CÁC NGÔI CHỢ Ở SÀIGÒN, CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH TRƯỚC 1975 :Chợ Thị Nghè-Chợ Hóc Môn-Chợ Bà Chiểu-Chợ Ông Tạ-Chợ Trương Minh Giảng-Chợ Bà Quẹo-Chợ Bà Hoa

(TM tổng hợp và bổ túc)

B-Tỉnh GIA ĐỊNH

35-Chợ Thị Nghè
Thị Nghè-Gia Định

Chợ Thị Nghè nằm gần ngã ba các đường Huỳnh Mẫn Đạt,Nguyễn Văn Thoại và Nguyễn Văn Lạc. Mặt tiền Chợ Thị Nghè hướng ra con rạch cùng tên Thị Nghè.

Theo tài liệu [23] : Rạch Thị Nghè xuất hiện từ cuối thế kỷ 18, trước đó người Cao Miên cư trú ở vùng đất này gọi tên con rạch là Prêk Kompon Lư, người Việt di dân vào Gia Ðịnh kêu là Nghi Giang, rồi sau gọi là rạch Bình Trị theo cái tên làng thời khai hoang lập ấp hình thành tổng Bình Trị thuộc phủ Tân Bình.

Sự tích của địa danh Thị Nghè theo tài liệu [9,128] là như sau:

Bà Nguyễn Thị Khánh ( người Pháp viết lại là Canh), trưởng nữ của quan Khâm sai Chánh thống Vân Trương Hầu Nguyễn Cửu Vân, đẹp duyên với một ông Nghè. Chồng bà khi đi làm phải đi đò qua rạch vào thành Phiên An làm việc, khi nắng ráo không nói gì, nhưng nếu gặp phải mưa to gió lớn, thì cả một vấn đề. Bà Nghè rất lo ngại cho chồng bà, đồng thời bà cũng không quên những đồng bào trong thôn ấp khi muốn đi làm ăn buôn bán mà gặp phải một chướng ngại vật lớn lao quá sức của họ đó là rạch Bình Trị . Bà bèn nghĩ ra một phương kế xuất tiền và kêu gọi dân chúng trong vùng cùng nhau quyên góp tiền bạc, mua vật liệu, huy động nhân lực chỉ huy công cuộc xây dựng một cái cầu bằng gỗ khá rộng và vững chắc để cho xe ngựa có thể qua lại dễ dàng và đồng thời dân chúng cũng có thể xử dụng cái cầu này qua lại thông thương với Trấn Gia Định. Cây cầu gỗ hình thành khoảng năm 1837. Đến năm 1838 cầu được sửa chữa lại. Sau đó trên mảnh đất bên cầu, người dân tụ tập buôn bán với nhau và từ đó thành lập một cái chợ. Ðể tỏ lòng nhớ ơn một bậc nữ lưu,người dân địa phương gọi tên đã gọi cầu ấy là cầu Bà Nghè, con rạch Bình Trị là rạch Bà Nghè và ngôi chợ trên bến dưới thuyền không do bà lập ra nhưng vẫn được mang tên Chợ Bà Nghè. Về sau chiếc cầu và ngôi chợ tên Bà Nghè được gọi là cầu Thị Nghè và chợ Thị Nghè.(Đến khi Tây đến đánh thành Saigon, pháo hạm Avalanche tiến vào rạch này đầu tiên nên họ mới gọi là Arroyo de l’Avalanche).

Theo tài liệu [4] : Rạch Thị Nghè giáp với rạch Bến Nghé, chỗ giáp nước là một cái thoi loi gie ra ngoài sông, phong cảnh rất đẹp, gió mát từ Ô Cấp thổi vào tứ mùa.

Vùng Thị Nghè xưa là nơi có ruộng tịch điền, có đàn xã tắc, có miếu thờ Thần Nông, đàn Tiên Nông (nay là khu vực Trung tâm dưỡng lão Thị Nghè-theo tài liệu [9] thì trung tâm này có tới 1500 giường), có Văn Thánh miếu thờ Khổng Tử.

Hồi đó đâu khoảng giữa thập niên 1940, tổng Bình Trị còn là những làng thuần nông, dân chúng làm lúa mỗi năm hai mùa. Một số nhà dân quanh chợ thì trồng rau màu chứ ít mở tiệm bán buôn chung quanh như mấy ngôi chợ khác ở Sài Gòn-Chợ Lớn. Vùng Thị Nghè này còn nét thôn quê, gìn giữ phong tục cúng bái cho thôn làng bình yên được mùa no ấm. Mỗi năm tổng Bình Trị đều tổ chức lễ cúng gọi là Kỳ Yên sau ngày Tết nhất hay cúng miễu vào tháng Tám. Ðám rước quần áo ngũ sắc, cờ lọng trống chầu, xếp hai hàng đi trước, chức sắc hương làng áo dài khăn đóng dẫn đoàn dân chúng mặc quần lãnh áo hoa,đầu đội mâm xôi, gà cúng, hương hoa bánh trái nối đuôi theo sau. Ðám rước khởi đầu từ ngôi chùa cổ Văn Thánh miếu cách đó không xa, tế lễ các bậc Thành hoàng rồi đi ngang qua chợ Thị Nghè dừng lại trước ngôi nhà lục giác bày sẵn hương án, tế lễ cúng Bà Nghè và các bậc tiền hiền khai canh cho vùng đất Bình Trị để dân làng được ấm no hạnh phúc.

Theo tài liệu [42] : Vùng Thị Nghè chưa được xem là ngoại ô của Sài Gòn. Hành chính ở đó là làng, làng Thạnh Mỹ An. Nhưng làng đó trù mật không thể tả, vì tất cả thợ thuyền của sở Ba Son (thủy quân công xưởng) đều ngụ ở làng đó, vì đó là nơi gần nhứt sở làm của họ. Vào năm đó mà thợ thuyền đã đông gần hai ngàn rồi, và với vợ con của họ, họ trở nên một lực lượng tiêu thụ lớn lao cho cái làng trù mật đó. Tính bổ đồng mỗi thầy thợ có bốn con thì hai ngàn thầy và thợ họp thành một dân số là 8 ngàn người để cộng thêm với dân làng ở đó. Nhưng đâu có phải chỉ có sở Ba Son, mà sở Hải Đăng (đó là tên bình dân ta, chớ tên Pháp là sở Hydraulique-Agricole et De Navigation) cũng nằm trong đó (nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã giúp việc cho sở nầy, nhưng đó là người nhân viên Việt Nam độc nhứt, không có nhà cửa ở Thị Nghè).

Chợ Thị Nghè được xây cùng thời gian với chợ Hóc Môn vào khoảng cuối thập niên 1920. Hình thức là một nhà lồng dài, kiểu cách thuần Việt, bốn phía đều trống không dựng sạp. Về sau dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, chợ bắt đầu che chắn các sạp mặt tiền chung quanh. Bãi xe hàng bên hông chợ cũng được di dời. Khu bán trái cây, rau cải mở rộng dọc theo bến sông do dân chúng kéo về định cư ngày càng đông làm tăng nhu cầu buôn bán ở chợ. Ghe thuyền khắp nơi vẫn tụ tập trên bến sông xưa tạo nên một hình ảnh trên bến dưới thuyền của một vùng đất Bình Thạnh sống thuần bằng nghề nông, chăn nuôi và trồng trọt hoa màu.


Bên phải của hình, người ta vẫn còn thấy tồn tại nhà lục giác. Cầu nầy nối liền đường Hồng Thập Tự bên Sàigòn với đường Hùng Vương bên Thị Nghè

Ngôi nhà lục giác cột gạch tô xi măng, mái ngói ba tầng trước chợ Thị Nghè,là một công trình trang trí khá chắc chắn mang hình dáng rất thôn quê dựng lên trước mặt tiền chợ.Nhà kiểu thuỷ tạ không nằm trên mặt nước lại nằm trên bờ không biết để làm gì mà chỉ thấy mấy bà bán buôn cá sống, các bà gánh nước thuê và mấy ông thợ cạo đặt ghế bàn hớt tóc. Vào khoảng cuối thập niên 1960, nhà tròn này bị dỡ bỏ xây lại thành nhà lồng bán cá mắm.

Theo tài liệu [9] : Nhà thờ Thị Nghè trong vùng Thị Nghè là một trong những nhà thờ rất xưa của miền Nam.

Thuở ấy, nhà thưa người ít, tín đồ khoảng vài chục người.Nhà thờ này có mặt ở đây từ lúc Nguyễn Ánh bôn tẩu vào Nam cho đến khi thống nhất đất nước, lên ngôi vào năm 1802, xưng hiệu Gia Long. Vị trí họ đạo và nhà thờ tọa lạc tại làng Thạnh Mỹ Tây bên kia cầu Thị Nghè. Đầu tiên, ngôi nhà thờ này được xây cất bằng ván thô sơ trên một miếng đất rộng 3000 thước vuông, chung quanh là ruộng, sình lầy nước đọng quanh năm.

Dưới thời vua Minh Mạng cấm đạo, nhà thờ bị nhiều hư hại.

Vào khoảng năm 1859, họ đạo Thị Nghè trùng tu lại ngôi nhà thờ bị hư hao.Một giáo hữu giàu có là ông Chánh Giáo,hiến dâng một ngôi nhà đẹp để làm Thánh đường.

Năm 1876, Đức Cha Lefèvre quyên tiền quê nhà bên Pháp xây dựng nhà thờ mới khang trang hơn vào năm 1879.

Nhà thờ và Giáo xứ Thị Nghè thuộc Tổng Giáo phận Sài Gòn.

Vào năm 1936, cha sở Việt Nam là cha J. Tịnh xây dựng lại ngôi thánh đường, đồ sộ như người ta thấy ngày nay (vào năm 1970).

Năm 1956, Cha cố sở Lê Vịnh Khương xây núi để tôn kính Đức Mẹ vô nhiễm và dựng thêm núi nhỏ để kính Thánh Phan Xi Cô 5 dấu ở phía sau, ngang hông nhà thờ.

Vào năm 1966, cha sở Việt Nam là cha Phan Văn Thăm xây thêm tháp chuông.

Dưới chân cầu Thị Nghè,trên đường Hồng Thập Tự-quận 1, sát lưng hông Sở Thú (Thảo Cầm Viên) có một một trung tâm bơi lội quốc gia Yết Kiêu. Trung tâm này được xây cất vào năm 1969 bởi chính phủ Việt Nam Cộng Hòa , điều hành bởi Tổng Nha Thanh Niên với nhiệm vụ chính là đào tạo lực sĩ bơi lội quốc gia. Trung tâm có hai hồ cho môn bơi lội (50x 22,5 thước) và (25x 16 thước) và một hồ để tập chèo thuyền, có tổng diện tích khoảng 8000 thước vuông.Năm 1970, công trình được hoàn thành đợt 1 gồm hai hồ bơi và một số công trình phụ, khi đó hệ thống đèn và hồ tập chèo thuyền chưa hoàn thành xong nhưng trung tâm đã mở cửa hoạt động và tổ chức các giải thi bơi lội (khoảng từ 4-5 giải mỗi năm).

Sau ngày 30 tháng tư năm 1975, bọn bộ đội cộng sản Bắc Việt rừng rú nửa lợn nữa đười ươi,đóng quân trong khu vực hồ bơi Yết Kiêu đã dùng hồ bơi lớn để nuôi cá và hồ bơi nhỏ để nuôi heo.

Nhiều năm trước khi có hồ bơi Yết Kiêu, trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm gần ngã tư với đường Hồng Thập Tự, xế xế cổng chính của Sở Thú, có hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm để huấn luyện lực sĩ bơi lội quốc gia.Nơi này có hai hồ bơi: một hồ kích thước Thế Vận Hội có cầu nhảy và một hồ nhỏ hơn,ngoài ra còn có một khán đài cao cho khán giả ngồi coi tranh giải bơi .

Tác giả bài này cùng anh em gia đình và các bạn hàng xóm là những tay bơi thường xuyên ở hồ nhỏ.Trước cổng hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm,có mấy gánh và xe hàng rong bán đủ loại đồ ăn, trong đó có món bánh mì tôm tẩm bột, chiên vàng dòn rụm, tưới lên tương ngọt đặt sệt , ngon đến nỗi mà hơn 55 năm sau tác giả vẫn còn nhớ đến món cái ăn chơi bình dân này.

Theo tài liệu [129] : Trên địa bàn Thị Nghè đã từng có các cơ sở công nghiệp như hãng chén, hãng dầu Phú Mỹ, hãng ô tô buýt… Đặc biệt Thị Nghè là nơi có nhà in đầu tiên ở Sài Gòn : Nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết ra đời năm 1917, nằm gần cầu Thị Nghè, là nhà in lớn kiêm nhà sách. Đến trước năm 1975, nhà in Nguyễn Văn Viết (không còn chữ Joseph và cũng không còn bán sách) là nhà in màu offset nổi tiếng đẹp nhất nhì Sài Gòn.

Dưới đây là hình ảnh chợ Thị Nghè sau năm 1975:

Tài liệu tham khảo

9. Huỳnh Minh: Gia Ðịnh xưa và nay – Nhà xuất bản Khai Trí – 1973.
23. Trịnh Hoài Đức: Gia Định Thành thông chí – (Dịch giả: Tu Trai Nguyễn Tạo – Tập Hạ, quyển 4, 5 & 6 – Văn Hóa Tùng Thư số 51 – Nha Văn Hoá – 1972).
42. Bình Nguyên Lộc – Sài Gòn Xưa In Ít – Nguồn: Binhnguyenloc.com) – Di cảo – Phù Sa số 19 – 09.04.1992:
128. Trang Nguyên – Chợ Thị Nghè – dongsongcu – 04/09/2017.
129. Phạm Đình – Thị Nghè: Rạch,cầu, chợ đều đi vào lịch sử – 12/3/2017.

—> Chợ Hóc Môn

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM and tagged , , , , , , . Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s