TÌNH NÀO CHO EM! (Nguyễn Khắp Nơi)

-Bài số 1-

Nhiều độc giả phái nam, khi đọc xong câu chuyện tình đầy nước mắt “Xa Quê Hương Nhớ Mẹ Hiền”, đã gọi điện thoại lại cho tôi, góp thêm vài ba câu chuyện, và cũng có người nhắn lại với tôi:

“Câu chuyện của ông nó xưa như trái đất rồi. Hồi đàn ông con trai chúng ta mới qua định cư tại Úc, tại Mỹ … chuyện này cũng xẩy ra dài dài … nhưng nó cũng đi vào dĩ vãng hết rồi, nói ra làm chi nữa cho nó buồn lòng con cháu.”

Cũng có vài độc giả phái nữ, đã hỏi tôi tới nơi tới chốn:

“Bà vợ cũ đã bỏ về Việt Nam … vậy còn bà vợ mới thì sao? Bả … táng cho thằng chả một táng nháng lửa ngay giữa nhà hàng ăn … nhưng rồi bả … có còn ở với thẳng chả đó hông …?”

Tôi trả lời là … tôi không biết, vì người con gái chỉ biết tới đó do mẹ của cô kể lại, rồi kể cho tôi nghe. Cô không buồn phiền gì người cha cả, cô chỉ nhắc tới nỗi nhớ nhung người mẹ hiền và ráng học hành tới nơi tới chốn theo lời mẹ dặn, để có nghề nghiệp vững vàng mà bảo lãnh mẹ trở lại Úc sống với mình mà thôi.

Người Nữ độc giả đã tự cho tôi đoạn kết phần của người chồng như sau:

-“Tui mà là bà vợ sau đó hả … Tui bỏ chả luôn, đem hai đứa con về ở với cha mẹ. Trước khi cưới, bả đã hỏi chả hai ba lần là … đã có vợ ở Việt Nam hay chưa? Chả nhất quyết trả lời là không có, đã vậy còn lén lút bảo lãnh bà vợ lớn qua nữa. Thứ gì mà đòi bắt cá cả hai tay. Cả hai bà bỏ đi hết, cho chả chết luôn! Còn một điều nữa tui yêu cầu anh nha … Có viết truyện thì viết tiếp theo cho tới hết, chớ đừng viết nửa chừng rồi bỏ đó nhẩy qua chuyện khác, tới khi ông viết tiếp, tụi tui lại phải đi kiếm mấy tờ báo cũ đọc lại cho nhớ rồi mới đọc tiếp được.”

-“Dạ … chị và quý độc giả … thông cảm … tôi cũng muốn viết một lèo cho xong câu chuyện … nhưng nửa chừng lại có biến cố lớn xẩy ra, phải ngưng câu chuyện lại mà nói về chuyện khác rồi mới trở lại được. Thôi để mỗi lần viết tiếp, tôi sẽ tóm tắt những phần đã viết để mọi người nhớ lại từ đầu.”

Đó là phần của những độc giả lớn hoặc bằng với lứa tuổi của tôi. Còn những bạn trẻ thì sao? Một số người trẻ đã hỏi tôi:

“Thưa chú … không lẽ mấy người Lính Cộng Hòa (tức là một số thôi, chứ không phải tất cả) khi bỏ nước ra đi … chỉ có đem theo bấy nhiêu tình cảm riêng tư đó thôi? Ngoài tình cảm gia đình, họ còn nhớ gì tới quốc gia … tới dân tộc hay không … ? Họ còn một chút tình cảm nào … cho Tổ Quốc nữa không?

Tôi đã hăng hái trả lời:

“Có chứ! Ngoài một số người bộc phát tình cảm cá nhân, đa số còn lại đều nghĩ về quê hương tổ quốc, đều nghĩ cách thức nào quay trở lại cầm súng tiếp tục chiến đấu đánh đuổi bọn Việt Cộng ra khỏi Việt Nam, giải thoát người dân lành ra khỏi bàn tay áp bức thống trị đẫm máu của bọn Việt Cộng. Năm tháng đã qua, những người Lính năm xưa đã già đi rồi, nhưng tấm lòng yêu tổ quốc, yêu quê hương vẫn còn tràn đầy, họ vẫn hy vọng một ngày quang phục mang lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ cắm trở lại trên mảnh đất Quê Hương.”

Kính mời quý vị cùng đọc với chúng tôi câu chuyện: TÌNH NÀO CHO EM! đ biết về tình cảm mà những người Lính Việt Nam Cộng Hòa xa quê hương đã nghĩ và hành động như thế nào cho quê hương của họ.

Đây là một câu chuyện xoay quanh những chiến binh Cộng Hòa với nhiều năm quân ngũ, đã cảm thấy mình không làm tròn bổn phận giữ nước, cảm thấy mình còn thiếu nợ quê hương, ra đi mà chưa nghĩ được ngày về.

Đây là một câu chuyện xoay quanh những chiến binh trẻ tuổi đầy nhiệt huyết, chỉ vừa mới tham chiến bảo vệ quê hương, đã bị thua cuộc rồi bị đầy ải đi tù nơi rừng sâu núi thẳm. Họ vượt trại tù đi tìm tự do, qua được mảnh đất tự do rồi, họ vẫn tìm đủ mọi cách quay trở về đòi lại quê hương.

Đây là một câu chuyện xoay quanh những người trai mới lớn, nhưng chưa đến tuổi động viên thì thế cờ vận nước đã đổi thay. Những người trai này uất hận nhìn lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ bị giựt xuống dẫm nát và nhìn cha anh mình bị xử tử, bị đem đi tù không biết ngày về. Vượt biên qua xứ người bỏ lại cha anh còn đang trong vòng lao lý, những người trai sau thời loạn đã tìm gặp những bậc đàn anh cùng lứa tuổi với cha anh mình mà tìm cách trở về giải thoát cho những người Lính Cộng Hòa còn đang rên xiết dưới gông cùm Cộng sản và giải thoát toàn thể người dân lành và tổ quốc thân yêu khỏi quốc nạn của loài quỷ đỏ.

Và đây cũng là một câu chuyện xoay quanh những người con gái đã thương yêu những chàng trai hiên ngang khí phách đó …

Nhưng tình yêu lứa đôi không thể nào so sánh với tình yêu tổ quốc, Những người con gái đó đành lặng yên nhìn người tình ra đi tìm hồn thiêng sông núi, mà thốt lên câu nói: TÌNH NÀO CHO EM!

Cuối cùng … Đây cũng là câu chuyện do Tài Tử Tâm Phan và một nhóm bạn đã viết ra thành truyện phim, đã quay thành phim và đã giao cho nhà xuất bản vào năm 1986 ở Sydney. Nhưng rất tiếc, vì một lý do nào đó ngoài ý muốn, mà cuốn phim không được phân phối để ra mắt khán giả khắp năm châu.

Trong một dịp tình cờ, tôi đã được gặp và nói chuyện với một bạn trẻ đóng một trong những vai chính trong phim kể lại câu chuyện này. Năm tháng đã trôi qua, anh chỉ kể lại câu chuyện theo trí nhớ, chứ không thể chính xác như trong cốt truyện. Tôi cũng đã theo lời kể của anh mà đi tìm gặp những người đã bỏ công sức ra quay cuốn phim này. Lại một lần rất tiếc nữa, nhóm làm phim cũng vì công việc làm ngày này qua tháng nọ mà không còn nhớ và cũng không biết cuốn phim gốc để ở nơi mô mà tìm? Tôi cũng cố gắng thăm dò bạn bè và và nhắn lời gặp anh Tâm Phan. Bạn bè cho biết, anh thỉnh thoảng cũng xuất hiện trong vùng Footscray, nhưng không ai biết địa chỉ hoặc số điện thoại của anh.

Thôi thì … tôi cứ viết lên đây những gì người bạn trẻ đã kể lại cho tôi. Nếu anh Tâm Phan có đọc được những giòng chữ này, chắc anh cũng không tiếc gì mà cho tôi thêm tài liệu …

Biết đâu chừng, anh lại có hứng mà quay lại cuốn phim này thì hay biết mấy.

o O o

Khương đang ngồi học bài, bỗng có tiếng xe hơi thắng két két bên ngoài, chú vội vàng bỏ cuốn sách xuống bàn, vừa chạy ra cửa vừa kêu mẹ:

“Ba về … chắc là ba vừa đi hành quân xong về thăm nhà đó mẹ ơi … để con ra mở cửa.”

Tâm và cô con gái nhỏ cũng nghe tiếng xe ngừng trước cửa, vui mừng chạy theo Khương ra cửa.

Cánh cửa bật mở, ba người lính với bụi phong trần còn nguyên trên bộ quân phục rằn ri, mệt mỏi nhưng gương mặt thật là vui vẻ bước vào. Phi Phi nhào tới trước tiên, ôm lấy người lính vừa bước vào:

“Ba … Ba yêu quý của con đã về rồi … con chờ ba hoài … mẹ cũng chờ ba … anh Khương cũng chờ ba … người ba toàn là giây nhợ không hà … con hông có ôm ba được … sao người ba … hôi quá vậy hả ba? … bộ ba không có tắm hả ba?”

Thiếu-tá Nhân ẵm cô con gái lên tay trái của mình, tay kia choàng qua ôm người vợ trẻ, tươi cười hôn lên má cô con gái nhỏ:

“Ba nhớ con gái của ba … ba nhớ con trai của ba … ba nhớ mẹ … nhớ tất cả mọi người … ba có hôi cỡ nào đi nữa, ba vẫn là ba của con … con mà không ôm chặt lấy ba là ba bỏ con xuống đó …”

Thiếu úy Hoàng vừa bước vào cũng tươi cười góp chuyện với Phi Phi:

“Anh mới tắm … tháng trước … anh không có hôi nè … Phi Phi ôm anh đi …”

Phi Phi nằm gọn trong tay ba, nhìn người lính trẻ, trề môi:

“Không … không ôm anh đâu … đàn ông con trai gì mà râu ria đầy mặt … thấy mà ghê …”

Mỗi người ráng nói một câu, tranh nhau nói như chưa bao giờ được nói … không khí trong ngôi nhà nhỏ đang là buồn tẻ chợt vui hẳn lên. Tâm ôm lấy chồng đưa tay rờ khắp người anh mà hỏi:

“Anh đi hành quân bao lâu? Có bị thương gì không hả anh …? Lính mình có bị gì không … ? Chắc là anh và các chú này chưa ăn gì phải không … ? Để em đi nấu cơm cho tất cả cùng ăn nha … ”

Khương lấy cái nón sắt trên tay ba đội lên đầu mình, đứng nghiêm đưa một tay dơ quả đấm lên hát lớn: “Biệt-động quân Sát … Biệt-động quân Sát … Chúng ta là lớp người viết thiên hùng ca … “.

Cả nhà phá lên cười thật là vui vẻ. Người tài xế đứng nghiêm chào Thiếu-tá Nhân:

“Thưa Thiếu-tá, tôi xin phép đem xe Jeep về hậu cứ, sáng mốt tôi sẽ lên đón Thiếu-tá.”

Ba đi tắm, mẹ và Phi Phi lo nấu cơm, Khương và Hoàng ngồi ghế nói chuyện với nhau. Khương hỏi anh:

-“Hành quân có mệt không anh?”

-“Đương nhiên là mệt rồi … không đụng trận cũng đã mệt rồi, nói chi kỳ này tiểu đoàn đụng trận liên miên … cũng may là trung đội Thám Sát của anh chỉ bị thương vài người thôi chứ không có ai bị chết cả.”

-“Sĩ quan đỡ nguy hiểm hơn phần nào … phải không anh … ?”

-“Sĩ quan ở đâu khác có thể đỡ phần nguy hiểm, chứ sĩ quan Biệt Động thì cũng xung phong như lính vậy thôi, có khi còn phải nhẩy lên trước nữa đó. Tài cán là một phần … hên xui lại là phần khác … đạn nó tránh mình chứ mình biết mũi tên hòn đạn nó ở dâu mà tránh nó! Em năm nay lớp mấy rồi? Nói hoài anh cũng quên hoài.”

-“Em năm nay 15 tuổi, em đang học lớp 10. Ráng học xong Tú Tài, em sẽ tình nguyện đi Biệt Động như ba, như anh …”

-“Trong thời đất nước đang trải qua cơn xâm lăng của bọn Việt Cộng như lúc này, nhập ngũ tòng quân cứu nước là việc cần thiết phải làm … nhưng nếu em có đầy đủ điều kiện học hành tiếp tục lên đại học, anh nghĩ em cứ học cho xong đi rồi hãy đi lính. Ít ra sau này, nếu được giải ngũ, mình cũng có công ăn việc làm chuyên môn.”

-“Khi đi hành quân, điều cần nhất là gì hả anh?”

-“Điều cần nhất là không để bị lạc đường. Cấp trên nói mình tới đâu? Mấy giờ? Là mình phải tới trúng phóc địa điểm đó ngay giờ G. Vì thế, địa hình địa vật và la bàn là phải thuộc nằm lòng … Để anh chỉ cho em cách xài la bàn … Đi trên đất liền hay trên biển cả hay trên mây xanh cũng đều phải biết xử dụng la bàn. Điều quan trọng thứ hai là phải có giác quan thứ sáu, phải biết nhìn quanh, phải biết đánh hơi xem những chuyện gì sẽ xẩy ra chung quanh mình mà dự phòng. Điều cuối cùng là … phải biết bắn súng và bắn cho trúng … Càng biết sử dụng nhiều loại súng càng tốt. Kỳ này Thiếu-tá nói tiểu đoàn có thể được nghỉ một tuần, anh sẽ đưa em ra bãi tập bắn để tập vài món đồ chơi cho biết, tập đi đêm dùng la bàn cho hay.”

o O o

Đó là lần cuối cùng Khương gặp anh Hoàng. Sau ngày mất nước, ba bị đưa đi tù cải tạo, anh Hoàng cũng bị đi tù, mọi việc đều đổi thay.

Khương không được tiếp tục đi học, vì ba là lính chính quy Biệt Động, thành phần mà bọn Việt cộng cho là “Có tội ác với cách mạng, với nhân dân”. Khương đành bỏ học, theo mẹ và em ra chợ trời đem đồ đạc trong nhà ra bán kiếm sống chờ ngày ba về đoàn tụ. Nhờ anh Hoàng chỉ cho vài ngón nghề, Khương biết cách dùng la bàn và các loại la bàn, nên Khương đã nhẩy vào nghề mua đi bán lại loại đồ nghề cần thiết này cho những ai muốn đi vượt biên. Cũng nhờ giác quan thứ sáu mà Khương đã tránh được những vụ bị đám công an gài bẫy, làm bộ là người đi vượt biên, rủ Khương tham gia kiếm thêm người để bắt hết cả đám. Sau khi thoát được nhiều vụ gài bẫy, Khương nói với mẹ ra ở riêng với bạn bè để tránh liên lụy cho gia đình, mỗi tối Khương vẫn về thăm mẹ và đưa tiền phụ mẹ sinh sống và tìm ra nơi ba đang bị tù, tìm cách vượt trại và vượt biên luôn cả gia đình.

Nhờ có nghề dùng la bàn, Khương dấu kín lý lịch cũ, lân la đến bến tầu, xin vào làm thủy thủ của “Công Ty Săn Bắt Hải Sản Thành Phố” ở ngay bến Phạm Thế Hiển. Chung quanh khu chợ cá, dầy đặc những công an rình bắt những ai muốn mua ghe mua máy tầu mua la bàn mà họ cho rằng sẽ dùng để vượt biên. Cũng chính nơi này là nơi mà bọn công an rủ rê tổ chức vượt biên lấy vàng. Vì tranh dành chức vụ và vàng bạc, những tên công an này bị đổi đi hoặc thăng cấp hoặc thậm chí bị thanh toán bất cứ lúc nào. Trên một chiếc tầu đánh cá biển, có một tài công và bốn thủy thủ, đồ ăn, nhân sự và dầu chạy máy được kiểm soát hàng ngày, không ai có thể dấu bất cứ một cái gì trên ghe cả.

Ngày hôm sau là tới phiên ghe của Khương ra biển, tài công cho ghe đi nhận rất nhiều cây nước đá và trấu để giữ lạnh, dầu chạy máy và đồ ăn lãnh đủ cho một tuần lễ. Ngày cuối cùng, bọn công an rình mò sáng đêm để tìm bắt nếu thủy thủ đưa thêm người lên ghe. Tới trưa, khi đang ngồi trong quán ăn thì một người bạn thủy thủ tên Thái rỉ tai Khương, cho biết đã tìm được một số người muốn đi vượt biên, đã nhận tiền và muốn chia cho cả năm người trên ghe để nếu cùng đồng ý, sẽ chia tiền liền hoặc trả lại tiền cho người ta. Khương chưa quyết định ra sao thì lại được một người bạn khác cho hay, bọn công an đã nghi ngờ lý lịch của Khương, đang cho điều tra. Tới khi cả toán năm người quyết định có nên nhận tiền tổ chức vượt biên hay không thì Thái lại cho hay, tên công an nhận tiền lo lót bãi đáp an toàn cho việc đổ người vào ban đêm đã bị đổi đi, tên công an mới vừa mới đến thay thế là một tên rất hắc ám mà Thái chưa hề quen biết, việc vượt biên coi như không xong.

Chiều đến, tới giờ ra biển, trên ghe có đúng năm người, mở máy chạy tới Nhà Bè, qua trạm biên phòng, tên công an quen mặt đưa xuống một gói dài, nói với tài công cho gởi, khi về thì đem về nhà ở Khánh Hội dùm, vì hắn sẽ bị đổi đi Minh Hải, không có dịp về lại Saigòn nữa. Xong, hắn vẫy tay cho cả bọn thẳng đường ra biển.

Ghe chạy suốt đêm tới sáng là đã ra biển khơi, cả bọn sửa soạn nấu cơm ăn sáng rồi thả lưới đánh cá. Trong lúc ăn, một thủy thủ tên Hiền, từ trước tới nay rất ít nói, rất hiền lành, đã đột nhiên lên tiếng:

“Tụi bay nghe tao nói, trong đám mình, thằng Thái tổ chức vượt biên bị bể, thằng Khương bị nghi ngờ lý lịch, tao cũng bị nghi ngờ khai gian lý lịch. Tụi bay có khai gian hay không thì tao không biết, chứ phần tao, tao là Lính Biệt Kích trốn từ trại “Tù cải tạo” của bọn Việt cộng về giả dạng thủy thủ từ đó tới nay, có một “Thằng 30″ biết mặt tao đang rình mò chung quanh nơi tao ở, tao thấy không xong rồi. Vì vậy, tao quyết định, kỳ đánh cá này, tao rủ tụi mày … đi vượt biên luôn. Tụi mày tính sao?”.

Ý định vượt biên đã nhen nhúm trong đầu của Khương từ lâu. Cách đây vài ngày, khi về thăm nhà, mẹ của Khương đã nói:

“Con ạ, ba đi tù cải tạo không biết ngày nào mới được thả về, mà dù có được về chăng nữa, cũng khó lòng có thể sống yên với đám Việt cộng. Đó là phần của ba, còn phần của con, tương lai của con và những người của chế độ Cộng Hòa mình cũng không có gì bảo đảm, họ đang kiếm con để đưa đi Căm Bốt đánh trận cho họ. Con đang có phương tiện đi biển trong tay, con nên … vượt biên ngay đi thôi. Khi ba về, mẹ sẽ giải thích cho ba hiểu. Nếu con thoát, sẽ tìm cách gởi tiền về cho ba và cả gia đình vượt biên luôn, chứ con còn ở đây thì mình sẽ chết chùm cả đám.”

Thái thì tương lai cũng không có gì sáng sủa, có thể khi trở về sẽ bị bắt …

Chỉ còn người tài công và một thủy thủ nữa chưa có ý kiến mà thôi.

Cả hai người này đang còn suy nghĩ thì Hiền đi xuống hầm, một thoáng sau đã trở lại với một gói giấy mầu nâu dài. Hiền hỏi mọi người:

“Tụi bay có biết cái gì trong này hay không?”

Khương nhìn gói giấy, đây là loại giấy không thấm nước của nhà binh … Gói giấy này hình như hắn đã thấy qua một lần … Khương ráng nhớ lại rồi chợt bật ra thành tiếng:

“Súng M72 bắn xe tăng.”

Hiền nhìn Khương chậm rãi nói tiếp:

“Đúng! Đây là súng M72. Tao còn khẩu M16 dưới hầm nữa! Tao mang lên đây từ hồi chiều, do chính thằng công an đem xuống cho tao. Tụi mày … tính sao? Tao đem theo, lỡ có bọn công an khác chặn đường, tao … chơi liền.”

Khương nhìn tên tài công, nhìn lại Hiền và tất cả, lên tiếng ngay:

“Tao biết bắn cả M72 lẫn M16. Tao đồng ý vượt biên với anh Hiền. Thằng Thái tính sao?”

Thái nhanh nhẹn trả lời:

“Tao cũng đồng ý.”

Người tài công và tên thủy thủ cuối cùng đành đưa tay lên theo số đông. Thế là cả đám đồng ý vượt biên.

Không biết ở đâu mà có, Hiền lôi ra tấm bản đồ vùng biển Đông, chấm tọa độ và phương hướng. Khương từ từ móc bửu bối từ trong người ra: Một cái la bàn nhỏ mới tinh mà Khương đã mua rẻ từ hồi làm nghề buôn bán la bàn. Khương lại có nghề tìm phương hướng nữa, nên tất cả mọi người họp nhau và đồng quyết định:

“Đi thẳng tới … Úc Đại Lợi!”

Anh Hiền giải thích thêm:

“Chúng ta dư dầu, dư đồ ăn, cứ đi thẳng tới Úc, họ sẽ nhận chúng ta ngay, còn hơn là đi tới trại tỵ nạn, sẽ phải ở đó chờ đợi phái đoàn Liên Hiệp Quốc tới phỏng vấn … lâu lắm. Tin này là do một người quen đang ở trại tỵ nạn nhắn tin về cho tôi hay. ”

Thế là chiếc ghe cứ thủng thẳng nhắm hướng Úc Đại Lợi phóng tới, vừa đi vừa đánh cá làm phương tiện trao đổi sau này.

Hai ngày sau, ghe của Khương tới Nam Dương, chạy thẳng vô một làng đánh cá với mục đích là đổi cá lấy dầu. Làng đánh cá đâu không thấy, mà cả đám lại thấy … trại tỵ nạn Galăng!

Ban giám đốc trại tỵ nạn tưởng chiếc ghe này cũng muốn lên đảo xin tỵ nạn, nên đưa người ra nhận. Họ đã rất ngạc nhiên khi thấy trên ghe chỉ có năm người, và không ai có ý định tỵ nạn cả. Hiền đứng ra giải thích:

“Chúng tôi cũng là người Việt đi tìm tự do, nhưng chúng tôi sẽ đi thẳng tới Úc, chỉ ghé đây để đổi cá lấy dầu mà thôi.”

Bất chợt, trong đám đông tỵ nạn trên đảo có tiếng kêu:

“Khương!”

Khương giật mình nhìn lên đám đông. Một dáng người chạy vội từ trong ra bãi biển, vừa đi vừa la lớn:

“Khương! Có phải Khương con của Thiếu-tá Nhân Biệt-động quân đó không? Anh là Hoàng đây. Thiếu úy Hoàng Biệt-động quân đây!”

Khương mừng quá, vội vàng nhẩy ngay xuống ghe, chạy lên bãi cát đón Hoàng.

Hai anh em nhận ra nhau, mừng mừng tủi tủi. Hoàng hỏi ngay:

“Có Thiếu-tá Nhân đi cùng với em không?”

Khương khóc mếu trả lời:

“Ba em còn bị tù cải tạo, không biết ở đâu? Em đi vượt biên một mình. Phần anh ra sao? Anh cũng bị đi tù cải tạo mà, làm sao anh lại có mặt ở đây?”

“Anh trốn trại tù, vượt biên tới đây.”

Sau khi kể lại cuộc vượt biên của đám thủy thủ đánh cá, Hoàng gặp mặt bắt tay Hiền, cùng là Lính với nhau, Hiền rủ ngay:

“Hoàng có muốn … đi Úc cùng với tụi tôi hay không?”

Hoàng đáp ngay không cần suy nghĩ:

“Có thằng em đây với tôi, có anh là chiến hữu, tôi … đi ngay chứ còn đợi gì nữa!”

—>Bài số 2

This entry was posted in 4.Truyện ngắn, Nguyễn Khắp Nơi. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s