ĐIỆU RU HỒN TỬ SĨ -The Bugle Taps – Butterfield’s Lullaby-(Nguyễn Diễm Nga – K17/2)

Thứ Bảy, ngày 26 tháng 10 năm 2019 vừa qua, nơi thủ đô tị nạn Little Saigon của người Việt hải ngoại tại Quận Cam – California, đã có một sự kiện lịch sử làm khuấy động và xôn xao những tâm tình trong lòng những người Việt xa xứ. Đó là buổi lễ tưởng niệm và an vị hài cốt của 81 Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tử nạn vào cuối năm 1965 do Quân Đội Mỹ kết hợp với Cộng Đồng Người Việt Hải Ngoại thực hiện tại Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Việt Mỹ (Sid Goldstein Freedom Park) và Nghĩa Trang Westminster Memorial Park (Westminster, California, Hoa Kỳ).

Vào ngày 11 tháng 12, 1965 tại Phú Yên, một phi vụ khẩn cấp đã được Thiếu Tá Phi Công Hoa Kỳ Robert M. Horsky theo lệnh thực hiện. Phi hành đoàn gồm bốn quân nhân Mỹ, chở theo 81 chiến sĩ Nhảy Dù thuộc Đại Đội 72 ND bay về Tuy Hòa, để tiếp ứng và giải vây cho một đơn vị trong một trận đánh tại đó. Than ôi, sứ mệnh không thể hoàn thành vì chuyến bay của họ đã nửa đường gãy cánh!

Do địa điểm chiếc vận tải cơ C-123 bị rớt nằm trong vùng đang có giao tranh nên mãi đến năm 1974, giới chức có trách nhiệm mới can thiệp để có thể vào thu nhặt hết những mảnh xương hài cốt và di vật của tất cả những người hy sinh. Những hài cốt này được chuyển đến Bangkok. Bốn quân nhân Mỹ đã được xác nhận danh tính bằng phương pháp thử nghiệm DNA và được chôn cất chu đáo ngay sau đó. Tuy nhiên, những hài cốt của những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa lại được gởi đến phòng thí nghiệm POW/ MIA tại Hawaii, nơi có nhiệm vụ xác định danh tính của những quân nhân mất tích vào năm 1986.

Do tính cấp bách của phi vụ trong chiến tranh nên chuyến bay đã thiếu sót không có bảng kê khai danh tánh rõ ràng của các quân nhân này, vì vậy việc xác định danh tánh rất khó khăn. Phòng thí nghiệm chỉ có thể xác định được là họ thuộc về Sư Đoàn Dù thiện chiến của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Kể từ đó, hài cốt của họ đã được cất giữ tại nơi này trong suốt 33 năm qua. Thân nhân của họ vô vàn đau xót!

Đau xót là vì Chính Quyền Hà Nội đã hai lần từ chối nhận những hài cốt này để an táng họ tại Việt Nam. Thử hỏi còn có điều gì phi lý và phi nhân tính hơn khi 81 người con đã sinh ra và tan xương nát thịt tại Việt Nam, nhưng lại không được phép chôn cất trong lòng Đất Mẹ? Và vì họ không phải là công dân hay quân nhân Hoa Kỳ, nên cũng không có tư cách pháp lý rõ ràng để chôn cất và vinh danh họ tại Hoa Kỳ. Họ trở thành “Những Người Vô Tổ Quốc,” sau khi họ đã hy sinh mạng sống cho một đất nước mà nay đã không còn!

Sau nhiều tháng thương lượng về ngoại giao và luật pháp vô cùng khó khăn, cuối cùng thì Thượng Nghị Sĩ Jim Webb của Đảng Dân Chủ đã thành công trong việc đưa hài cốt của 81 người lính dù VNCH về an vị tại Westminster, California vào ngày 26/10/2019 như đã kể trên.

Vì lẽ đó, sự kiện này mang tính lịch sử! Buổi lễ trang trọng và đầy cảm động ngoài ý nghĩa tưởng nhớ gương hy sinh và hành trình của 81 “Thiên Thần Mũ Đỏ” còn là một nhắc nhớ tới hàng trăm ngàn người lính khác cũng đã hy sinh mạng sống và hàng trăm ngàn hài cốt chưa được tìm thấy.

Tuy ở xa không về tham dự được nhưng tôi theo dõi buổi lễ được livestream trên internet. Khi 21 phát súng vinh danh nổ vang trên không và nhạc truy điệu trỗi lên thì lòng tôi không nén nổi những cảm xúc dâng trào.

Nếu như bạn đọc đã từng biết về xuất xứ của bài nhạc truy điệu vỏn vẹn 24 nốt nhạc này, thì có lẽ bạn cũng sẽ rơi nước mắt giống như tôi!

Bản nhạc truy điệu đặc biệt này là một phần trong lễ nghi quân cách của một tang lễ quân đội Hoa Kỳ – thường được biết đến qua cách gọi ngắn gọn là “Taps” – xuất xứ từ một hồi kèn cuối ngày trong quân đội Anh từ thời 30 năm chiến tranh của Anh Quốc (1618 – 1648) và dưới triều Vua William III cuối thế kỷ 17. Taps theo tìm hiểu của tôi, được bắt nguồn từ 2 chữ tiếng Dutch đó là “tap-toe”. “Tap” mang ý nghĩa “nguồn nước” (tap water hay faucet). “Toe” là “ngưng lại” (cut-off). Vì vậy, “Taptoe time” là hồi kèn báo hiệu mang ý nghĩa “đã đến lúc hãy ngưng uống nước và trở về đơn vị”. Lâu dần, người ta gọi tắt là “Taps”.

Đã có rất nhiều giai thoại xoay quanh giai điệu của Taps, tuy nhiên, giai thoại sau đây đã khiến cho tôi cảm động nhất mỗi khi nghe khúc nhạc trầm hùng này cất tiếng:

Vào năm 1862 ngay giữa cuộc nội chiến Bắc-Nam của nước Mỹ, khi Đại Uý Robert Ellicombe của đội quân miền Bắc (The Union) dẫn đơn vị của ông đến vùng đất Harrison thuộc tiểu bang Virginia, thì ranh giới giữa hai phe Bắc-Nam chỉ còn là một dải đất nhỏ. Giữa đêm, ông chợt nghe thấy những tiếng rên rỉ đau đớn cùng cực của một người lính bị thương nằm lây lất trên cánh đồng gần đó. Điều này đã đánh thức lòng nhân ái trong trái tim của ông. Mặc dù ông không thể nhận biết người bị thương là phe ta hay phe địch trong bóng đêm dày đặc, ông vẫn quyết định liều mình kéo người thương binh đó về phía đơn vị mình để được cứu chữa kịp thời.

Sau khi đã đưa người thương binh đó vượt qua lằn ranh giới an toàn, ông mới nhận ra đó là một người thuộc phe đối nghịch (Miền Nam -The Confederate) và anh ta đã chết. Đau đớn hơn nữa, dưới ánh lửa vừa được thắp sáng, ông điếng người khi nhận diện gương mặt của người chết: đó chính là con trai của ông, người đang theo học tại một nhạc viện miền Nam khi cuộc chiến nổ ra và anh ta đã âm thầm đăng lính tại đó mà không cho cha biết.

Sáng hôm sau, người cha đau khổ ấy đã tìm gặp cấp trên với hy vọng sẽ được niệm tình cho phép chôn cất con trai mình theo nghi thức quân đội tiễn đưa bằng dàn quân nhạc (dù người đó theo phe địch). Đương nhiên đây là điều mà “quân pháp bất vị thân”. Tuy nhiên, vì lòng thương cảm, cấp trên cho phép ông được chọn duy nhất một nhạc công để hành lễ. Đại uý Ellicombe đã chọn người nhạc công thổi kèn bugle – một loại kèn đồng đơn giản – và ông đưa cho người nhạc sĩ ấy một đoạn nhạc gồm 24 nốt nhạc được viết trong một mảnh giấy mà ông đã tìm thấy trong túi áo của người con trai xấu số của mình. Đó chính là giai điệu của Taps hôm nay. Phải chăng chính vì câu chuyện cảm động này mà Taps – từ một hồi kèn cuối ngày đã trở thành một “Chiêu Niệm Khúc” – chính thức và long trọng để tiễn đưa những ai đã từng khoác màu áo trận. Người ta tin rằng Chuẩn Tướng Daniel Butterfield chính là người đã biên soạn lời nhạc còn lưu hành đến hôm nay, vì vậy Taps còn được những người lính gọi bằng một cái tên thương mến “Butterfield’s Lullaby”:

Chiến tranh bao giờ cũng tàn nhẫn, nhưng nét đẹp nhân bản trong vị thế “thắng” và “thua” mới là điều để lại cho đời sau. Chính vì vậy mà khi giai điệu nhạc truy niệm này trỗi lên, tôi cảm thấy nghẹn trong cổ họng và cay nơi khoé mắt.

Vì sao những người lính Mỹ trong cuộc nội chiến nước Mỹ – tuy khác chiến tuyến Bắc/Nam – vẫn được chôn cùng một nghĩa trang tại Arlington National Cemetery? Vì sao nắm xương tàn của những người lính Việt Nam Cộng Hoà bạc mệnh thì lại trôi nổi lưu vong hơn nửa thế kỷ mãi chưa an vị? Để rồi phải nhờ sự giúp sức của những người đồng minh năm xưa – tuy khác màu da – mới có thể nghỉ yên nơi lòng đất. Trong khi những con người cùng “một bọc trứng trăm con” của Mẹ Âu Cơ thì lại dửng dưng khước từ điều “nghĩa tử là nghĩa tận”?

Là những người Việt xa xứ, chúng ta vẫn luôn giữ gìn nét văn hoá Việt, trong đó có tập tục dù có đi đâu, ở đâu, khi “Năm hết – Tết đến” chúng ta vẫn luôn tưởng nhớ đến người đã khuất.

Với nỗi niềm này, người viết xin được mạn phép phỏng dịch “Butterfield’s Lullaby” thành “Điệu Ru Hồn Tử Sĩ’ để như một nén hương lòng kính nhớ 81 anh linh vừa ngơi nghỉ trong lòng đất bao la.

Ngày vừa qua
Nắng tắt rồi
Trên sông nước
Trên núi đồi
Chiều buông…
Đôi câu lục bát quê hương
Ru hồn tử sĩ can trường ngủ yên

Nhạt dần
tia sáng chơi vơi
giữa trời một ánh sao ngời lung linh
màn đêm gần gũi vô hình
buông trên vạn vật lặng thinh một màu

Hãy tạ ơn,
Hãy nguyện cầu,
Dưới vầng nhật-nguyệt muôn sao nhiệm mầu
Lòng tin Thượng Đế trên cao
Một ngày ơn phước dạt dào vừa qua

Hoàng hôn,
bóng tối nhạt nhoà
thời gian dìu
lũ trẻ ngoan vào giường
những lời hứa hẹn vẫn luôn
tròn đầy nhịp thở không vương muộn phiền

Giữa vầng sáng nhạt dần chìm
Dịu dàng lấp lánh sao đêm gửi về
Thượng Đế ơi, xin lắng nghe!
Tay Ngài xin hãy chở che muôn hồn

Nguồn tham khảo:

* Các cựu chiến binh của binh chủng Nhảy Dù đang tiễn đưa lần chót những đồng dội của mình tới nơi an nghỉ cuối cùng (hình đầu bài).

Nguyễn Diễm Nga – K17/2

(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 118 – 1/2020)

This entry was posted in 2.Một thời để nhớ, Bình-luận - Quan-điểm, Người Lính VNCH, Văn Hoá Vụ - Trường Võ Bị Đà Lạt, Đa Hiệu. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s