Huy Vũ: NGÀY BUỒN NHẤT ĐỜI TÔI


(Lê Thy đánh máy lại từ bản PDF)

Nếu có ai cắc cớ hỏi tôi, ngày buồn nhất của đời tôi là ngày nào? Tôi sẽ không do dự một ly ông cụ nào hết để trả lời ngay rằng: ngày 30-04-1975.

Thật vậy, cho đến lúc này, đã vượt qua ngưỡng cửa “thất thập cổ lai hy” một đoạn kha khá rồi, song tôi vẫn thấy đó là ngày buồn nhất của đời tôi. Tuy hơn 30 năm trôi qua, song dường như ngày hôm ấy vẫn còn mới nguyên trong lòng tôi. Tôi còn nhớ rõ lắm, hôm ấy là một ngày khá đẹp trời ở Thị Xã Châu Đốc. Ánh nắng chan hòa trải dài trên dòng Hậu Giang. Chim nhẩy nhót hát ca trên những chòm cây, và bướm lượn tung tăng trên những đám cỏ. Xe cộ tấp nập ngược xuôi trên đường Gia Long song song với dòng sông Hậu, băng ngang qua Tòa Hành Chánh tỉnh, rồi xuyên vào khu phố chợ sầm uất nhất của Thị Xã.

Khoảng 9 giờ sáng hôm ấy, tôi từ Tòa Hành Chánh Tỉnh trở về nhà riêng trong khu cư xá Gia Long, sau một đêm ứng chiến tại nhiệm sở. Về tới nhà là tôi mở ngay radio để nghe tin chiến sự. Liền sau đó, đài Phát Thanh Sàigòn thông báo:

– “Xin chú ý ! Xin chú ý ! Xin đồng bào chú ý ! Tổng Thống Dương Văn Minh sẽ ngỏ lời cùng đồng bào. Xin theo dõi”.

Dựa vào tình hình chiến sự lúc ấy, tôi phỏng đoán vị Tân Tổng Thống cũng là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ tuyên bố TỔ QUỐC LÂM NGUY, rồi nhân đấy kêu gọi toàn dân và toàn quân chiến đấu đến viên đạn và giọt máu cuối cùng. Ngồi vào bàn ăn, vừa ăn vừa chờ đợi đón nhận những lời “gang thép” ấy. Ít phút sau từ chiếc radio phát ra: “Tổng Thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố, chính quyền Saigòn từ trung ương đến điạ phương, trao lại cho chính quyền Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam”.

Thật không ngờ lại là lệnh buông súng đầu hàng, khiến tôi ngẩn ngơ, ngỡ ngàng, hụt hẫng, chới với. Miếng bánh mì đang nuốt, bỗng ngừng lại nơi cuống họng. Miệng tôi bỗng lẩm bẩm: “Không! Không! Không thể đầu hàng nhục nhã như thế được”. Tôi đứng bật dậy, lảo đảo bước tới chiếc giường, rồi thẩy mình lên đó, đau đớn, buồn bã, vật vã, rã rời.

Khi thầy tôi mất vào năm 1957, và khi me tôi từ trần vào năm 1962, tôi buồn đến nỗi, ngày quên ăn, đêm quên ngủ, nhưng chưa đến nỗi quyên sinh. Khi người mà tôi yêu lên xe hoa về nhà chồng, tôi cũng buồn man mác, nhưng chưa đến nỗi tan tác cả cõi lòng. Khi thi tú tài và cử nhân tôi cũng hỏng thi đôi ba lần, và mỗi lần hỏng thi tôi cũng buồn lắm, nhưng chưa bao giờ tôi coi đó là “đệ nhất buồn” trong đời như nhà thơ Tú Xương cả. Song vào ngày 30.04.75, sau khi nghe Tổng Thống Dương Văn Minh hạ lệnh buông súng đầu hàng, tôi buồn ghê gớm, chẳng những buồn đến nỗi tan tác cả cõi lòng, mà còn buồn đễn nỗi muốn quyên sinh nữa. Năm 1954, tôi mất nửa nước; hơn 20 năm sau tôi mất nốt phần còn lại. Còn nỗi buồn nào lớn hơn thế nưã không? Tôi biết rõ nỗi buồn đến với tôi vào ngày 30/4 không chỉ bắt nguồn từ tình huống hiện tại, mà còn có những nguyên nhân sâu xa hơn trong quá khứ nữa.

Trước năm 1954 gia đình tôi đã lầm lỡ “ôm chân” ông Hồ và các đồng chí của ông ở Liên Khu Bắc Việt, trong suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, chỉ vì ngây thơ tin rằng, ông ta và các đồng chí của ông ta là những người quốc gia yêu nước, đánh Pháp, để dành lại độc lập cho đất nước, và tự do cho dân tộc. Sau chín năm gia đình tôi đổ mồ hôi, sôi nước mắt, còng lưng cày cấy dưới những làn đạn bom để có đủ thóc lúa đóng thuế nông nghiệp nuôi ông Hồ và đồng bọn đánh Pháp. Song ngay sau khi giành được những thắng lợi to lớn về quân sự, và biết sắp chiếm được nửa nước từ Ải Nam Quan đến Sông Bến Hải, là ông Hồ và các đồng chí của ông vâng lệnh ngay quan thầy Nga-Xô và Trung Cộng cho thực thi cái gọi là Cách Mạng Ruộng Đất, để ĐÀO TẬN GỐC, TRỐC TẬN RỄ thành phần TRÍ PHÚ ĐỊA HÀO, trong đó có gia đình tôi. Trong thời gian thực thi cuộc cách ruộng đất, chính quyền chuyên chính vô sản ở nông thôn đã cấm dân chúng không được nói chuyện, không được cho chác tiền bạc, cơm gạo, v.v.., không được thuê mướn điạ chủ và thân nhân của họ. Với chính sách độc ác tàn nhẫn này, khiến điạ chủ cùng thân nhân của họ muốn đi ăn mày cũng không được, muốn đi làm mướn cũng không xong, và chỉ còn một lối thoát duy nhất là đi lang thang trên những cánh đồng, đồi nương để mót những củ khoai lang, khoai sọ, khoai mì, v.v.. còn sót lại ăn sống cho qua ngày, rồi chết dần chết mòn trên khắp nẻo đồng quê. Gia đình tôi bị đẩy vào tình trạng sống dở, chết dở, như thế đó, nên đã phải vội vàng bỏ ruộng vườn, bỏ nhà cửa, bỏ mồ mả của ông cha, bỏ luôn cả “Bác và Đảng”, trốn chạy vào miền Nam với hai bàn tay trắng. Không ngờ bây giờ, ông Dương Văn Minh lại dâng nốt nửa nước còn lại, từ sông Bến Hải tới mũi Cà Mâu, cho Cộng Sản. Trên giải đất Việt Nam thân yêu hình chữ S này còn chỗ nào cho tôi và những người chán ghét chủ nghĩa cộng sản như tôi dung thân nữa không?

Trong cuộc chiến chống lại âm mưu áp đặt chế độ Cộng Sản lên đầu lên cổ nhân dân miền Nam, hàng trăm ngàn người miền Nam đã hy sinh tính mạng, và hàng triệu người miền nam khác đã tranh đấu suốt 20 năm trường, trên khắp hang cùng ngõ hẻm, để giữ cho nhân dân miền Nam được sống tự do, no ấm dưới ánh sáng mặt trời, và hy vọng một ngày nào đó giải phóng miền Bắc khỏi chế độ cộng sản độc tài tàn ác. Nay tất cả những hy sinh to lớn và cao thượng ấy bỗng tan biến vào khoảng không, như những con “dã tràng xe cát biển Đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”.

Gần mười năm trời sống với Cộng Sản ở miền Bắc, tôi đã tận mắt thấy được ông Hồ và các đồng chí của ông đối xử cực kỳ dã man tàn bạo đối với hàng trăm ngàn người mà chúng cho là đã gián tiếp hay trực tiếp chống lại họ trước và sau năm 1945, nhất là đối với những người mà chúng gọi là là đảng phái phản động, cường hào ác bá, địa chủ ác ôn, tay sai của Quân Phiệt Nhật, hay chó săn của Thực Dân Pháp. Những người này bị giam cầm, tra tấn, hành hạ trong những trại giam khét tiếng là tàn bạo như Đầm Đùn, Lý Bá Sơ v.v.. cho đến chết. Tôi tin chắc rằng, sau ngày 30/4 những biện pháp đối xử tàn bạo ấy sẽ được chúng lập lại một cách tinh vi hơn và tàn bạo hơn đối với những người ở miền Nam mà chúng gọi là “ngụy quân”, “ngụy quyền”, đảng phái phản động, Việt Gian bán nước, mãi quốc cầu vinh, chó săn đế quốc Mỹ, tay sai ngọai bang, lòng lang dạ thú, trong đó có tôi. Và hình phạt mà Cộng Sản dành cho họ là thủ tiêu một cách âm thầm lặng lẽ, hoặc đưa ra cái gọi là TÒA ÁN NHÂN DÂN và dùng LUẬT RỪNG để công khai bắn bỏ những tên mà chúng gọi là đầu sỏ. Số còn lại sẽ bắt bỏ tù trong những trại tập trung cải tạo và lao động khổ sai, không có ngày ra, cho chết dần chết mòn.

Trước ngày 30/4/1975 tôi đã được biết Cộng Sản áp dụng những biện pháp tàn bạo và khắt khe để bần cùng hóa nhân dân miền Bắc đồng thời để buộc họ phải triệt để tuân hành mệnh lệnh của Đảng và Nhà Nước như những con chó trung thành với chủ. Và tôi tin rằng những biện pháp này sẽ được cộng sản miền Bắc áp đặt lên đầu lên cổ nhân dân miền Nam, trong đó có gia đình tôi. Một trong những biện pháp thâm độc nhất là, dùng thực phẩm như gạo, ngô, khoai, sắn để nắn bóp cái dạ dày của nhân dân và để buộc họ phải làm những gì mà Đảng và Nhà Nước muốn. Làm sẽ được phân phối thực phẩm. Không làm, tất nhiên không có thực phẩm, sẽ chết đói. Không còn con đường nào khác. Nói một cách khác, nhân dân miền Nam, trong đó có gia đình tôi, vào những ngày sắp tới sẽ phải khốn đốn và đói khó. Khi Việt Cộng GỌI không Dạ, BẢO không VÂNG, là không có gạo, ngô, khoai, sắn bỏ vào miệng nữa, chỉ còn nước há họng kêu trời.

Trong ngày 30.04.75, không ít người từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, vì nông cạn, ngây ngô, khờ khạo, đui mù, nên đã hồ hỡi, hân hoan, hớn hở, vui mừng đón chào như một ngày khải hoàn của dân tộc. Đối với tôi, đó là ngày CƯỜNG BẠO thay CHÍ NHÂN, ngày PHI NGHĨA thắng CHÍNH NGHĨA, ngày NHÀ TAN và NƯỚC MẤT. Ngày 30.04.1975, đối với những người có lương tri, không thể nào coi là ngày mà toàn thể dân tộc Việt Nam, sau bao nhiêu năm hy sinh xương máu đã dành lại được độc lập và thống nhất, mà chỉ là ngày Việt Cộng CƯỚP được trọn vẹn nước Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, sau bao nhiêu năm lợi dụng chiêu bài đuổi Nhật, đánh Pháp, và chống Mỹ để khai thác lòng yêu nước và vắt ép cạn kiệt xương máu của người dân Việt hầu hoàn tất cuộc cách mạng dân tộc để đưa Việt Nam vào quỹ đạo Cộng Sản Quốc Tế. Nói một cách khác, ngày 30.04.75 chỉ là ngày mà những tên Cộng Sản Việt Nam đã làm tròn bổn phận tay sai của chúng, đối với quan thầy Cộng Sản Nga-Tầu. Ngày mà những tên Việt Cộng hồ hỡi, hân hoan dụ dỗ một đám con nít, và một đám người lớn “mù lòa” xuống đường phố hoan ca: “như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng” là ngày tôi đau đớn, đóng cửa ngồi khóc thầm cho số phậm hẩm hiu đen như mõm chó của cá nhân tôi, của gia đình tôi và của dân tộc tôi.

Trước ngày 30/4, tôi biết một số không ít người miền Nam vẫn khờ khạo nghĩ rằng, Việt Cộng, máu cũng đỏ, da cũng vàng, và cũng là người Việt Nam. Đối với tôi là người đã sống ở liên khu Bắc Việt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của “Bác và Đảng”, nên có nhiều cơ hội được nghe những gì Việt Cộng đã nói, thấy được những gì Việt Cộng đã làm, và biết rất rõ thực chất họ chỉ là lũ chó săn trung thành của Cộng Sản Nga Tầu. Bề ngoài của họ không khác người Việt một chút nào cả. Song trong tâm khảm và óc não của họ, không còn một chút nào là người Việt Nam nữa. Trong thực tế cũng như trên lý thuyết đã cho thấy rõ ràng rằng, những tên đầu sỏ Việt Cộng như Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, và đồng bọn, tuy bề ngoài còn đầy đủ dáng vẻ của người Việt Nam, song bề trong, hiện nguyên hình là những tên tay sai trung kiên của Quốc Tế Cộng Sản. Họ là những người đã gia nhập và đã tuyên thệ tuyệt đối trung thành với tổ chức này và đặt quyền lợi của nó lên trên quyền lợi quốc gia Việt Nam. Họ là những người sẵn sàng hy sinh quyền lợi của Tổ Quốc để phụng sự Quốc Tế Cộng Sản. Và họ cũng chính là những người đã nhận lệnh Quốc Tế Cộng Sản trở về Việt Nam lợi dụng và khai thác lòng yêu nước của người dân Việt, để hoàn tất cuộc cách mạng dân tộc, một trong những điều kiện tiên quyết cần và đủ để dâng hiến trọn vẹn Việt Nam cho Cộng Sản Quốc Tế. Nói khác đi, ông Hồ và những đồng chí của ông, đuổi Nhật, đánh Pháp, chống Mỹ không phải với tư cách hay nghĩa vụ của một công dân Việt Nam yêu nước thuần túy, mà với tư cách và nghĩa vụ của một thành viên Quốc Tế Cộng Sản trung kiên. Đối với bọn này thì việc tranh đấu dành độc lập cho dân tộc Việt chỉ là phương tiện, còn việc dâng hiến đất nước Việt cho Quốc Tế Cộng Sản mới là cứu cánh.

Ông Hồ cũng không hề giấu giếm điều này khi ngỏ lời kêu gọi thành lập đảng cộng sản Đông Dương vào năm 1930:

– “Hỡi công nhân, nông dân, thanh niên, học sinh, anh chị em bị áp bức bóc lột. Anh chị em, các đồng chí! Nhận chỉ thị của Quốc Tế Cộng Sản giải quyết vấn đề cách mạng ở nước ta, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ, và thấy có trách nhiệm gửi tới các anh chị em và các đồng chí lời kêu gọi này”.

Qua lời kêu gọi này ta thấy rõ ràng là ông Hồ từ Liên Xô về nước để làm cuộc cách mạng dân tộc đánh đuổi Thực Dân Pháp không phải là với tư cách một người Việt Nam yêu nước mà là với tư cách là một thành viên trung kiên của Quốc Tế Cộng Sản.

Ông Hồ cũng đã một lần nữa xác nhận thêm rằng nhiệm vụ của ông không phải là giành độc lập cho Việt Nam mà chỉ là phương tiện để đưa Việt Nam hội nhập vào Quốc Tế Cộng Sản, qua bài thơ ông làm, khi viếng thăm đền Kiếp Bạc thờ Trần Hưng Đạo:

“Tôi anh hùng, bác cũng anh hùng
Tôi bác cùng chung nghiệp kiếm cung
Bác thắng quân Nguyên thanh kiếm bạc
Tôi trừ giặc Pháp ngọn cờ hồng
Bác đưa một nước qua nô lệ
Tôi dắt năm châu đến đại đồng
Bác có linh thiêng cười một tiếng
Rằng tôi cách mạng đã thành công. “

Qua bài thơ này, người ta thấy rõ ràng là ông Hồ đã nói huỵch tọet ra rằng, Trần Hưng Đạo dùng thanh kiếm bạc thắng quân Nguyên là để đưa dân tộc Việt thóat khỏi vòng nô lệ. Còn ông ta dùng ngọn cờ hồng trừ giặc Pháp, không phải là để đưa riêng Việt Nam thoát khỏi ách nộ lệ, mà là để đưa cả năm châu, trong đó có Việt Nam, đến Thế Giới Đại Đại Đồng. Nói một cách vắn tắt và rõ ràng hơn là ông ta dâng nộp Việt Nam cho Quốc Tế Cộng Sản.

Nói tóm lại, ông Hồ và các đồng chí của ông luôn luôn đặt quyền lợi Quốc Tế Cộng Sản lên trên quyền lợi Quốc Gia. Do đó tất cả những người Việt Nam nào đặt quyền lợi Quốc Gia lên trên hết, là trái với ý ông, là những viên đá cản đường để ông đưa nước Việt Nam gia nhập vào Quốc Tế Cộng Sản, đồng thời cũng là kẻ thù không đội trời chung của ông nữa. Chính vì thế, trước và sau khi nắm chính quyền vào năm 1945, ông Hồ và các đồng chí của ông đã thanh toán hàng trăm ngàn người Quốc Gia yêu nước nhưng không yêu chủ nghĩa cộng sản. Và cũng chính vì thế mà ông Hồ vào năm 1925 đã không do dự cung cấp tin tức cho thực dân Pháp bắt nhà cách mạng lão thành và quốc gia chân chính là cụ Phan Bội Châu để lãnh thưởng 100,000 đồng bạc Đông Dương. Đối với ông Hồ đây là một hành động nhất cử lưỡng tiện vì vừa trừ khử được một tên quốc gia đầu sỏ nguy hiểm, lại vừa lãnh được một số tiền khổng lồ.

Cũng tương tự như thế, mà một tên Việt Cộng đầu sỏ khác, Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm Văn Đồng, vào ngày 14-09-1958 đã ký một công hàm gửi Chu An Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Trung Quốc, và hứa sẽ triệt để tôn trọng điều này trong mọi quan hệ với Trung Quốc trên mặt bể. Ông Đồng là một tên Việt Cộng, song còn là một thành viên thâm niên và trung kiên của Cộng Sản Quốc Tế, nên ông ta phải luôn luôn đặt quyền lợi của Cộng Sản Quốc Tế lên trên quyền lợi Quốc Gia. Trong thâm tâm của ông Đồng, thì việc xác nhận hải phận 12 hải lý của Trung Cộng đồng nghĩa với việc bồi đắp cho Cộng Sản Quốc Tế ngày một lớn mạnh, và đây còn là dịp may hiếm có để ông bầy tỏ lòng trung thành đối với Quốc Tế Cộng Sản, nên ông ta không hề do dự khi đặt bút ký vào công hàm ấy.

Tính từ ngày 30.04.75 tới nay, đã hơn 30 năm nước chảy qua cầu, tôi cũng đã phải đương đầu với những đau thương, buồn bã, và những mất mát to lớn. Song đó chỉ là những nỗi đau buồn và mất mát tầm thường dưới sức chịu đựng của tôi. Cho tới nay tôi đã vào độ tuổi gần đất xa trơì, song tôi vẫn tin rằng trong thời gian còn lại của đời tôi chắc không còn nỗi buồn nào to lớn bằng nỗi buồn mà tôi đã có vào ngày 30.04.75. Chắc chắn ngày này là ngày buồn nhất của đời tôi.

Huy Vũ

<—-Trở về Mục Lục

This entry was posted in *Mùa QUỐC HẬN, 1.Hồi-ký - Bút-ký, Huy Vũ. Bookmark the permalink.

1 Response to Huy Vũ: NGÀY BUỒN NHẤT ĐỜI TÔI

  1. kimoanh le says:

    Ôi nếu ngày âý bến Nhà Rồng đóng cửa
    Người lang thang quay trở lại Nghệ an
    Làm đĩ bút hay một chân thư lại
    Thì ngày nay dân đã thoát lầm than ….

    Like

Comments are closed.