HUẾ CỦA MỘT THỜI (Võ Hương An)

VOI CỦA VUA

Những con voi tôi thấy đầu tiên trong đời không phải là voi Sở Thú, mà là những con voi chiến cuối cùng của triều Nhà Nguyễn. Gọi là voi chiến cho oai chứ kể từ đầu thế kỷ 20, khi nền đô hộ của Pháp đã vững vàng thì triều đình Huế đâu còn binh lực nữa, voi chiến trở thành voi kiểng, chỉ dùng vào các dịp lễ lạc, cho đúng nghi thức và tăng thêm phần long trọng.

Voi trong Thành Nội

Mỗi lần nghe lũ trẻ hàng xóm la lên, “Voi! Ông voi bây ơi!” thì biết ngay là mấy ông nài — tên gọi quản tượng — đang dẫn voi đi, không biết đi đâu, có lẽ là đi dạo, để cho cả voi lẫn người thay đổi không khí, chứ quanh quẩn mãi trong khu vực chăn dắt cũng chán. Cũng có thể là dẫn voi ra cửa Đông Ba, xuống Bến Tượng ở sông Đông Ba để tắm cho voi. Thường thì lũ trẻ chúng tôi chỉ theo xem voi trong quãng đường từ Giỗ Canh tới gần cửa Hòa Bình là phải quay về, không dám đi xa hơn, sợ về nhà bị la hoặc bị đòn, nên không biết voi đi đâu. Chả là nhà tôi ở trong Thành Nội; sau lưng nhà, cách một xóm chừng ba bốn chục nóc gia là khu Mã Khái. Thời vua Bảo Đại, ngựa và voi được nuôi trong khu vực đó.

Mỗi lần voi xuất hiện là con nít trong xóm vui như được coi hát. Nhiều bà nhiều cô rảnh việc cũng ra ngõ xem voi. Coi như cả xóm bu theo voi. Tụi tôi tha hồ chỉ chỏ và bình luận những bộ phận to lớn lạ lùng của “ông voi”. Phải, trong nhà, mệ ngọai tôi thường gọi voi một cách kính cẩn là “ông voi”, và cũng gọi những khẩu thần công trong hai nhà súng trước Ngọ Môn là “ông súng”,và bà bắt lũ cháu cũng phải gọi như thế. Có lẽ các nhà khác trong xóm cũng theo nề nếp đó nên tất cả lũ con nít chúng tôi đều gọi voi là “ông voi” một cách tự nhiên, cho tới khi biết khôn.

Ông nài ngồi ngất ngưởng trên lưng, “ông voi” đi nhẩn nha như đi dạo, trông rất hiền từ. Hai cái tai của “ông” to gấp mấy cái quạt giấy của mệ tôi, cùng với cái đuôi to như cái chổi cán, phe phẩy liên hồi để đuổi ruồi nhặng. Khi thấy đám cỏ ngon lành, ông đưa vòi ngóay một cái, nhổ luôn cả bụi, co một chân trước lên, đập đập bụi cỏ vào chân cho sạch đất cát, đưa lên mắt nhìn một chút, rồi mới từ tốn cho vào cái mồm to như cái nón lá, và nhai ngon lành. Khi hái lá cây hai bên đường để ăn, “ông” cũng không quên thủ tục kiểm tra vệ sinh và an tòan đó. Mấy nhà có trồng chuối sát bờ rào, thường bị ông chiếu cố nguyên cây, làm chủ nhà la chói lói. Ông nài cười hề hề “Thì cho ông một cây, ông phù hộ cho.” Thấy “ông” khôn quá, hỏi mệ tôi thì bà giải thích rằng “Mắt ông to, nên ông thấy cái chi cũng to hết. Ông sợ kiến sợ sâu nên ông phải đập, giũ cho sạch rồi mới ăn.”

Ngày nay, xem voi biểu diễn lắm màn tài tình ngọan mục trong rạp xiếc, cũng không lấy làm lạ, nhưng hồi đó, thấy được cảnh “ông” co một chân sau làm bậc thang cho ông nài bước lên bước xuống , tụi tôi phục quá, cười ré, vỗ tay om sòm. Gặp ông nài vui tính, và gặp mấy bà tốt bụng, mua mía cho voi ăn, thì tụi tôi còn được xem những trò khác vui hơn, như voi quì bốn chân, voi đứng hai chân sau, voi hút một hơi hết sạch thau nước, rồi phun như vòi rồng, v.v. Một lần, thấy có một bà ở xóm khác lơn tơn bồng đứa con nhỏ chạy tới, năn nỉ ông quản tượng cho “ông voi” làm phép để con bà khỏi bịnh. Tôi thấy ông nài dặn dò “ông” gì đó, rồi kêu người đàn bà, “Rồi, ông ừ rồi, làm đi”. Bà ta bồng đứa nhỏ lòn qua lòn lại dưới bụng voi ba lần, rồi bồng đứa nhỏ hướng về “ông” vái ba vái. Có lẽ Bà Đội thấy người đàn bà có vẻ nghèo khó, không có chi để tạ ơn “ông” cả, nên chạy vội vô vườn sau, bẽ một cây mía đem ra biếu. Thấy cái trò làm phép lạ lùng đó, hỏi, thì mệ tôi nói, “Con của mụ nớ bị quan sát, phải làm như rứa để quan sát sợ mà bỏ đi thì đứa nhỏ mới lành bịnh, ăn nhiều, mau lớn.” Hồi đó, người ta tin rằng hễ đứa nhỏ nào hay khóc đêm, xanh xao, đau ốm quặt quẹo, là bị ma quan sát bắt. Chỉ có thầy pháp (thầy phù thủy) mới trị được. Nếu không có tiền thuê thầy thì nhờ cái uy của “ông voi” đủ làm cho ma sợ. Mệ tôi nói, “ Như gặp quan sát dữ, có khi làm rứa đứa nhỏ không lành. Người ta cho tiền ông nài, nhờ ông bồng đứa nhỏ, nói ông voi há miệng ra, rồi đưa đứa nhỏ lên miệng ông ba lần thì quan sát mới sợ, đứa nhỏ mới lành.” Tôi chưa thấy nên không biết thực hư.

Năm học lớp Tư, thằng Vọng mới vô, được thầy chỉ định ngồi cạnh tôi. Tôi hỏi nhỏ nó, “Mi ở mô?”. Nó vừa liếc thầy, vừa thì thào, “Ở Ụ Ông Voi”. Cái tên nghe lạ quá, hỏi nữa, nó mới nói, “Ụ Ông Voi ở gần cửa An Hòa, rứa mà không biết.” Nó làm như ở vào cái tuổi đó của tôi, chỗ nào ở Huế cũng phải biết. Tức quá, về nhà hỏi mệ ngoại, mới biết Ụ Ông Voi là nơi người ta chôn mấy con voi của vua đã chết.

Lại một bữa, thằng Hải, bạn hàng xóm cùng lứa, băng hàng rào vô nhà gặp tôi, vừa cười vừa hổn hển kể câu chuyện thú vị mà nó mới biết được. “Mi biết không, ông Dân hầm dái voi, bị bễ cái om đất, la ré om sòm.” Ai chứ ông Dân thì đứa nào trong xóm cũng biết. Ông làm nghề kéo xe, chiều về, thường ghé quán mạ thằng Hải để uống ly rượu đế cho dản gân cốt. Không biết nghe ai nói rằng dái voi bổ lắm, ăn được thì mạnh như voi, dái dê mà còn bổ, huống chi voi. Ông nhớ để trong bụng; khi nghe có con voi chết, ông năn nỉ với mấy người quản tượng sao đó mà kiếm được môt hòn dái voi to bằng cái om một. Đem về, ông cho vào một cái nồi đất to hơn, dùng gốc tre làm củi đun, tính hầm nhừ để ăn cho khỏe mà kéo xe. Kéo được vài cuốc, ông ghé nhà thăm chừng nồi dái voi thì thấy nồi vỡ toang, bếp tắt ngúm, và cạnh mấy ông táo là thù lù một cục đen đen to gần bằng cái đầu người ta. Té ra hòn dái voi nở ra to quá, làm vỡ cái nồi đất; tiếc của, ông Dân càm ràm, cả xóm mới biết. Tôi kể lại theo lời thằng Hải chứ chẳng có một chút hiểu biết trực tiếp về vụ này. Có điều mỗi lần tụi tôi đang chơi, thấy ông Dân kéo xe đi qua, nếu có đứa nào hô “Ông Dân bễ om!” thì ông trợn mắt chửi lại hoặc đưa tay dọa đánh.

Miễu Voi Ré và Hổ Quyền

Khi biết rằng voi và súng thần công cũng có chức tước thì tôi không còn nghĩ rằng mệ ngoại tôi thuộc loại đàn bà nhát gan, nhẹ dạ và mê tín dị đoan nữa. Bà gọi voi của vua bằng “ông” cũng phải, vì có ông lập nên công trạng lớn, được phong tới chức Đô đốc, chứ ít chi.

Bây giờ, có thể có nhiều người Huế không biết rằng ở làng Nguyệt Biều, có một cái miễu thờ voi, được gọi là Miễu Voi Ré, nổi tiếng linh thiêng một thời. Miễu này lập từ đầu đời Gia Long (1802-1820) do những người quản tượng trong đoàn quân voi ở Kinh Thành chung tiền lập nên. Miễu gồm có một căn nhà chính, thờ các vị thần che chở cho voi; và bốn cái am nhỏ phía trước, mỗi bên hai cái, thờ bốn ông Đô đốc voi, có tên là Ré, Bích, Nhĩ, Bôn.

Tương truyền đây là nơi ông Ré bỏ mình.. Người ta kể rằng trong một trận đánh với quân Tây Sơn, ông Ré bị trọng thương, nhưng đã ráng chạy về đây mới chết. Trước khi chết ông đã ré lên những tiếng thống thiết vang động cả xóm làng. Có lẽ do cái gốc này mà người ta gọi tên ông là Ré chăng?

Thực ra, miễu này có tên Miếu Long Châu, nhưng dân chúng chỉ quen gọi là Miễu Voi Ré. Lúc đầu thì lính giữ voi chỉ lập miếu thờ thần để mong thần phù hộ cho voi được mạnh khỏe, đánh giặc giỏi, nhưng sau đó, miếu nổi tiếng linh thiêng, nên năm 1824, vua Minh Mạng ban một sắc chỉ ghi nhận công đức của các vị thần, và ra lệnh trích công quỹ để lo việc tế tự, mỗi năm hai lần, vào mùa Xuân và mùa Thu.

Các đời Thiệu Trị và Tự Đức cũng có hành động tương tự. Đặc biệt, vua Thiệu Trị đã phong cho các vị thần đó làm Trợ Oai Tượng Võ Linh Ứng Hộ Tượng Chi Thần. Trong mười lăm vị thần thờ tại miếu, có nhiều vị khá quen thuộc với mọi người, chẳng hạn Cửu Thiên Huyền Nữ, Thành Hoàng, Thổ Công, Hà Bá, Chúa Thượng ngàn, Tiền hiền, Hậu hiền v.v. Từ đời Thành Thái (1889-1907), do ngân quỹ eo hẹp, số trợ cấp cúng tế 100 quan hàng năm rút lại chỉ còn một nửa. Cùng với việc Tượng binh không còn đắc dụng nữa, miếu lần lần đi vào quên lãng và hoang phế, điêu tàn.

Gần Miễu Voi Ré còn có một cơ sở khác liên quan tới voi, mà tiếng tăm còn tới bây giờ, ấy là Hổ Quyền, hay là đấu trường của voi và cọp. Hổ Quyền được lập ra vào đời Minh Mạng, làm nơi cho voi đánh nhau với cọp, vừa để giải trí, vừa tạo cơ hội cho voi luyện tập chiến đấu. Dưới mắt những người Tây phương được dự các trận đấu tại Hổ Quyền thì họ cho rằng đây là một cuộc đấu không cân sức, vì voi thì lựa thứ sung sức thiện chiến, còn cọp thường có vẻ như bị làm cho yếu đi và bao giờ cũng là kẻ bại trận thê thảm, chết tại chỗ, dưới những đòn ác liệt của voi. Trận đấu cuối cùng tại Hổ Quyền giữa voi và cọp diễn ra cuối đời Thành Thái (1889-1907), sau đó thì Hổ Quyền bỏ ngỏ, và bây giờ chỉ còn gạch đá rêu phong. . .

Thật ra, không phải chờ tới đời Minh Mạng mới có cái màn quyết đấu giữa hai anh hùng sơn lâm này. Cuộc ác đấu giữa voi và cọp đã được tổ chức từ thời các chúa Nguyễn, chỉ có khác là hồi đó đấu trường chưa được xây cất đàng hòang như về sau. Pierre Poivre, một thương nhân Pháp, đến Phú Xuân vào đời Võ Vương Nguyễn Phúc Khóat (1738-1765), đã được dự kiến một trận đấu giữa voi và cọp tổ chức trên cồn Giả Viên trên sông Hương, và không quên ghi lại trong hồi ký.

Kinh tượng, Ngự tượng

Lực lượng voi đã góp công không nhỏ trong việc giúp vua Gia Long thống nhất giang sơn, lập ra triều đại Nhà Nguyễn vào năm 1802. Vì vậy các vua Nhà Nguyễn, ông nào cũng quan tâm tới lực lượng này. Thời Gia Long, tướng Nguyễn Đức Xuyên là người đầu tiên được cử làm tư lệnh Tượng binh với chức Chưởng Tượng Quân. Trong chiến đấu, voi là lực lượng xung kích chẳng khác chi thiết giáp ngày nay, voi cũng đảm nhận việc vận chuyển súng lớn, và lương thực. Vì vậy, tượng binh được chia thành đội ngũ, tương tự như tổ chức của Bộ hình vậy. Voi được chia thành đội, mỗi đội mười voi. Tùy theo voi đực hay voi cái, voi thường hay voi của vua mà số lính phụ trách khác nhau, trung bình năm lính phụ trách một voi. Dĩ nhiên, voi tập trung nhiều nhất ở Kinh đô Huế, thứ đến Bắc thành (Hà Nội) và Gia Định thành (Sàigòn). Còn các tỉnh, tùy lớn nhỏ mà số voi nhiều hay ít. Lực lượng voi ở Huế được gọi là Kinh tượng, thường được chọn trong số những voi tốt nhất ở các tỉnh. Trong đám kinh tượng này, người ta lại lựa ra những con tốt nhất để làm ngự tượng, nghĩa là voi dành riêng cho vua đi. Việc tuyển lựa này do một ủy ban phụ trách, tiêu chuẩn để chọn là voi phải to, cao, mạnh khỏe, hiền và thông minh, hiểu nhanh và làm đúng mệnh lệnh. Từ kinh tượng lên ngự tượng, là một sự thăng cấp, nên có nhiều điều khác hơn, chẳng hạn “ông” được vua ban tên mới, nghe rôm rả hơn. Năm 1822, khi “ông” Đen được tuyển làm ngự tượng thì vua Minh Mạng đặt cho tên mới là Ô Long, nghe oai vệ hẳn ra. Tiêu chuẩn ăn uống của ngự tượng cũng cao hơn. Té ra ban đêm, voi cần ăn nhiều hơn ban ngày. Như ngự tượng, một ngày ăn ba bữa nhưng ban đêm phải tăng lên đến năm bữa.

Lính giữ voi là lính chuyên nghiệp, thường là tự nguyện và cha truyền con nối. Đặc điểm này làm cho voi và người chăn dắt điều khiển quen thuộc nhau, biết tính nết, dễ thông cảm; thêm vào đó, con nối nghiệp cha, nên học việc rất sớm, thừa hưởng được nhiều kinh nghiệm quí báu trong nghề. Giá tiền mua một con voi không phải rẻ. Năm 1822, khi chỉ thị cho Gia Định Thành mua voi của Cao Miên (Cambodia này nay), triều đình đã qui định giá cả rất rõ ràng, căn cứ vào chiều cao. Theo đó, voi cao từ 1.60m trở lên giá 40 lạng bạc; cao từ 2m trở lên giá 50 lạng; và từ 2.40m trở lên là 60 lạng. Nếu tính thành tiền thì giá một con voi trung bình 200 quan. Cao Miên, Lào, vùng rừng núi Quảng Trị. Khánh Hòa là những nguồn cung cấp voi cho triều đình Huế.

Vì giá mua voi không rẻ, và huấn luyện một con voi rừng hay voi nhà thành voi chiến cũng không phải dễ, nên các vua Nhà Nguyễn tỏ ra rất nghiêm khắc trong việc săn sóc voi. Hễ voi bệnh là phải báo ngay cho Tượng Y Ty biết để có thầy chạy chữa. Người ta dùng cả thuốc Bắc lẫn thuốc Nam. Lỗi vì bất cẩn làm chết voi hoặc do thiếu săn sóc làm voi chết nhiều, vượt quá tỷ lệ qui định, thì người giữ voi liên hệ sẽ bị phạt rất nặng, hoặc đánh bằng roi, hoặc đánh bằng gậy, đến cả trăm gậy, thậm chí cắt lương. Không phải lính bị phạt mà ngay cả cấp chỉ huy trực tiếp hay cao hơn cũng bị truy cứu trách nhiệm và bị phạt, tùy từng trường hợp nặng nhẹ khác nhau. Phải chăng vì sợ những hình phạt này nên giới quản tượng đã phải nương nhờ sự che chở của những thế lực huyền bí khác, qua việc lập Miễu Voi Ré như đã kể?

Voi vốn thông minh nên nếu được tập luyện tốt sẽ làm được việc. Thời Gia Long, vua qui định tượng binh phải luyện tập chiến trận mỗi năm ba lần, vào các tháng Giêng, Tư và Bảy, mỗi lần như thế kéo dài ba ngày. Qua đời Minh mạng, tăng lên 4 lần một năm. Mỗi lần như thế, đều có sự phối hợp của Bộ binh. Người ta tạo ra cảnh chiến trường, công đồn, phá thành, trong tiếng súng nổ, trống thúc và quân sĩ hò reo như thật để cho voi quen với không khí chiến trường. Cũng như các loại thú rừng khác, voi sợ lửa và sợ tiếng nổ. Bởi vậy, trong những lần luyện tập như thế, người ta không những bắn súng mà còn dùng những loại pháo đặc biệt để tạo ra tiếng nổ (cửu long pháo) và lửa (hỏa vũ pháo) để cho voi tập quen với chiến trường. Đơn vị nào có tỷ lệ voi nhát sợ chiến trường cao, cả quan lẫn lính đều bị phạt, ngược lại, sẽ được thưởng. Những cuộc diễn tập tại kinh đô thường do vua trực tiếp giám sát, nếu không thì cũng do một vị quan cao cấp được ủy quyền.

Hùm chết để da; còn voi chết thì để lại cặp ngà, và ngà này được bỏ vào kho vua. Thầy tôi kể lại, dưới triều Khải Định, có một con voi già sắp chết. Người ta tin rằng ngà sanh – là ngà khi voi còn sống – tốt hơn ngà tử, do đó vua Khải Định đã ra lệnh từ trước là khi voi sắp chết, phải nhớ cưa trước cặp ngà. Người quản tượng thấy “ông “ yếu quá, nhớ lời vua dặn, lấy cưa ra làm, nhưng bị ông trợn mắt gầm gừ phản đối. Không dám chọc giận ổng, anh ta ngừng tay và báo cáo lên cấp trên. Khi tới tai, vua Khải Định truyền cho một ông Thị vệ, “Ra bảo nó : trước khi chết, để lại cho ta cặp ngà.” Người Thị vệ vâng lệnh đi truyền chỉ, nghe lệnh xong, “ông” cúi đầu nằm im cho mấy người lính làm việc.

Vua Bảo Đại kể chuyện voi

“Con Rồng Việt Nam” là một hồi ký chính trị của vua Bảo Đại (1925-1945), vậy mà trong đó tôi thấy hai lần, tổng cộng hơn ba trang sách, tác giả dành thì giờ để nói về voi và kể chuyện voi, trong đó có chuyện con voi Buôn Con rất lý thú.

Khi đang còn làm vua (trước 1945), vua Bảo Đại đã thuyết phục và vận động lắm mới mua được một con voi đực to lớn, tên Buôn Con , cao tới 3m, của viên chủ làng Kim Jo Nop ở Ban Mê Thuột. Vua cho những người quản tượng Rhadhé đưa voi từ Ban Mê Thuộc về khu sưu tập thú rừng của vua ở Quảng Trị, vì rừng núi Quảng Trị là nơi vua thường đến săn bắn. Buôn Con là một con voi mạnh mẽ, thông minh – có thể hiểu mệnh lệnh bằng nhiều thứ tiếng miền Thượng, ngòai ra còn hiểu cả tiếng Pháp, và tiếng Việt nữa – nhưng cứng đầu, và chàng ta chỉ có một ngà. Nhất voi một ngà, nhì người ta một mắt, đó là hai hạng hung dữ, nóng tính, phải coi chừng, đừng dại mà chọc phá. Thế nhưng quản tượng Việt Nam cũng đủ đòn phép để khuất phục Buôn Con. Chàng ta phản đối thụ động bằng cách thà nhịn đói chứ không lấy thức ăn, dù thức ăn có sẵn chứ không phải ra rừng tìm kiếm. Vua Bảo Đại nghe báo cáo, đã cho đem từ Huế ra một con voi cái để hầu hạ chàng trong việc ăn uống, nghĩa là tới bữa ăn, chị ta phải đi mang thức ăn về cho chàng, bấy giờ chàng mới chịu ăn. Chị voi này cũng thuộc loại láu cá, vì áp lực mà phải phục vụ Buôn Con, chứ có lẽ không mê chàng, do đó, hễ có cơ hội là bỏ trốn. Cứ mỗi lần như thế, quản tượng lại phải cưỡi Buôn Con vào rừng lùng bắt chị ta về. Khi bị bắt lần thứ bảy, chị ta quật chết quản tượng.

Một lần Buôn Con bị cọp vồ từ phía sau, nơi bả vai. Vết thương nhiễm trùng, cần phải giải phẩu, nhưng lại không có thuốc tê. Trong suốt thời gian giải phẩu, người quản tượng đứng một bên chuyện trò, giải thích lợi ích của việc giải phẩu, và khuyên Buôn Con chịu khó nằm yên cho thầy thuốc chữa trị. Buôn Con nghe lời, nằm yên cho tới khi xong việc. Sau khi vua thóai vị (8/1945), Việt Minh làm chủ Quảng Trị, Buôn Con và các bạn bỏ vào rừng. Năm 1949, khi Cựu Hòang trở về Việt Nam trong cương vị Quốc Trưởng thì Buôn Con và các bạn cũng trở về khu cư trú cũ. Cựu Hòang cho di chuyển cả bầy lên Ban Mê Thuộc, bấy giờ là đất của Hòang triều Cương Thổ.

Năm 1953, Cựu Hoàng nhận được thư của thân mẫu là Đức Từ Cung ở Huế, nhắc chuyện tế Nam Giao theo ngày tháng mà bà đã nhờ quan cựu Khâm Thiên Giám chọn. Lúc bấy giờ Cựu Hoàng đang ở tại Ban Mê Thuộc, liền quyết định sẽ tế Giao ngay tại đất Hoàng triều Cương thổ, vì “con đâu cha mẹ đó”, như người Việt vẫn thường tin như vậy.

Ông chọn làng Boun Trap, cách Thị xã chừng 10km, ở giữa rừng, làm nơi cử hành lễ tế. Không có đàn Nam Giao như ở Huế, ông đã cho huy động đàn voi 20 con, lựa toàn thứ to lớn đồ sộ, sắp quanh thành một vòng tròn bao quanh lễ đàn. Lễ tế bắt đầu từ ba giờ sáng, giữa thiên nhiên cao rộng, rừng núi thâm u, đã để lại một ấn tượng khó quên trong lòng Cựu Hoàng, vì ông cảm thấy lần này không khí có vẻ thiêng liêng và chân thành còn hơn cả những lần tế Giao ở Huế trước kia. Buổi lễ kéo dài, một con voi có lẽ không chịu đựng được lâu, đã quay ra cà khịa với con bên cạnh, con này húc con kia, gây nên cảnh rối loạn, vòng tròn tan rã. Người dự lễ thấy voi nổi điên đuổi nhau, sợ vạ lây, cũng bỏ chạy. Chỉ còn một mình Cựu Hoàng trong lễ phục, đứng giữa đàn tế. Ông không chạy. Ông gọi Buôn Con đến, ra lệnh cho nó tái lập trật tự. Trong vòng mười phút, Buôn Con, bằng tiếng ré của nó, đã bảo cả đàn voi lần lượt trở về vị trí cũ, tái lập vòng tròn như chưa có gì xảy ra, và buổi lễ tiếp tục. Khen voi khôn cũng bằng thừa.

Võ Hương-An
8/2004

—>Vợ Vua cũng lên chức

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo. Bookmark the permalink.