TRĂNG BUÔNG (chu sa lan)

Chương 8

Đêm thăm thẳm. Mông lung. Yên lặng. Sao mờ mờ trên cao vì bị mây che. Gió bốc lên từ mặt sông mang theo hơi nước gây gai lạnh. Thành phố Biên Hòa sáng mờ mờ về hướng đông bắc. Chiếc Alpha 11 lầm lủi xuôi con nước về ngã ba Rạch Ông Tiếp. Từ 20 giờ cho tới 2 giờ không biết nó đã tuần tiễu bao nhiêu lần khúc sông từ Uyên Hưng tới Rạch Ông Tiếp. Ủ mình trong chiếc áo ấm Quỳnh ngồi co ro trên mui tàu. Bên cạnh anh Chơn im lìm lái tàu. Nếu không có tiếng máy tàu nổ xình xịch chắc hai đứa đều chìm vào giấc ngủ. Mặt sông sáng lấp lánh như có lân tinh hiện ra trong ống kính của chiếc starlight scope. Vì thiếu ánh sáng của trăng sao nên cảnh vật trong bờ hiện ra khi mờ khi tỏ. Hàng cây dọc theo bờ sông nhô lên cao.

– Anh buồn ngủ chưa?

Chơn lên tiếng. Quỳnh nói chậm và nhỏ.

– Chưa… Tao uống cà phê lúc 9 giờ… Chắc phải bốn năm giờ tao mới ngủ được… Mày buồn ngủ cứ kêu thằng Tuấn dậy rồi đi ngủ…

Quỳnh nói như thế vì biết Chơn đã ngồi lái từ lúc 11 giờ cho tới bây giờ.

– Tôi thức với anh… Uống cà phê tôi không ngủ được…

Quỳnh cười lặng lẽ trong bóng đêm. Lại thêm một thằng giống mình. Uống cà phê vào là hai mắt mở trao tráo. Mệt, ngáp dài ngáp vắn, song chui vào giường thời lại lăn lộn, trở trăn cho tới sáng mới thiếp đi. Riết rồi quen lấy đêm làm ngày. Sống trái với trật tự thiên nhiên anh cảm thấy mình già nua, mỏi mệt và đôi khi gây ra những xáo trộn tâm tư rồi tạo thành cơn khủng hoảng ngấm ngầm. Dù cấp bậc thấp và chỉ huy có năm mười nhân viên song trách nhiệm lại nặng nề. Hai chiếc tàu phải ngày đêm tuần tiễu một khúc sông dài nhiều nguy hiểm. Ngoài ra còn phải chở lính địa phương quân đi phục kích đồng thời các cuộc hành quân hổn hợp với bộ binh đã làm anh và nhân viên mệt đừ vì làm việc liên tục lại không được nghỉ ngơi.

– 11 đây 9…

Quỳnh uể oải nhấc lấy ống nói của máy 46 khi nghe giọng nói nhừa nhựa của Quốc vang vang.

– 11 nghe 9…

– Ủa mày còn thức à?

Quốc hỏi với giọng ngạc nhiên. Quỳnh chép miệng. Anh cảm thấy thèm ly cà phê nóng và điếu thuốc lá đầy mùi thơm quyến rũ.

– Còn thức. Mày chưa ngủ?

Quốc cười hì hì.

– Ngủ đếch gì được… Sao không thấy mấy Ông Địa la lối gì hết…

Quỳnh ngáp một cái muốn trẹo quai hàm. Anh chẳng cần đưa tay lên che miệng làm gì bởi ở giữa chốn không người này chẳng ai cần anh phải có cử chỉ lịch sự.

– Chắc mấy ổng kiếm chỗ khò rồi…

Có tiếng cười khằng khặc của Quốc vang lên.

– Mốt về Biên Hòa nghỉ xả hơi tao với mày đi nhậu nghen…

Thấy Quỳnh im lặng nó cười tiếp.

– Tao bao mày…

Quỳnh nói trong tiếng cười vui vẻ.

– Ừ… 33 nghen… Tao ớn đế… Tao hết tiền rồi…

– Mày mới lãnh lương mà sao mông tại vậy…

Liếc nhanh Chơn đang ngồi bên cạnh Quỳnh nói nhỏ. Giọng của anh nửa nghiêm nửa giỡn.

– Đi chơi với bồ…

Quỳnh nghe tiếng thằng bạn thân từng chia cơm xẻ áo và sống chết với mình cười khằng khặc trong máy truyền tin.

– Thiệt hông mậy… Ai mà xâm mình vậy. Tao phải gặp mặt để coi cô gái nào gan cùng mình…

Bật thành tiếng cười Quỳnh khỏa lấp như không muốn nói chuyện tình của mình nữa.

– Thôi dẹp chuyện đó mai mốt nói sau… Tao đi hút thuốc. Mấy giờ mày mới bốc Ông Địa…

– 5 giờ… Tao cũng đi khò một chút…

Đặt trả ống nói về chỗ cũ Quỳnh nói với Chơn.

– Tao đi hút thuốc rồi tao gọi thằng Tuấn thế chỗ cho mày…

Chơn im lặng gật đầu nhìn theo Quỳnh đi ra sau lái. Nhấc bình cà phê thấy còn ấm Quỳnh rót hết vào chiếc ly bằng nhựa. Hớp ngụm nhỏ anh nhăn mặt. Cà phê có mùi khen khét và vị chua chua. Lầm bầm mấy tiếng anh ngồi lùi vào trong hầm máy rồi khom người đốt thuốc. Giơ tay xem đồng hồ anh thấy 4 giờ sáng. Mặt sông tối mờ mờ. Xa xa về hướng Đông Bắc một vừng ánh sáng hắt lên trời cho anh biết đó là thành phố Biên Hòa. Xa hơn nữa về hướng Đông Nam là Sài Gòn. Cả hai đều gần sao anh cảm thấy xa lắc xa lơ. Đôi mắt long lanh và ngây thơ của Hy hiện ra. Mái tóc dài buông lơi trên vai áo học trò trắng. Giọng cười của nàng nghe mơ hồ và hình như bị át bởi tiếng máy tàu nổ rì rầm. Uống cạn ly cà phê và hút hết điếu thuốc xong anh đánh thức Sang và Tuấn thức dậy thế chỗ cho mình và Chơn. Để nguyên quần áo và giầy vớ anh nằm vật xuống chiếc giường của mình.

Đang mơ màng Quỳnh ngồi bật dậy khi nghe tiếng súng nổ. Vừa chui ra cửa anh nghe tiếng của Ánh, thuyền phó chiếc Alpha 9 vang vang trong máy 46.

– 11 đây 9… Nó bắn… Nó bắn trúng tụi này… Nghe rõ không trả lời…

Leo lên mui Quỳnh cầm lấy ống nói.

– 9 đây Quỳnh Hoa…

Linh cảm có chuyện gì quan trọng xảy ra, Quỳnh dùng danh hiệu truyền tin của riêng mình để liên lạc.

– Quỳnh Hoa đây 9… Nó bắn trúng tàu… ngay chỗ anh Quốc ngủ…

Quỳnh lặng người giây lát xong hét vào tai của Tuấn.

– 1700… Rạch Giữa…

Tuấn đẩy mạnh cần ga. Hai máy dầu cặn rú lớn. Chiếc tàu sắt rẽ nước tiến về điểm hẹn với toán lính đi kích của địa phương quân. Súng trên chiếc Alpha 9 nổ rời rạc. Quỳnh nhận ra chỉ có tiếng đại bác 20 ly mà thôi. Đưa ống dòm lên quan sát anh thấy từng tia lửa từ trong bờ xẹt ra giữa sông. Điều này chứng tỏ địch đã dàn trận đánh lớn nhằm mục đích tiêu diệt hai chiếc tàu sắt.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Báo cáo tổn thất cho tôi biết…

– 1 chết và hai bị thương… Một máy tàu bất khiển dụng… Anh Quốc chết rồi anh…

Quỳnh nghe giọng nói của Ánh nghèn nghẹn và sũng nước mắt. Khi tàu tới gần hơn anh nhận ra chiếc Alpha 9 đang lềnh bềnh giữa sông. Đạn lửa của khẩu đại bác 20 ly kéo thành dây dài lê thê xói vào hàng cây đen mờ mờ trong bờ. Đại bác 20 là đạn chạm nổ thành ra sức công phá không mạnh mẽ vì vậy hủy diệt mục tiêu không có hiệu quả bằng M79. Vị trí của địch chỉ cách chỗ toán kích của địa phương quân rất gần có lẽ chừng vài trăm thước. Điều này cho anh biết địch khôn ngoan không chận đánh toán đi kích mà dàn trận chờ đánh tàu. May mà chiếc Alpha 9 chưa vào sát bờ nếu không nhân viên trên tàu sẽ bị chết hoặc bị thương nhiều hơn nữa.

Quỳnh gọi lớn. Giọng của anh nghiêm như ra lệnh

– Kỳ…

– Dạ anh gọi tôi…

– Rót M79 vào bờ…

Hiểu ý của Quỳnh, Kỳ nhanh nhẹn rời ụ súng đại bác 20 ly để ra sau lái điều khiển khẩu M79 tự động trong lúc Thành thế chỗ cho Kỳ.

– 9 đây 11…

– 9 nghe 11…

– Ngưng bắn đi. Để tôi bắn hủy diệu mục tiêu…

– 9 nghe 11…

Đợi cho chiếc Alpha 9 dứt tiếng súng Quỳnh nói với Tuấn.

– Để tao lái, mày ra sau phụ tiếp đạn cho thằng Kỳ…

Ngồi vào ghế lái Quỳnh đẩy mạnh cần ga. Chiếc Alpha 11 vọt chênh chếch vào trong bờ. Ụ súng đại liên 12 ly 7 của Sang, khẩu đại bác 20 ly trên mui và khẩu đại liên 50 đằng sau lái do Chơn xử dụng bắt đầu khai hỏa nhằm kềm cứng địch quân không cho ngóc đầu lên để bắn tàu. Khi chiến đỉnh còn cách bờ chừng ba chục thước, khẩu M79 tự động của Kỳ bắt đầu rót vào mục tiêu. Những tiếng bụp bụp nổ đều đặn rồi vài giây đồng hồ sau tiếng lựu đạn nổ ì ầm, liên miên bất tận. Ánh lửa lóe lên sáng rực trong đêm tối sắp tàn. Khoảnh đất nhỏ hẹp dọc theo bờ sông như bị nóng, bị nung chảy bởi hàng ngàn viên đạn đủ loại. Một tay lái tàu, một tay cầm ống dòm quan sát, Quỳnh thấy lửa nháng sáng rực trong hàng cây đen mờ. Địch quân không bắn trả lại phát súng nào trước hỏa lực mạnh mẽ của chiếc Alpha 11. Lát sau tiếng M79 thưa dần rồi ngưng hẳn. Mấy ụ súng khác cũng thôi tác xạ. Hai chiến đỉnh cặp vào nhau. Ứa nước mắt Quỳnh ngồi nhìn thi thể của thằng bạn thân. Quốc nằm im trên chiếc giường bố. Nét mặt thật bình thản. Hai mắt nhắm lại như ngủ. Không có thương tích gì ngoài lỗ sâu hun hút nơi ngực trái. Máu đỏ phụt ra ướt đẫm áo. Anh thở dài nhè nhẹ. Nó đã đi trước anh một bước để trở về với gia đình nơi căn nhà nhỏ trong vùng đất của thành phố Nha Trang có cái tên Rọc Rau Muống. Đưa tay vuốt mắt thằng bạn thân anh lẩm bẩm.

– Mày nói bao tao chầu 33 mà sao mày lại thất hứa…

Hộ tống chiếc Alpha 9 tới căn cứ Long Bình xong Quỳnh ra lịnh cho Tuấn lái tàu trở về Biên Hòa. Khi tới ngay ngã ba Tân Vạn, không biết nghĩ sao anh bảo Tuấn rẽ bên phải thay vì đi thẳng. Tuy hơi ngạc nhiên và thắc mắc song Tuấn vẫn làm theo lệnh. Hiểu ý người lính dưới quyền Quỳnh cười nhẹ giải thích.

– Mình đánh một vòng thăm dân cho biết sự tình…

Cười hắc hắc Tuấn hỏi.

– Có phải Cù Lao Phố không anh?

Quỳnh gật đầu. Nắng tháng chạp vàng ươm. Anh nhớ lúc còn đi học ông thầy sử địa đã dạy là miền Nam có hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 cho tới cuối tháng 10. Mùa mưa nóng và ẩm ướt. Mùa khô và mát từ tháng 11 cho tới cuối tháng 4. Tuy nhiên ông thầy còn nói thêm là từ tháng 12 cho tới tháng 2 là tháng khô và mát mẻ nhất. Theo ông ta thời đây là một mùa khác của khí hậu miền Nam. Sau này khi rời khỏi ghế nhà trường, đi đây đi đó cộng thêm kinh nghiệm, anh mới nhận biết lời giải thích của ông thầy sử địa rất đúng. Ở Cà Mau khí hậu khác biệt khá nhiều với Tây Ninh, Biên Hòa. Mùa mưa ở đây tới chậm hơn và lại ngắn hơn ở Cà Mau. Mùa khô và mát vì vậy lại dài hơn. Đó là lý do anh thích nhất vì nhằm vào dịp Tết. Dường như anh ngửi được mùi bông hoa cây cỏ từ hai bên bờ sông lan tỏa theo mặt nước và cơn gió đẩy đưa. Mặt sông sáng lấp lánh. Sóng gợn lăn tăn. Khúc sông này người ta gọi là sông Cái, nhỏ hơn sông Đồng Nai, bề ngang chỉ hơn năm mươi thước, nước trong xanh và chảy chậm. Dọc theo bờ sông phía bên cù lao Phố có nhiều con rạch, mương một phần tự nhiên và một phần nhân tạo. Các con rạch và mương lớn này dẫn nước vào tận trong các vùng xa phía trong.

Ngồi trên mui hút thuốc Quỳnh trầm ngâm mơ mộng. Anh không muốn nói cho Tuấn biết lý do lái tàu chạy vòng quanh cù lao. Anh hy vọng và ước mong thầm kín là khi tàu chạy qua cầu Gành sẽ thấy được Hy đạp xe trở về nhà sau buổi tan trường. Tuy đó chỉ là ước muốn viễn vông nhưng chỉ có cách đó anh mới thấy được cô bé. Nhìn đồng hồ đeo tay chỉ 11 giờ Quỳnh hỏi.

– Mình chạy bao nhiêu?

Tuấn liếc nhanh đồng hồ chỉ tốc độ rồi trả lời 1300. Quỳnh nói nhỏ.

– 1600 đi không thôi trễ giờ…

Tăng vận tốc lên 1600 Tuấn nghĩ thầm trong trí: Anh này dị… Hồi nãy anh nói chạy chầm chậm để ngắm cảnh mà bây giờ lại bảo mình chạy lẹ… Kỳ vậy…

– Trễ giờ gì vậy anh… Mình đâu có gấp…

Quỳnh làm thinh như không nghe câu hỏi của nhân viên. Dù xuống tàu chưa đầy năm song Tuấn cũng biết cái tật của cấp chỉ huy. Nếu có ai hỏi mà Quỳnh không muốn trả lời thời anh làm lơ, làm như không nghe câu hỏi đó. Thoạt đầu Tuấn cũng bực mình nhưng riết rồi cũng phải chấp nhận cái cố tật đó của cấp chỉ huy. Đôi khi nó tìm cách trả đũa lại như khi Quỳnh hỏi và nó làm lơ vờ như không nghe câu hỏi.

Nhìn hai bên bờ sông thấy nhà cửa san sát Quỳnh biết sắp tới gần điểm hẹn. Xa xa bóng cây cầu cao bốn nhịp bằng sắt hiện ra. Anh cảm thấy hồi hộp và xao xuyến khi tưởng tượng ra hình ảnh Hy dừng xe trên cầu nhìn xuống chiếc tàu của mình. Bóng dáng cô học trò nhỏ bé, gầy gò và lẻ loi. Tà áo dài trắng và mái tóc huyền bay bay. Trong tiếng gió thổi anh mơ hồ nghe được giọng nói dịu êm của cô bé thì thầm gọi tên mình. Tàu giảm dần tốc độ khi tới gần cầu. Không có bóng cô bé trên cầu trừ mấy chiếc xe gắn máy. Quỳnh buồn rũ người ra vì thất vọng. Chiếc tàu lầm lủi chạy qua cây cầu bốn nhịp đứng bơ vơ trong ánh nắng buổi trưa.

Chiếc Alpha 11 lềnh bềnh trên sông Đồng Nai khoảng gần ngã ba sông Rạng Đông. Thiếu mất bạn là chiếc Alpha 9 nó cũng đâm ra mỏi mệt và lẻ loi. 13 giờ. Mặt trời trễ tràng buông những tia nắng xuống mặt sông xanh ngày càng hẹp lại. Quỳnh ngồi cú rủ trên mui tàu. Trên đùi anh là quyển 2 của bộ Lục Mạch Thần Kiếm. Gió nhẹ thổi khói thuốc bay lãng đãng. Bên cạnh anh Chơn ngồi trên ghế lái đang im lặng đọc quyển 1 của bộ truyện. Ở trên tàu hàng tuần lễ nhân viên chỉ có hai cách giải trí là đọc sách báo hoặc nghe tin tức, nhạc và nghe đọc truyện từ hai đài phát thanh Sài Gòn và đài quân đội.

– Quỳnh Hoa đây Biên Hùng…

Mắt không rời quyển truyện, tay Quỳnh mò tìm ống nói.

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng…

Giọng nói của trung úy Bình vang lên mà Quỳnh nhận ra chút vui vẻ và tếu.

– Cho biết tọa độ của Quỳnh Hoa?

– Trình Biên Hùng tôi đang ở cách U Minh Hiệp Hòa 5 ô vuông…

– Quỳnh Hoa biết hôm nay hăm mấy?

Quỳnh cau mày vì câu hỏi. Chưa kịp trả lời anh nghe Chơn nói nhỏ.

– Hăm ba…

Mỉm cười thích thú Quỳnh reo lớn.

– Lương hả Biên Hùng…

Tiếng của trung úy Bình cười vang vang trong máy 46.

– Anh về U Minh Hiệp Hòa đi… Tôi sẽ cho một con cá đem lên cho anh…

– Tôi nghe Biên Hùng 5/5…

Nghe được cuộc điện đàm nên không cần thuyền trưởng ra lệnh Chơn đã quay mũi tàu chạy về Uyên Hưng. 16 giờ. Chiếc Alpha 11 cặp kế bên chiếc tàu của giang đoàn 24 để lãnh lương và thư từ của gia đình. Quỳnh có vẻ buồn buồn khi năm nhân viên trên tàu đều có thư mà mình lại không có ai gởi. Như để che giấu cảm xúc anh ra lệnh cho Chơn lái tàu trở lại vùng công tác.

23 giờ. Quỳnh ngồi bất động trên mui tàu. Cảnh vật thê lương và vắng lặng. Không khí gai gai lạnh. Trăng mùng mười mênh mông buông những tia sáng bàng bạc xuống mặt sông rộng, đổ trên tóc và trên vai áo giáp. Quay qua Chơn đang ngồi lái tàu anh hỏi.

– Chừng nào Tết mày biết không?

Chơn nhẹ lắc đầu.

– Tôi không biết chắc…

Hướng về chỗ Sang đang ngồi nơi ụ súng trước mũi tàu Quỳnh hỏi lớn.

– Ê Sang. Chừng nào mới Tết?

– Anh để tôi tính coi ngày nào…

Lẩm nhẩm tính giây lát Sang mới từ từ trả lời.

– Bây giờ là mồng mười tháng chạp âm lịch. Như vậy còn 20 ngày nữa mới tới Tết. Anh định làm gì?

Trầm ngâm giây lát Quỳnh mới trả lời.

– Tao xin với trung úy Bình cho tàu của mình về Biên Hòa nghỉ hai ngày mồng 1 và mồng 2 Tết…

Vừa bước ra trước mũi Thành góp chuyện.

– Có lý nghen anh… Ba năm rồi tôi không được ăn Tết ở nhà…

Quỳnh gật đầu cười lặng lẽ trong đêm trăng.

– Tao chỉ nói vậy thôi còn được chấp thuận hay không là chuyện khác. Tết là thời gian hưu chiến nên tao hy vọng ông Bình sẽ cho mình nghỉ xả hơi…

29 Tết. 19giờ. Tuy bây giờ không còn là mùa nước đổ nữa nhưng vì lên gần tới thượng nguồn nên nước chảy một chiều. Nước của hồ Trị An, sông Bé, sông Vũng Gấm và sông Rạng Đông cộng thêm nước của ngàn con rạch lớn nhỏ biến dòng sông Đồng Nai có sức nước chảy mạnh không kém gì sông Tiền hay sông Hậu. Muốn được trung úy Bình chấp thuận cho nghỉ hai ngày mồng 1 và 2 để ăn Tết, Quỳnh và nhân viên phải làm việc ròng rả ba tuần lễ. Tuần tiễu ngày cũng như đêm, hành quân hổn hợp với bộ binh và địa phương quẩn để giải tỏa áp lực của địch đang đè nặng lên những vùng bao quanh thành phố và phi trường Biên Hòa.

Chiếc Alpha 11 lừđừ chạy ngược dòng nước lên ngã ba sông Rạng Đông. Trời thật xanh. Nắng vàng óng ánh. Quỳnh nghe được trong cơn gió thoang thoảng mùi gì thật mơ hồ như là mùi lá chuối mà người ta gói bánh tét, bánh chưng hòa lẫn với mùi mứt gừng, mứt bí. Dù không nói ra anh cũng biết năm nhân viên dưới quyền của mình đang âm thầm chờ nghe giọng nói của Biên Hùng vang lên trong máy 46. Chiếc máy phát thanh của Sang văng vẳng điệu nhạc xuân mà anh nhận ra bản Đồn Vắng Chiều Xuân với tiếng hát của Nhật Trường trong đó có câu Ðầu xuân năm đó anh ra đi. Mùa xuân này đến anh chưa về. Những hôm vừa xong phiên gác chiều. Ven rừng kín hoa mai vàng. Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ. Mùa hoa năm đó ta chung đôi. Mùa hoa này nữa xa nhau rồi. Nhớ đêm hành quân thân ướt mềm. Băng giòng sông loang trăng đầy. Lòng muốn vớt ánh trăng thề viết tên em. Đồn anh đóng ven rừng mai. Nếu mai không nở anh đâu biết xuân về hay chưa. Chờ em một cánh thư xuân, nhớ thương gom đầy. Cho chiến sĩ vui miền xa xôi… .

Bật chiếc zippo đốt thuốc Quỳnh hít hơi dài rồi nhả khói ra từ từ. Đưa gói thuốc Capstan xẹp lép và nhăn nhúm lên ngắm nghía anh nhớ tới Hy. Đôi mắt long lanh. Nụ cười e ấp. Mái tóc dài thả buông.

– Quỳnh Hoa… Quỳnh Hoa đây Biên Hùng…

Quỳnh chụp nhanh lấy ống nói đang ở bên cạnh mình.

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng…

– Cho tôi biết tọa độ của anh đi?

– Trình Biên Hùng… Tôi đang ở cách U Minh Hiệp Hòa chừng hai ô vuông…

Giọng nói của trung úy Bình vang lên vui vẻ và thân thiện.

– Anh đem con cái anh về gặp tôi đi… Nghe rõ trả lời…

– Quỳnh Hoa nghe Biên Hùng 5/5…

Quỳnh chưa kịp bỏ ống nói xuống Tuấn đã tự động quay mũi tàu. Chiếc Alpha 11 xuôi theo con nước chạy phăng phăng về thành phố.

—>Chương 9

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, Chu Sa Lan. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s