôn của mình. Hóa ra nàng đã có Quỳnh. Hình dung tới cảnh Uyên ngồi cười đùa vui vẻ với người khác, mà người này lại là kẻ địch của mình; Thức giận nổ đom đóm mắt. Bây giờ anh có thêm một lý do nữa cũng quan trọng không kém lệnh của thượng cấp để bắn chìm hai chiếc tàu sắt. Giết chết Quỳnh, tình địch của mình. Thức nghiến răng. Nếu Uyên không là của anh thời nàng cũng không là của ai hết. Nếu không là vợ anh thời nàng cũng không được phép lấy thằng lính ngụy. Như vậy là phản lại nhân dân, là phản cách mạng. Kẻ nào phản lại nhân dân và cách mạng , kẻ đó phải bị thanh trừng. Thức bước nhanh ra khỏi căn nhà lá sau khi đã dứt khoát tư tưởng và lập trường.

– Quỳnh Hoa… Quỳnh Hoa đây Biên Hùng… nghe rõ trả lời…

Đang nuốt mì gói Quỳnh cầm lấy ống nói khi nghe giọng của trung úy Bình vang trong máy 46.

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng…

– Tiếp liệu cho anh tới U Minh Hiệp Hòa trưa mai. Tôi cho anh nhiều hơn anh yêu cầu…

– Cám ơn Biên Hùng…

– Hổm rày anh có đụng nữa không?

Quỳnh cười hà hà.

– Nó mới bị tôi dũa tả tơi một trận nên chắc im được vài ngày…

Quỳnh nghe giọng cười vui vẻ của trung úy Bình.

– Tình báo tiểu khu cho tôi biết anh đã bắn banh càng một đại đội của tiểu đoàn 317… À quên… Tôi có lương cho anh nữa. Mai anh tha hồ nhậu…

Quỳnh cười hắc hắc trước khi dứt điện đàm với Biên Hùng. Được tin sẽ về Uyên Hưng lãnh tiếp tế và lương, nhân viên của hai tàu đều vui mừng. Ít nhất họ được ngủ yên một đêm.

Nhét khẩu Colt 45 vào lưng quần, khoác thêm cái áo bên ngoài để che, Quỳnh nói với Sang.

– Mày coi chừng tàu để tao đi uống cà phê…

Sang cười cười.

– Anh đi uống trà đá phải hông…

Liếc nhanh đồng hồ Sang tiếp nhanh.

– Anh đừng ở trễ quá nghen. Coi chừng mấy thằng du kích nó rình anh đó…

– Mày đừng lo… Tao sẽ về sớm…

Nói xong Quỳnh nhảy lên bờ. Tay chạm vào khẩu súng của mình anh cảm thấy yên tâm. Khom người đốt điếu thuốc anh rảo bước thật nhanh. Giơ tay chào người lính gác cổng anh bước ra khỏi hàng rào kẽm gai. Trung úy Tiên đã nói cho anh biết lúc này địch hoạt động mạnh lắm. Đi chơi trong làng ban ngày cũng phải mang súng theo, còn ban đêm thời tuyệt đối không nên. Anh biết điều đó nhưng thấy trời còn sớm nhất là mùa hè mặt trời lặn trễ do đó mới đi lên gặp Uyên.

– Anh Quỳnh mới về…

Uyên lên tiếng ngay khi Quỳnh tới cửa. Dường như nàng đã trông ngóng và chờ đợi anh.

– Vừa mới về tới. Ăn cơm xong lên đây liền…

– Cám ơn anh. Uyên cũng… Quần áo của anh may xong rồi…

Ngồi vào chiếc ghế đối diện với bàn máy may Quỳnh cười nhẹ.

– Uyên mạnh. Sao tôi thấy Uyên có vẻ buồn…

– Dạ đâu có buồn… Chỉ tại hai ngày nay bị cảm. Bây giờ cũng chưa khỏi…

– Cảm ai vậy?

Quỳnh hỏi. Uyên liếc xéo ông lính thủy một cái rồi cười hắc hắc.

– Hổng biết… mà chắc hổng phải cảm anh Quỳnh đâu…

– Thiệt hả…

– Thiệt…

– Uyên không cảm tôi thời tôi cảm Uyên…

Quỳnh cười hì hì sau khi nói. Ngưng đạp bàn máy may Uyên ngước lên. Nàng thấy một đôi mắt đang nhìn mình chăm chú.

– Bữa nay có trà đá chanh đường uống không Uyên?

– Dạ có… Biết anh thế nào cũng lên nên pha sẵn cho anh…

– Sao Uyên biết tôi sẽ lên?

– Nghe tiếng máy nổ Uyên chạy ra coi mới thấy tàu của anh. Phải chiếc tàu có vẽ cờ vàng ba sọc đỏ trên cái cục gì tròn vo trước mũi tàu hông?

Quỳnh bật lên tiếng cười ngắn khi nghe Uyên gọi dàn radar bằng cái cục gì tròn tròn. Quẹt diêm đốt thuốc anh nhìn theo dáng đi thướt tha của nàng vào nhà sau lấy nước trà cho mình. Càng nói chuyện, càng quen biết nhiều, anh mới khám phá ra cô giáo làng của mình rất hiếu thảo với cha mẹ, siêng năng, hiền hậu, thật thà và hay giúp đỡ người khác. Tiên nói cho Quỳnh biết là đa số lính trong đồn đem quần áo ra sửa, Uyên chỉ lấy phân nửa giá hoặc đôi khi không lấy tiền. Bởi vậy lính tráng và gia đình của họ ai ai cũng quí mến nàng, ngay cả khi biết nàng có liên hệ với mặt trận. Nói đúng ra thời nhiều người trong làng cũng có liên hệ hoặc liên lạc với mặt trận. Sống trong vùng mà sáng quốc gia, tối vẹm thời dân chúng phải tùy thuận, nắng chiều nào che chiều đó.

– Pha cho anh ly trà đá đặc biệt đó nghen. Trà Bảo Lộc đó… Uyên mới đi ra tỉnh về hôm kia. Mua bịch trà bự để dành pha trà cho anh… Có thêm kẹo đậu phọng nữa…

Vừa cười nói Uyên vừa nhìn Quỳnh với ánh mắt long lanh. Ông lính thủy im lặng uống trà như để thưởng thức mùi vị.

– Ngon… Mai mốt Uyên phải pha trà ngày ba cử nghen… Ghiền nặng rồi…

Cô gái bật cười hăng hắc.

– Chừng nào anh Quỳnh đi?

– Mai… Tôi về đây lãnh lương để trả tiền sửa quần áo cho Uyên…

– Hổng lấy đâu… Uyên đã nói trước rồi mà…

Thấy Quỳnh mở miệng định nói nàng nói tiếp trong tiếng cười hắc hắc.

– Anh để dành tiền mai mốt cưới vợ…

Quỳnh bật cười.

– Uyên chắc biết bài ca dao: Hôm qua tát nước đầu đình?

Ửng hồng đôi má Uyên cười nói nhỏ.

– Biết…

– Uyên có chịu như vậy thời tôi mới không trả tiền…

Lắc đầu quầy quậy Uyên cười nói lảng sang chuyện khác.

– Anh Quỳnh lãnh lương một tháng bao nhiêu?

– Hỏi chi vậy?

– Coi có đủ nuôi người ta không mà đòi… Anh Quỳnh hút thuốc còn hơn khói tàu thời tiền đâu nuôi vợ con…

– Bỏ hút thuốc…

– Xạo… hổng tin đâu…

Uyên cười hắc hắc. Thấy Quỳnh liếc đồng hồ nàng hỏi.

– Còn sớm mà… Với lại từ đây tới cổng đồn có mấy bước. Anh chạy cái vù là tới đồn…

Gật đầu Quỳnh quẹt diêm đốt thuốc. Hít hơi dài, quay mặt ra cửa nhả khói xong anh mới lên tiếng.

– Ủa cô Hưng đi đâu rồi?

– Con Hưng với ba má ra tỉnh chơi mai mới về… Lúc này cũng hơi bớt người đặt may quần áo… Anh Quỳnh kể cho Uyên nghe chuyện gì đây…

Quỳnh cười cười hớp ngụm trà nóng chanh đường trong lúc Uyên từ từ xếp quần áo lại cho ngay ngắn.

– Uyên thích bông hoa?

– Dạ thích ngắm chứ hổng có thích trồng…

Trả lời xong Uyên cười thánh thót. Hít hơi thuốc dài Quỳnh gật gù.

– Tôi kể cho Uyên nghe một truyện về hoa lan…

Cúi đầu nhìn xuống bàn máy may, mắt lim dim, Uyên nghe giọng nói trầm, buồn của Quỳnh cất lên trong ngôi nhà im vắng…

“Mấy mươi năm về trước, du khách ở vùng Thanh Hóa thường khi đi qua chỗ bến đò Ái Sơn, về hữu ngạn con sông Mã, nhận thấy ở vệ đường tay mặt một khoảnh vườn độ bốn năm sào, xung quanh trồng toàn một thứ tre đằng ngà.

Đáng chú ý nhất là cái cổng kiến trúc theo lối cổng bên Phù Tang hải đảo. Nếu khách biết chữ Hán và đọc được chữ thảo Bát hiền đại chủ đời Thanh, thời khách nhận thấy ba chữ tên biệt thự viết phỏng theo lối chữ Tăng Quốc Phiên. Trên cái nền bằng gỗ lim sơn màu ” cấn rượu “, ba chữ thếp vàng ” Túy Lan Trang ” như hoạt động trên miếng bạch thạch cẩn vào gỗ đỏ.

Chủ nhân ” Túy Lan Trang “, một vị hưu quan, từ ngày được nộp lại triều đình chiếc ấn vàng, lui về chỗ huê viên, thường để hết thời giờ vào việc vun trồng, chăm chút một thứ lan rất quý, tìm tận ở Yên Tử sơn, hồi còn tại chức nơi tỉnh Đông ngoài Bắc. Hoa xưa kia, quen cái khí hậu nơi đỉnh núi cao; nhất đán hoa về nơi đồng bằng, hoa không khỏi một phen rầu rĩ với ngày nắng hạ, đêm sương thu chỗ xứ lạ mà lá úa giò gầy. Sớm, chiều hai buổi thăm hoa, chủ nhân lan viên chỉ lo hoa kia chẳng ở mãi với mình, mà cái công ngàn dặm chọn đất lành bọc cỏ quý quảy về quê hương sẽ lấy chi đền chuộc lại. Sau một hồi tàn tạ giữa lan viên, hoa lại bắt đầu cười với gió xuân về. Thoảng mùi lan đượm, ngắm lá lan xanh rờn trên mấy hàng chậu sứ túy lan lớp đất phủ lần vỏ sò cùng hòn cuội trắng, chủ nhân như sống một cảnh đời mới. Rồi lan kia như cảm tình người tri kỷ, ngày một thêm hoa và chả mấy chốc chủ nhân phải lùi lầu trang về một mé huê viên, nhường nơi đất tốt cho cỏ quý nẩy ngọn thêm cành.

Chủ nhân lấy luôn tên giống lan đặt làm tên biệt thự, ngụ cái ý yêu hoa và tỏ cho khách qua đường biết vườn nhà đầy cỏ lạ.

Nhớ đến lời sư cụ chùa Quỳnh Lâm vùng tỉnh Đông dặn lại sau khi cho giống lan, mỗi bận xuân về, sớm sớm, chủ nhân lại phải cho cả vườn Túy lan say với hơi rượu thời cái vương giả hương ấy mới còn ở với người thế gian. Ngày xuân phải bón lan bằng hương rượu, chủ nhân rất lấy làm sung sướng được gần vùng cất rượu ngon có tiếng ở châu Thang là làng Vĩnh Trị. Ái Sơn đối ngạn Vĩnh Trị và đứng ở Túy Lan Trang trông rõ đê làng Vĩnh Trị. Những buổi sớm mùa xuân, mặt nước con sông Mã phẳng lặng như tờ, lại lăn tăn làn sóng nhỏ do mái chèo đập làn nước của một chiếc thuyền nan bơi từ bến ái Sơn sang bến làng Vĩnh Trị. Bọn người sinh nhai chỗ duyên giang, dậy sớm đứng trên mạn thuyền để thở cái không khí trong sạch bình minh vui cười bảo nhau:

– Lại thuyền cô chiêu Tần bên Túy Lan Trang qua Vĩnh Trị lấy rượu cho hoa!

– Phải, cô chiêu Tần, con gái ông chủ vườn Túy Lan Trang đi lấy rượu về bón huê đấy!

Quan án Trần, vì thích chơi hoa, phải giảm những sự chi dùng trong nhà để có đủ tiền đặt thứ ” rượu khê ” cho hoa lan, trị giá hai quan một vò bên làng Vĩnh. Mà mỗi sớm, chèo thuyền đi lấy rượu theo lời cha dặn, cô chiêu Tần đã diễn ra trên dòng nước sông Mã một cái cảnh tượng giống như trong tranh thủy mặc của người Tàu. Một người con gái mà cái dáng điệu dịu dàng đã in theo khuôn nhịp chốn đài trang, tóc búi cánh phượng, áo mặc rộng tay màu thiên thanh, chân đi dép cỏ mà lại thực hành một cái ý nghĩ chan chứa màu thơ – ngày xuân cảnh sớm, bơi thuyền lấy rượu cho hoa – đủ làm cho lãng tử được thấy cái đẹp ấy phải đưa mình vào mộng…”

Quỳnh ngừng lại đúng lúc Uyên ngước lên. Hai người lặng nhìn nhau giây lát rồi sau đó Uyên đứng dậy.

– Anh Quỳnh chờ Uyên đi gài cửa sau lại. Uyên ở nhà một mình sợ ma…

Quỳnh cười gật đầu.

– Người hổng sợ mà lại sợ ma…

Uyên đi mang theo tiếng cười. Vài phút sau nàng trở ra trên tay cầm dĩa kẹo đậu phọng. Hai người vừa ăn kẹo vừa cười đùa vui vẻ. Nuốt miếng kẹo, uống ngụm nước trà cho thông cổ Quỳnh cất giọng trầm khàn kể tiếp câu chuyện.

“Vươn mình trên con ngựa bạch tuấn, cậu ấm Hai ghì cương, xuống yên, buộc ngựa vào gốc thùy dương, rồi đi tản bộ đến một cái quán dựng trên đê. Ngồi trên bệ đắp bằng đất sét, cậu ấm Hai như chờ đợi một người và muốn giết thời giờ, luôn tay phe phẩy cái roi ngựa làm bằng cành liễu khô bẻ ở cổng huyện Đông Sơn là nơi người cha ngồi chức Huyện úy. Cậu ấm Hai ngồi chờ cô chiêu Tần đi lấy rượu về. Ngồi đợi người yêu lâu quá sức đợi và khi cúi mặt nhìn nền mặt đất chực chỗ quán nước, cành liễu khô đập luôn luôn vào đôi má chiếc giày tàu bằng nhung đen đế gai xe tám sợi, không đủ cho người quên hết những ý nghĩ về thời gian một khắc một chầy, cậu ấm Hai lại cất mình lên ngựa cho khuây khỏa nỗi lòng khi vắng bạn. Con bạch tuấn được lỏng cương vế, cũng uể oải lê bốn vó trên đường. Vó câu một bước lại dừng, con bạch tuấn còn mê man những đám cỏ non của ngày xuân phủ kín mặt đê dài. Rồi vẳng tiếng hát nơi đầu sông đưa lại. Cậu ấm Hai nhận thấy được tiếng người quen, gò đôi cương nâng cao đầu ngựa trắng; lỏng tay buông tay khấu, lần bước dặm đê, ngựa đã từ từ đi xuống nơi dốc chỗ bến đò. Cậu ấm Hai, cô chiêu Tần cùng nhau thi lễ: người xuống ngựa, khách dừng chèo, nơi giang đầu lại có cái cảnh tượng như hệt cảnh tả trong bài thơ của Bạch Lạc Thiên.

– Xin lỗi công tử đã dầy công chờ tiện nữ. Dưới Nguyệt viên vào đám, đặt nhiều rượu ở bên Vĩnh Trị, nên hôm nay qua lấy rượu cho lan phải đợi lâu. Vậy công tử sang bản trang từ bao giờ?

– Án từ nơi huyện đã xong nên bữa nay gia nghiêm muốn qua Túy Lan Trang xem hoa nở. Gốc trầm Quảng Nam buộc ở đầu ngựa này sẽ dùng để đốt lên trong khi lệnh nghiêm và gia nghiêm cho phép tiểu sinh ngồi trì hồ.

– Quan Lệnh doãn cho công tử mang trầm qua Túy Lan Trang như mỗi lần hội diện cùng gia nghiêm, thời bên bàn rượu, trước những giò lan nở, tiện nữ lại một phen được nghe lại tiếng đàn thập lục của công tử…

Quan Lệnh doãn huyện Đông Sơn là bạn thân và là khách quý của quan án Trần bên Túy Lan Trang. Ngày còn làm kẻ thư sinh, hai ông già ấy, đã cùng thi một trường, thụ giáo một thày và xuất thân cùng một hội. Sóng nước bể hoạn, tuy không làm chìm đắm nổi khách công danh trong khoảng mấy chục năm trời, nhưng cũng đã làm cho hai người đòi phen tơ tưởng lúc xa nhau. Hoạn hải từ ngày thuyền buộc bến, quan án Trần về ở Túy Lan Trang, cho là một cái diễm phúc được vui tuổi già gần người cố hữu. Rồi muốn cho cái tình thân ấy được thân hơn một bực nữa, đôi bạn già ngỏ ý cho nhau rõ rằng sẽ đi lại với nhau bằng cái tình thông gia gây nên bởi cuộc phối hợp nay mai của hai trẻ. Đều là người hiểu rõ cái lẽ sự vật trên thế gian, hai ông già không chịu uốn mình theo lề thói giả dối và thực hành cái luân lý khổ khắc với đôi trẻ thơ. Cho nên còn ở cái thời kỳ vị hôn phu và vị hôn thê mà cậu ấm Hai cùng cô chiêu Tần thường được gặp nhau và trò chuyện. Nếu cuộc đời cứ theo cái nhịp êm đềm mà đưa đôi già, đôi trẻ ấy đi với ngày lụn tháng qua, thời chân hạnh phúc của con người ta, tạo hóa có lẽ dành riêng cho nhà họ Trần và nhà quan Lệnh doãn Đông Sơn. Lạc thú hai gia đình ấy ví có thời mé lầu Túy Lan Trang bày chi thiên lệ sử; khách tài tình phỏng ngàn năm không để giận thời giống lan kia, còn cợt mãi gió xuân về! Nếu hầu hết những hạnh phúc đều giống nhau ở chỗ ấm cúng, êm đềm, đầy đủ thời mỗi nghịch cảnh lại có bộ mặt riêng tùy theo cái đau đớn của người trong cuộc…”

Uyên ngồi im nhìn ra cửa. Hàng cây trứng cá trở thành xanh đậm vì ánh mặt trời đã tắt. Tiếng trẻ con đùa giỡn không còn nữa. Không khí nhuốm chút quạnh hiu và buồn bã. Quỳnh ngưng kể chuyện vì bận ngắm khuôn mặt của cô gái đang ngồi đối diện. Hàng mi cong cong. Chiếc mũi thẳng. Hai gò má hơi cao. Miệng nhỏ hình trái tim. Đôi môi hồng tự nhiên. Chiếc áo bà ba trắng cổ hình trái tim. Mái tóc dài đen xỏa xuống lưng. Hai màu tương phản tạo nên hình tượng sống động nhờ ánh mắt long lanh sáng lên trong căn nhà sắp tối.

– Trời đã tối… Anh Quỳnh nên đi về… Rủi có gì…

Liếc nhanh ra ngoài đường thấy trời tôi tối, Quỳnh giơ tay xem đồng hồ thấy cây kim giờ chỉ số 8 còn cây kim phút chỉ số 12, Quỳnh nhẹ cười.

– Mới có 8 giờ. Sắp tới lúc lâm ly và gay cấn rồi… Để tôi kể hết cho Uyên nghe…

Uyên gật đầu cầm ly nước trà lên uống ngụm nhỏ. Tằng hắng Quỳnh cất giọng.

– Năm Ất Dậu, đời vua Đồng Khánh…

Cạch… Cạch… Cạch… Vừa kể tới đó Quỳnh chợt ngưng lại. Uyên quay đầu nhìn về phía nhà sau khi nghe tiếng gõ cửa vang lên. Tiếng gõ cửa mạnh hơn và gấp gáp hơn. Uyên nhìn Quỳnh và thấy anh cũng đang nhìn mình.

– Uyên ơi… Mở cửa… mở cửa… Anh đây… Thức đây Uyên ơi…

Uyên thấy Quỳnh có cử chỉ khác lạ khi nghe người ở ngoài kia xưng tên Thức. Bàn tay của anh tự động bỏ vào trong áo khoác đồng thời nét mặt có vẻ căng thẳng và hơi thoáng lo âu.

– Uyên ơi mở cửa… Anh Thức đây Uyên ơi…

Uyên đứng bật dậy. Bước qua chỗ Quỳnh đang ngồi nàng thì thầm vào tai anh.

– Anh vào phòng của Uyên đi… Lẹ lên…

Thấy Quỳnh hơi ngần ngừ nàng nắm tay anh lôi tuột vào phòng rồi chỉ xuống chiếc giường trống bề bộn mền gối. Hiểu ý Quỳnh nằm xuống kéo mền trùm kín. Uyên bước ra. Nằm im Quỳnh vừa hồi hộp và lo âu. Anh nghe tiếng cửa mở, tiếng nói chuyện lao xao xen lẫn tiếng cười nho nhỏ. Thật lâu mới có tiếng mở cửa rồi sau đó im lặng. Tiếng chân bước nhẹ vào phòng.

– Anh Quỳnh…

– Tôi đây…

Quỳnh kéo mền xuống. Trong bóng tối mờ mờ anh thấy bóng người đang đứng cạnh giường ngay chỗ mình đang nằm. Uyên nhìn người lính đang nằm trên chiếc giường ngủ của mình. Nàng có thái độ lo âu, băn khoăn và do dự như bị du vào tình cảnh khó giải quyết. Tiếng của Quỳnh thì thầm cất lên trong bóng tối mờ mờ.

– Họ đi rồi hả Uyên?

– Dạ đi rồi…

– Anh về tàu…

Quỳnh nói trong lúc ngồi dậy. Uyên kêu nhỏ với chút hốt hoảng.

– Không được đâu anh ơi… Anh đi ra lúc này là họ bắt anh liền… Với lại cổng đồn đã đóng rồi…

Quỳnh cười trong bóng tối.

– Không sao đâu… Lính trong đồn họ biết mặt anh…

Do dự giây lát Uyên mới thì thầm.

– Uyên nghĩ… Chắc anh phải ở lại đây đêm nay… Uyên…

Hiểu ý Quỳnh lên tiếng.

– Anh ở lại đây cũng không tiện cho Uyên…

– Uyên biết nhưng anh đi về giờ này nguy hiểm lắm…

Không đợi Quỳnh hỏi, Uyên từ từ nói cho anh biết là lính của mặt trận đã bí mật về làng dò xét tình hình. Dường như họ muốn làm việc gì đó rất quan trọng mà nàng không biết.

– Thức là ai vậy Uyên?

Quỳnh hỏi một câu mà anh đã biết câu trả lời. Tuy nhiên anh vẫn hỏi vì muốn biết Uyên có thành thật với mình không.

– Dạ…

Uyên ngập ngừng. Quỳnh nghe được tiếng thở dài của nàng.

– Dạ… Thức là bạn của Uyên lúc hai đứa còn đi học trường tỉnh. Đang học năm đệ tam Thức bỏ học tham gia mặt trận. Anh ta thương Uyên và muốn lấy Uyên làm vợ…

– Uyên bằng lòng?

Uyên thở dài. Quỳnh nghe tiếng thở dài của nàng thật buồn.

– Lúc đầu Uyên cũng bằng lòng nhưng từ khi…

Quỳnh nghe tiếng nói của Uyên vang lặng lẽ trong bóng tối.

– Khi gặp anh thời Uyên thấy mến anh nhiều hơn…

Quỳnh đưa tay ra nắm lấy tay Uyên bóp nhè nhẹ. Nàng cũng để yên không rụt tay lại. Có tiếng muỗi vo ve và gió rì rào cành cây so đũa bên ngoài cửa sổ.

– Anh phải ở lại đây cho tới sáng. Anh đi về là bị họ bắt liền…

– Uyên dám chứa anh hả?

Quỳnh cười khẽ sau khi hỏi. Uyên cũng cười thành tiếng nhỏ.

– Hổng dám chứa cũng phải chứa… Mai mốt chắc Uyên không dám đòi anh kể chuyện cổ tích cho Uyên nghe nữa…

Ngừng lại giây lát nàng tiếp bằng giọng nghiêm nghị.

– Để cho họ bắt anh là Uyên sẽ ân hận suốt đời…

Quỳnh siết chặt bàn tay của cô gái. Hai người im lặng thật lâu Uyên mới lên tiếng.

– Anh ngủ bên giường của Uyên đi. Còn Uyên ngủ giường của ba má… Anh kể tiếp chuyện Túy Lan Trang để ru Uyên ngủ đi anh Quỳnh…

Nằm trên giường, mũi ngửi được mùi hương thoang thoảng, Quỳnh cảm thấy tâm hồn thật thanh thản và bình yên. Giọng nói của anh cất lên nhẹ như tiếng thì thầm.

“Vùng Hoan Ái phải qua cơn binh lửa gây nên bởi loạn Văn Thân. Cũng có người lấy danh nghĩa mà dúng tay vào công cuộc phá hoại; nhưng vứt đâu cho hết những kẻ lợi dụng thời cuộc, làm cho thỏa thích lòng dục trong lúc giao thời trắng đen không tỏ rõ. Cái thời loạn! Mà thời loạn thời trai thời loạn chứ sao? Cô chiêu Tần sống vào buổi non sông mờ cát bụi, đã đành trông ngóng cái thời bình. Cậu ấm Hai gặp lúc loạn ly, không những không có thủ đoạn của kẻ làm trai thời loạn, mà còn tỏ cho người thời ấy biết rằng một kẻ thư sinh chỉ có cái tâm hồn lãng mạn là một người chọn lầm thế kỷ. Chọc trời khuấy nước, trong khi người ta ham chuộng cái sức khỏe mà chỉ biết có ngón đàn, hiểu có hồn hoa, thời ở tâm người tài tử, buồn, tủi, cực đến dường nào! Trước những cái tin máu, xương thành sông núi, trăm họ bị làm cỏ, hai trái tim thơ ngây, của cô chiêu Tần và cậu ấm Hai, đều đập chung một điệu hãi hùng. Riêng về phần quan án Trần, thời thân già đã không lấy làm quan tâm đến vóc xương khô, còn những lo cho hoa, làm sao ngăn nổi gót chân đám người ô hợp nếu một mai chúng tràn đến.

Quan Lệnh doãn Đông Sơn lo việc tuần tiễu quân nghịch cũng thưa đi lại trên quan án Trần. Nơi Túy Lan Trang, hoa thường vẫn nở, người thường vẫn không chểnh mảng việc vun xới cho hoa mà chỗ lan viên lần lần như đã thấy cảnh điêu tàn. Không phải tại người, không phải tự hoa; chỉ tại cái không khí nặng nề của thời loạn phảng phất trên chỗ hoa viên.

Một đêm kia, về quãng cuối năm Bính Tuất, mưa tuôn rả rích, gió thổi vù vù, một cái đêm đông đầy những sự bí mật tối đen.

Cô chiêu Tần, kinh động mở mắt dậy. Mé lầu trang lửa đỏ ngất trời. Tiếng người đi lại nhộn nhịp. Tiếng người quát tháo dữ dội. Họ nhét giẻ vào miệng cô chiêu Tần, rồi vực đi. Chỗ bến đò Ái Sơn, bốn chiếc thuyền từ từ dời bến. Đứng trên mui thuyền có tiếng người con gái gào khóc, một người vạm vỡ mặc quần áo đen, quấn khăn đầu rìu, tay cầm một cây ” hồng ” đốt bằng giẻ tẩm dầu, soi sáng quắc mặt nước con sông.

Bên Túy Lan Trang, lửa vẫn đỏ ngọn mà tịnh không ai cứu hỏa. Tre và gỗ chỗ lầu trang thi nhau mà cháy trước những ngọn lửa xanh lè liếm quanh loài thảo mộc. Lúc mà ngọn lửa đám cháy không soi rõ những đám lan xanh rờn trên chậu sứ, thời canh đã sang tư. Đêm tăm tối buông một bức màn bí mật, lạnh lẽo lên trên chỗ hoa viên tàn tạ. Chỗ đầu sông, đàn đóm lập lòe nơi bến nước, gió đêm vi vút bãi lau già!

Sớm hôm sau, các người ở vùng đấy, ngồi triết lý suông, giữa hai ngụm nước chè tươi nơi quán:

– Quan án Trần cũng vì bị kinh động, cảm xúc mạnh quá mà chết. Cô chiêu Tần, thuyền cướp mang đi. Cái biệt thự kia bị cháy ra tro. Cho hay sống vào thời loạn, cái phú quý và cái sắc đẹp cũng nhiều khi là cái mầm vạ lớn.

Từ khi lan vắng chủ, từ khi hoa không người nâng giấc, giống cỏ quý kia cũng quyết tạ theo tri kỷ, thề không ở lại với thế gian. Vả chăng người giai nhân đã đi, cái hào hoa cũng tận. Cái thuật cất ” rượu khê ” bên làng Vĩnh Trị, cũng không ai truyền lại cho ai nữa, để lại một mối tiếc cho ” làng men ” mỗi khi nhắc tới cái phong vị hồi cận đại.

Sau cái đêm dữ dội ấy, cây cỏ nơi Túy Lan Trang đều một loạt ủ rũ như để tang cho người thiên cổ. Tơ liễu khóc mưa, tóc tùng reo gió, bóng tre lìa bụi, đều ngậm một cái tình buồn trước cái hương trời lăn lóc khoảnh vườn hoang. Lan đã biết tạ chủ, thời cỏ cây kia há kém ai!

Để lại bên sông một khoảnh đất cao hơn mặt ruộng, đứng xa trông như một cái gò phát bằng ngọn, ngày nay, Túy Lan Trang chỉ còn là một chỗ đi về của đám mục đồng. Tụi trẻ kia không biết kính trọng cái âm phần của giống Túy lan khi yên giấc sau lúc tạ chủ, cho trâu bò giẫm nát cả mồ hoa!

Thiên ” thảm sử Túy Lan Trang ” cũng đi theo với thời gian và bị xóa nhòa trong trí nhớ người đồng thời. Ngày nay du khách đi qua vùng Ái Sơn đất Thanh Hóa, nghe thấy những danh từ ” Gò Lan Tạ ” và ” Quán Cậu Hai ” phải hỏi mãi mới ra nghĩa cũ. Gò Lan Tạ là nền tảng Túy Lan Trang và là cái nơi vùi hoa lan; Quán Cậu Hai là nơi cậu ấm Hai nghỉ ngựa trước khi gặp người ngọc chỗ lầu trang, vẫn hết sức giơ cái thân tàn chịu lấy cái gió mưa nơi đầu bến. Gò, quán kia đã ghi vào trong tâm trí khách chơi hoa một cái kỷ niệm buồn rầu. Vườn xuân lan tạ chủ; đàn đóm lập lòe nơi bến nước mà gió đêm vi vút bãi lau già… ”

(Nguyễn Tuân
Tiểu Thuyết Thứ Bảy – 1935)

—>Chương 14

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, Chu Sa Lan. Bookmark the permalink.