ĐÁ VÀNG (Song Vũ- K17)

(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 117 – tháng 9/2019)

Một

Năm 1970 sau gần tháng trời lùng địch trong một cuộc hành quân lớn của Sư Đoàn tổ chức, đơn vị của Hải được kéo về hậu cứ nghỉ dưỡng quân. Hải cầm tờ giấy 3 ngày phép trong tay lòng thấy vui hơn bao giờ hết. Tính ra anh đã xa người yêu gần 4 tháng trời. Thực ra Lan không phải là cô gái đầu tiên Hải quen và yêu, trước đó anh cũng đã từng yêu một hai cô gái khác rồi. Nhưng có điều từ ngày quen biết Lan qua một người bạn giới thiệu, Hải thấy hình như trong anh có một sự thay đổi khác hẳn. Từ lần gặp đầu tiên, qua vài ba câu chuyện vu vơ, Hải thấy mình như bị một sức thu hút kỳ lạ chiếm trọn vẹn những suy nghĩ của Hải. Khi trở lại đơn vị sau lần gặp gỡ ấy, cả đêm anh trằn trọc thao thức, bồn chồn tưởng nghĩ về người yêu. Hải nói với chính mình, “Chắc mình yêu thực rồi”. Khi tâm sự cùng một bạn đồng khóa trong tiểu đoàn, Trung Úy Tân, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn, cười vỗ vai Hải rồi bảo:

– Mày bị tiếng sét ái tình choảng cho nổ đom đóm mắt rồi con ạ.

Hải chống chế yếu ớt:

– Mày xạo, nàng đâu có phải là người con gái đầu tiên tao quen?

Tân giải thích:

– Đó, đó mới là vấn đề. Mày có thể quen biết, chung chạ với cả chục cô gái, nhưng rồi một ngày đẹp trời nào đó mày chết chìm trong ánh mắt một người, thậm chí người ấy xấu xí hơn cà một vài cô gái mày từng quen. Cái đó mới chính là tiếng sét ái tình, mày hiểu chưa?

Hải vặn lại:

– Mày làm như lõi đời lắm, tao hỏi thật, mày có bị sét đánh bao giờ chưa?

Tân cười hô hố:

– Mày hỏi lãng xẹc, tao mà bị sét đánh thì tiêu tùng rồi chứ đâu có ngồi đây tán gẫu với mày!

Hải cười bẽn lẽn.

– Ý tao muốn nói là tiếng sét ái tình. À cái này thì chưa, sét đâu có đánh bừa bãi, phải ở trong một cơ hội đặc biệt nào đó mới có gió mưa và sấm sét, hiểu chưa? Thậm chí phải có cơ duyên nào đó giữa hai kẻ si tình ông thần sét mới choảng cho cả hai u mê bất tỉnh chứ đâu thần sét có đánh hoảng đánh tiều!

Những lời nói bông lơn của Tân khiến cho Hải càng suy nghĩ mông lung hơn, anh chép miệng, “Có lẽ mình bị tiếng sét ái tình thực rồi.”

Thời gian trôi rất nhanh, mới đó mà cả hai cũng đã quen nhau được hơn một năm. Nói theo kiểu nhà binh, Hải đã gặp Lan được vài ba lần trong ba kỳ nghỉ phép. Gần cuối năm 1971, trong một lần nghỉ phép khác, Hải đưa Lan đi xem cuốn phim “Valse dans l’ombre” do Robert Taylor và Vivien Leigh đóngvai chính lúc đó đang trình chiếu tại rạp Eden, Sài Gòn.

Khi cuốn phim kết thúc, đèn trong rạp bật sáng, Hải bắt gặp những ngấn nước mắt còn đọng trên khuôn mặt một số nữ khán giả ngồi gần.

Hai

Câu chuyện trong phim kể về một mối tình dang dở trong cuộc chiến tranh Thế Giới Thứ Nhất giữa một Đại Úy bộ binh tên Roy và một cô vũ nữ ballet tên Myra

Mối tình sét đánh trong lúc cuộc chiến đang trong giai đoạn khốc liệt, ngặt nghèo khiến cho cả hai phải sống trong khắc khoải yêu thương chờ đợi. Những tưởng tình yêu của đôi trai tài gái sắc này sẽ đi đến một kết cục tốt đẹp; nhưng rồi biết bao biến cố xảy đến cho cả hai khiến cho gia đình của Roy không thể chấp nhấp nhận cô con dâu tuy xinh đẹp nhưng có vị trí thấp kém hơn mình. Thêm vào đó, khi Myra hay tin người tình của mình tử nạn trên trang báo hàng ngày nàng đọc được một cách tình cờ ở một quán cà phê trong lúc chờ đợi mẹ của Roy hẹn gặp. Cái tin ác nghiệt đó đã làm Myra chết lặng, nàng phải tự trấn tĩnh mình trong vài ly rượu mạnh để có thể khỏa lấp được nỗi đau thương bất ngờ.

Chính lúc đó thì cũng là lúc mẹ của Roy xuất hiện. Bà mẹ đã không thể nào chịu đựng được cách nói năng cũng như tình trạng say xỉn của cô con dâu tương lai, bà đứng lên bỏ ra về. Tuyệt vọng trong tình yêu khiến Myra đổ bịnh. Cũng may có cô bạn thân Kitty cùng vũ đoàn ngày trước cưu mang lo thuốc thang đùm bọc mà qua khỏi. Khi biết rõ sự thực về người bạn thân của mình đã phải làm gái đứng đường kiếm tiền nuôi mình, Myra muốn té xỉu vì thương bạn. Cả nước Anh lúc đó đang trong thời tao loạn. Myra nghề nghiệp không có ngoài tài vũ ballet mà đoàn vũ vì tình trạng chiến tranh cũng không thể trình diễn được nữa; nên chỉ còn cách duy nhất là đi chung con đường với bạn của mình. Mọi sự tưởng chừng như đã kết thúc, nào ngờ trong một lần đứng đón khách ở sân ga, Myra gặp lại Roy – người tình trong mộng ngày nào.

Thì ra Roy không chết trong chiến trận, anh chỉ bị thương và bị bắt. Sau khi chiến tranh kết thúc, anh được trao trả tù binh và trở về nhà. Roy vẫn còn rất yêu Myra, và nàng cũng không dấu diếm gì tình trạng khốn cùng của mình, nàng đã kể cho Roy nghe hết những tai họa đã chụp xuống đầu mình kể từ lúc hai người chia tay trên sân ga. Roy cảm thông nỗi đau thương ấy và sẵn sàng nối lại tình yêu với nàng, nhưng gia đình anh thì không thể chấp nhận điều đó. Cuối cùng Myra bỏ đi đến cây cầu Waterloo ngày trước, là nơi hai người đã gặp nhau một cách tình cờ lúc cùng trú ẩn khi có máy bay của địch tới đánh bom thành phố. Myra nghĩ rằng mình không còn xứng đáng với mối tình đẹp đẽ ngày xưa của hai người. Nàng đã chọn cho mình một kết thúc bi thảm. Hình ảnh cuối cùng của cuốn phim là hình ảnh một Myra đôi mắt bơ phờ mệt mỏi, như một người mất hồn đi thẳng về hướng một đoàn xe tải nhà binh đang chạy ngược chiều trong ánh đèn chấp chóa của mưa đêm…

Bước ra khỏi rạp cả hai lặng lẽ đi bên nhau một khoảng đường rất xa, hình như mỗi người đều cố nén cảm xúc riêng tư của mình từ cuốn phim vừa mang tới. Tay trong tay, không ai nói với ai một lời. Mãi tới gần chợ Bến Thành, Hải kéo tay Lan vào quán Thanh Bạch ăn chiều.

Khi bước ra khỏi quán, Lan bỗng hỏi:

– Này anh, anh nghĩ rằng mối tình này không thành là do lỗi ở ai? Myra hay Roy, hay gia đình của Roy?

Hải trầm ngâm một lúc mới trả lời:

– Không do ai cả, em à, mà bởi thời cuộc, những oan khiên của mọi cuộc chiến tranh và những hoàn cảnh mà thoạt nhìn cứ như có vẻ tình cờ đã đẩy đưa con người vào những nghiệt ngã của nó. Trong chiến tranh, thân phận con người vô cùng bé nhỏ, không hơn con sâu cái kiến là bao. Sinh mạng con người còn không đáng kể, nói chi một cuộc tình. Đó là lý do anh chần chờ mỗi lần em nhắc tới chuyện cưới hỏi. Anh vẫn thường nói với em, chúng ta yêu nhau như một định mệnh. Nhưng định mệnh ấy lại đang bị bủa vây tứ phía trong thời tao loạn – vì thế anh không muốn…

Lan cướp lời:

– Anh không muốn làm khổ em bằng những khoảng thời gian mong mỏi chờ đợi, thậm chí những hệ quả thảm khốc ngoài sự chịu đựng của em. Có lẽ em nên chọn một người chồng khả dĩ giảm thiểu tối đa những nguy cơ mang lại cho em sự khổ đau khôn nguôi.

Hải cười:

– Em có vẻ thuộc bài quá.

– Cũng chỉ vì anh nói nhiều lần làm em nhập tâm. Anh à, với anh sao em không biết, với em, tình yêu là một điều gì đó lạ lùng kỳ bí khó hiểu. Chúng ta không thể dùng lý trí để cắt nghĩa được. Nói đúng hơn, nếu dùng lý trí để giải thích được lý do của cuộc tình, mối tình ấy chưa phải là tình yêu đâu anh. Em yêu anh ngay từ lúc gặp nhau lần đầu tiên cho tới giờ phút này. Em không giải thích được và em nghĩ tình yêu của em giành cho anh là định mệnh của em. Trong thời chiến tranh, may rủi trùng trùng, như anh thấy qua cuốn phim chúng ta vừa xem, không thể nói trước được một điều gì. Hãy chấp nhận nó cùng với mọi bất trắc đính kèm. Em cũng hiểu được lòng chân thành của anh muốn cho em có một cuộc sống yên ổn hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng anh không biết được điều này, hôn nhân không tình yêu là hỏa ngục.

Hải im lặng ngồi nghe cô sinh viên Văn Khoa Lan say sưa nói. Anh không ngắt lời vì anh hiểu rằng hình như những điều Lan đang nói cũng đã từng có lần anh tự biện bạch với mình khi ngỏ lời yêu nàng.

Nghĩ tới hai ngày nữa anh sẽ trở về đơn vị; rồi những cuộc di chuyển, hành quân lâu nay thực hiện như một thói quen khiến anh thấy một chút buồn trong lòng. Cả hai bỗng dưng ngồi im lặng khá lâu, trong góc quán có chiếc máy Akai. Thái Thanh đang hát bản nhạc tình buồn, “Kỷ Vật Cho Em” do Phạm Duy phổ nhạc từ một bài thơ lính làm không khí càng trầm buồn hơn.

Thời gian nghỉ phép ngắn ngủi không đủ để nói với nhau cạn hết ý nghĩ riêng tư. Hải thường tự an ủi mình nhiều khi thế mà lại hay, tình yêu cần sự im lặng và cảm thông hơn lời nói. Lời nói bóng bẩy thường có chút gì giả dối. Tình yêu cần tới ngôn ngữ tỏa ra từ ánh mắt nhiều hơn cái miệng. Hải nghĩ thầm trong bụng rồi cười vu vơ. Lan nhìn anh rồi hỏi,

– Anh cười gì vậy?

– À không, anh đang nghĩ về chuyện thiên hạ ấy mà!

Lan hỏi:

– Anh trả phép rồi bao giờ mới về lại?

– Anh cũng chẳng biết, vì tùy theo tình hình ngoài mặt trận. Trên nguyên tắc, cứ ba tháng mổi sĩ quan trong đơn vị của anh được quyền có 3 ngày nghỉ phép cho những ai có gia đình ở gần; với những ai ở khác quân khu thì một năm có 10 ngày. Nhưng nhiều khi đơn vị hành quân liên tục, hoặc mắc kẹt trong một chiến dịch Bình Định nào đó có khi bốn năm tháng không chừng.

Lan nói bâng quơ:

– Chẳng bù cho mấy đứa bạn em biết đang sống trong cư xá, có chồng con anh em cũng là nhà binh như anh, sáng đi làm chiều về với gia đình, giống như công chức vậy đó!

Hải cười buồn:

– Cũng là cái số cả thôi em. Những người đó nhờ may mắn hoặc một lý do nào đó họ được phục vụ trong những đơn vị chuyên môn; còn bọn anh chỉ có nghề đi bộ và bóp cò thì ra trận là đúng công việc rồi.

Lan có vẻ không chấp nhận câu giải thích này nên nói:

– Em không nghĩ thế. Cuộc chiến là việc chung của cả dân tộc, nghĩa vụ là gánh nặng chung cho tất cả mọi người phải ghé vai gánh vác. Em sợ rằng những bất công sẽ tạo nên những căn bịnh trầm kha khiến cho những người lính mất đi niềm tin chính nghiã của mình.

Rồi Lan viện dẫn những cảnh đời của một số con ông, cháu cha ăn chơi sa đọa nơi các phòng trà tiệm nhẩy. Hải ngồi im lặng nghe nàng nói. Sau đó Hải cầm tay Lan nói nhỏ:

– Anh biết nhiều về những điều em kể, thậm chí anh còn biết những trường hợp tồi tệ hơn.

Đất nước chúng ta từ ngày thế hệ của anh ra đời chưa có được một ngày bình yên. Chúng ta còn có thể có một chọn lựa nào khác không ngoài việc tích cực tham gia và làm tròn vai trò của mình. Sống hay chết của một con người theo anh nghĩ là một điều nằm ngoài quyết định của mình. Định mệnh như một sợi dây buộc ngang lưng mà nghiệp lực đang kéo nó từ phía trước.

Những người phủ nhận định mệnh cho rằng con người có tự do chọn lựa cuộc đời mình, họ cũng giống như viên đá cuội được ném lên không trung, trên quỹ đạo bay của nó. Viên đá cho rằng nó có tự do bay nhẩy vậy, mà nó quên không biết rằng nó đã được ném lên như thế nào. Thành ra, em à, hãy quên tất cả mọi thứ khi hai đứa mình ngồi bên nhau nghe em.

Lúc này đây, tại chốn này, đừng mở rộng không gian ra bất cứ hướng nào, bởi vì mở ra chúng ta sẽ chỉ còn nhìn thấy hư vô thôi. Cũng như câu chuyện phim chúng ta mới coi, có ai đoán biết được ngày mai sẽ ra sao. Thoạt đầu mọi người đều nghĩ đôi trai tài gái sắc ấy sẽ có một tương lai hạnh phúc bên nhau, một thứ happy ending chúng ta thường thấy trong phim. Thế rồi nghịch cảnh xô đẩy cả hai vào cơn lốc cuồng điên của chiến tranh dẫn đến một kết cục bi thảm khôn cùng, dù rằng hai thân phận trong cuộc vẫn còn thương yêu nhau hơn bao giờ.

Lan nhìn anh qua đôi mắt đẫm lệ, càng cảm thấy càng thương anh hơn bao giờ. Người trai thời loạn ly phải chấp nhận những đau buồn đến thế sao? Khuôn mặt rắn rỏi xạm đen vì chiến trường, tính nết cứng cỏi dứt khoát của một người lính khiến cho nàng càng thêm yêu thương anh nhiều hơn.

Hai ngày sau khi chở Hải ra đón xe đò trở về hậu trạm trả phép, Lan nói nhỏ với Hải ý định của mình. Lan bảo:

– Kỳ về phép tới, em muốn chúng mình chính thức ra mắt hai bên họ hàng. Em muốn ba má em biết chắc một điều, anh là người em yêu và chắc chắn sẽ là chồng em sau này. Và cũng để về phiá anh, em sẽ là vợ anh để anh không còn đứng núi này trông núi nọ nữa.

Hải cười thành tiếng:

– Em làm gì mà bỗng dưng quan trọng vấn đề lên như vậy? Đừng nói với anh là em mới nằm mơ đêm qua thấy chuyện xui xẻo gì nghe.

Lan bảo:

– Phỉ thui cái miệng ăn mắm ăn muối của anh đi, đừng có nói bậy. Em chẳng mơ mộng gì cả, chỉ vì em yêu anh và muốn chung sống với anh thôi.

Hài đùa:

– Thì dù có ra mắt hay hỏi han gì thì cũng đâu có gì thay đổi đâu? Cũng vẫn cứ hai ba tháng anh về phép một lần rồi hai đứa đi chơi với nhau rồi chúng mình lại chở nhau ra bến xe như bao lần thôi.

Lan cãi:

– Không! Khác chứ anh, cho tới giờ phút này chúng mình đâu có gì ràng buộc. Nhưng sau khi ra mắt họ hàng rồi, sự ràng buộc vô hình kia sẽ làm cho anh không còn léng phéng với ai nữa. Còn về phía em, những anh chàng theo đuổi tán tỉnh sẽ biết rằng hoa đã có chủ, không thể chạm vào được nữa.

Hải cười:

– Hoa có chủ hay vô chủ mà gặp thằng ăn trộm thì nó cũng bưng nguyên bình thôi, chạm làm gì cho mất công?

Lan đấm vào lưng Hải khiến cho chiếc xe Honda chao đảo:

– Anh chỉ được cái nói bậy.

Cả hai cùng cười vui quên đi những suy nghĩ u buồn mới có trước đó. Tới bến xe, Hải cho xe chạy chậm lại rồi dừng hẳn. Trong lúc Hải trao xe lại cho Lan, nàng nhắc lại lời đề nghị vừa nói lúc ngồi sau lưng Hải:

– Ba tháng nữa anh lại về phép phải không?

Hải gật đầu:

– Hy vọng như thế.

Lan nghiêm sắc mặt:

– Không có hy vọng gì hết, anh phải về để em còn lo chuẩn bị chứ.

Hải cười làm lành:

– Ừ thì anh hứa sẽ về đúng hẹn mà, chỉ trừ trường hợp kẹt hành quân về không kịp chậm trễ ít ngày thôi.

Lan cười bảo:

– Đời nhà binh các anh lạ thật, đi lính chứ đâu có phải đi tu mà về hỏi vợ cũng không về được?”

Ý nghĩ khôi hài chợt nói ra của Lan khiến Hải cũng phì cười.

Bước lên xe, Hải ngoái cổ lại nhìn Lan rồi ra dấu nàng trở về. Lan hiểu ý, gật đầu chạy vào dòng xe trên đường. Hải nhìn theo bâng khuâng khi Lan hòa vào dòng người đông đảo đó mất hút.

Ba

Trở về tới đơn vị vào buổi chiều. Tiểu đoàn vẫn còn đang nghỉ dưỡng quân sau cuộc hành quân lớn trong mật khu Dương Minh Châu mới đây. Bỏ ba lô trở lại hậu cứ lấy đồ đạc súng ống, Hải đi theo chuyến xe cuối ngày chở đồ tiếp liệu cho tiểu đoàn để về nơi đơn vị đang trú quân.

Vừa bước chân về đại đội, Thuận, sĩ quan truyền tin của tiểu đoàn, đang đi bộ trên con lộ nhỏ trước chỗ đóng quân của Hải ghé ngang:

– Ủa, ông về sớm thế? Sài gòn có gì vui không Hải?

– Cũng vậy thôi. Ai chơi cứ chơi, ai chết cứ chết!

– Nói chuyện với cậu chán bỏ mẹ, tớ muốn hỏi là tình hình có gì sáng sủa không mà.

– Trời đất, ông cứ làm như tôi là chính trị gia chắc, về có hai ba ngày còn không đủ thời gian dẫn đào đi dạo có rảnh đâu mà lo chuyện thiên hạ. Mà cũng phải thôi, đời lính tráng tụi mình sống ngày nào biết ngày nấy lo nghĩ làm gì cho mệt.

Rồi không đợi Hải hỏi, Thuận kéo Hải lại gần thì thầm:

-Xếp trưởng đi họp trên trung đoàn trưa nay, giờ này chưa thấy về, chắc lại sắp có công việc làm ăn lớn rồi đây.

Hải hình như quá quen thuộc với những tin tức như thế này nên anh cũng hững hờ chẳng hỏi thêm. Thuận dơ tay chào Hải rồi tiếp tục rảo bước về bộ chỉ huy tiểu đoàn.

Nằm trên chiếc võng dù treo giữa hai gốc cây trong vườn, Hải thiếp đi lúc nào không hay.

Quá nửa đêm, theo thói quen, Hải ngồi bật dậy, anh quơ tay lấy cây súng M18 treo tòng teng trên nhánh cây cuối võng rồi đi một vòng chung quanh khu vực phòng thủ của đại đội. Thấy Hải từ trong chỗ ngủ bước ra, Trung Sĩ Căn đang trực gác, vội vã đi theo. Kiểm soát xong các vị trí lính gác, anh trở về chỗ nằm. Trung sĩ Căn nói nhỏ:

– Trung Úy nghỉ mệt đi. Tụi em cắt đặt đâu vào đấy cả, khỏi lo.

Vể trở lại võng, Hải nhìn đồng hồ kim chỉ ba giờ sáng. Trời còn mờ sương và se lạnh. Hải suy nghĩ lại những điều Lan nói và những kỷ niệm êm đềm mới đó trong thời gian hai đứa bên nhau. Anh nhớ lại từng ánh mắt, nụ cười của người yêu. Những cử chỉ âu yếm, những lời nói chân thành khiến anh thấy thanh thản nhẹ nhàng xua tan mau chóng những ý nghĩ chán chường thường xuất hiện.

Dòng suy nghĩ dừng lại với lời đề nghị của Lan về một lễ dạm hỏi trong kỳ về phép tới đây khiến anh băn khoăn. Anh tự hỏi lòng mình có nên làm điều này không? Anh yêu Lan thực lòng và anh muốn cùng nàng đi chung trọn con đường, nhưng hình ảnh của những vành khăn tang trên đầu những quả phụ mà anh thường bắt gặp sau những cuộc đụng độ lớn cứ ám ảnh anh không nguôi. Ở vị thế anh hiện nay, một đại đội trưởng tác chiến, sinh mạng anh như một cái gì đó rất bấp bênh. Anh nhớ lại những lần may mắn thoát chết trong gang tấc. Anh vẫn nghĩ, số lần may mắn chắc cũng có giới hạn, đâu có thể là một kho vô tận. Mỗi lần như thế, anh lại nghĩ tới mẹ thỉnh thoảng tâm sự với anh:

– Con là con cầu, con xin đấy. Mẹ cất công đi cả chục ngôi chùa, những nơi có tiếng là linh thiêng để cầu xin mới có được. Con phải giữ mình, trời phật chở che nhưng chính mình cũng phải quý cái mạng của mình nữa.

Khi nghe những lời nói đó của mẹ, Hải thường cười vui bảo:

– Con là con của mẹ và ba, chứ đâu có phải là con của thần thánh nào. Mẹ sinh ra con, con phải sống để phụng dưỡng mẹ trong lúc tuổi già bóng xế. Con không chết được đâu. Số con cao lắm phải không mẹ?

Những lúc đó mẹ Hải thường phì cười mắng yêu:

– Bố anh, chỉ được cái khéo mồm. Mai mốt con nào nó xỏ mũi thì mẹ già này không khéo lại đi ăn mày.

Hải cười bảo:

– Con sẽ không lấy vợ, ở vậy nuôi mẹ.

Mẹ Hải giọng u buồn:

– Trai gái đến tuổi lập gia đình phải có vợ có chồng, mẹ nói đùa vậy thôi. Đời mẹ có sống cũng chỉ ít năm nữa rồi cũng phải theo ba mày, đâu có còn sống mãi mà lo chăm sóc cho con. Con phải có vợ, có con để nối dõi tông đường, dòng họ, và có người chăm sóc con lúc tuổi già.

Ý nghĩ về một ngày mẹ không còn thường là khoảnh khắc làm cho anh chạnh lòng. Anh có lần nói với người yêu:

– Trong đời anh, mẹ là người anh thương yêu nhất. Một người không ai có thể thay thế được.

Lan thấu hiểu hoàn cảnh của anh khi anh kể cho nàng nghe những cơ cực của mẹ trong suốt tuổi thanh xuân của bà. Anh là nguồn an ủi của bà mỗi lần bà gặp những gian nan trong cuộc đời và trong những lúc nguy kịch khó khăn nhất; hình như chính anh đã mang lại sự may mắn cho bà thoát khỏi những nhọc nhằn ngang trái. Bà thường nói, nhà nghèo, mẹ góa con côi nhưng được cái anh rất dễ nuôi, hầu như suốt tuổi thiếu nhi anh chẳng hề đau ốm gì, chỉ nội điều đó thôi cũng đã mang lại cho bà biết bao niềm vui. Những hồi tưởng về mẹ khiến Hải trong lòng nhẹ nhàng thanh thản, khiến anh chợp mắt trở lại ngủ thiếp đi lúc nào không hay.

Bốn

Khoảng đầu tháng 5, cả đại đơn vị vượt tuyến xuất phát từ Lộc Ninh vượt biên giới Việt Miên để truy tìm tiêu diệt các lực lượng Cộng Sản đang trú ẩn trên đất Miên, trong chiến dịch Toàn Thắng. Đây là cuộc hành quân quy mô lớn đầu tiên mà Hải tham dự. Thời gian trước đó hành quân cấp sư đoàn đối với Hải đã là lớn; nhưng so ra với lần này thì chẳng thấm tháp gì. Vừa vào sâu trong nội địa lãnh thổ nước bạn chừng hai ba cây số, các đơn vị tiền thám bắt đầu chạm súng. Nhưng ưu thế hỏa lực của ta vượt trội hẳn so với địch, nên chúng rút chạy tán loạn trên các trục tiến quân của ta. Trung đoàn của Hải có nhiệm vụ tiến chiếm Snoul, rồi sau đó mở rộng vòng đai an ninh càn quét địch quân trong khu vực. Thời gian hai tuần lễ từ sau khi vượt tuyến xuất phát, trung đoàn hoàn thành trách nhiệm của mình với tổn thất không đáng kể. Sau khi chiếm và lục soát xong mục tiêu, đơn vị tổ chức đào hầm hố phòng thủ nơi đóng quân.

Khoảng cuối tháng 5 tình hình xấu dần. Hai sư đoàn 5 và 7 của địch được điều động tới bao vây và tìm cách tiêu điệt đơn vị của Hải. Đang nửa đêm, tiểu đoàn trưởng cho mời Hải lên gặp tại Bộ Chỉ Huy tiểu đoàn họp khẩn. Biết là có chuyện quan trọng nhưng thực sự trong lòng Hải không thể ngờ là đơn vị anh có lệnh rút khỏi vị trí đóng quân, ngay trong đêm.

Cả tiểu đoàn âm thầm nai nịt chuẩn bị trong đêm. Ngoài tuyến phòng thủ, phía bên kia bìa rừng cũng không ghi nhận những hoạt động nào của địch. Sự im lặng đến dễ sợ. Theo kế hoạch, đại đội của Hải là đơn vị đi bọc hậu của tiểu đoàn trong cuộc triệt thoái này.Cho tới hừng sáng, Cộng Sản mới phát giác ra cuộc lui binh của ta và cũng từ lúc đó súng bắt đầu nổ. Cả ngày quần thảo với địch để bứt vòng vây trùng điệp trên đoạn đường chưa tới 10 cây số mà tưởng chừng như dài vô tận ấy. Cuối ngày đơn vị của Hải cũng về được vị trí của trung đoàn đang trú đóng tại chợ Snoul.

Trong suốt lộ trình di chuyển, đơn vị của Hải cùng một chi đội chiến xa đã trải qua biết bao thử thách cam go. Những đợt bám đuổi của địch đeo sát không chịu buông; nhưng cũng nhờ sự lì lợm can đảm kỷ luật của đơn vị, mặc dù rút lui nhưng không hoảng loạn, bình tĩnh đánh trả khiến cho địch bị tổn thất nặng khi cho rằng chúng chỉ cần đuổi theo là có thể bắt sống, hoặc bên ta phải đầu hàng. Sau đó một tuần, cả chiến đoàn đặc nhiệm được lệnh rời lãnh thổ Campuchia để trở về lại Việt Nam.

Tháng 7 Hải được nghỉ phép 5 ngày trở về Sài Gòn. Sự hiện diện bất ngờ của anh trước cửa nhà khiến cho mẹ anh vừa mừng, vừa trào nước mắt. Tin tức báo chí, radio cả tháng nay loan tin các trận đánh, chiếm hầu hết thời gian phát thanh. Mẹ đứng ngồi không yên, chị Hai tất tả lên xuống hậu trạm của tiểu đoàn của Hải để hỏi thăm tin tức. Chẳng ai biết tình hình như thế nào, đôi khi chị còn gặp những thân nhân lên nhận tin xấu về chồng con của họ khiến chị càng bối rối hơn. Tuy vậy khi về nhà mẹ hỏi, chị vẫn phải nói lảng chị bảo cậu Hải không có sao, bình an mẹ đừng lo. Lúc Hải về, chị còn bận trông cửa hàng trong chợ. Mẹ bảo thằng An, con trai đầu lòng của chị, chạy báo tin cho mẹ nó biết. Bước vào nhà nhìn em gầy dộc hai mắt thâm quầng, chị ôm em khóc thành tiếng làm cho mẹ cũng khóc theo. Hải đứng im lặng một lúc cho cơn xúc động qua đi rồi nhẹ nhàng bảo:

– Con đã bảo không sao mà, mẹ và chị Hai đừng khóc nữa.

Sau đó, mọi người mới bình tĩnh trở lại. Bữa cơm chiều thật vui. Mẹ Hải cho anh biết cách nay ba hôm, Lan có ghé qua nhà hỏi thăm tin tức của anh. Sau đó mẹ còn nhận xét, con bé thật tội nghiệp tuần nào cũng ghé thăm an ủi, ân cần với bà. Bà còn nói bà mong sao cho hai đứa sớm thành gia để bà có cháu nội bà bồng. Hải ngồi im nghe mẹ nói anh mà không có ý kiến gì. Thực ra trong lòng anh, trận chiến khốc kiệt vừa qua càng làm cho anh nghi ngại thêm khi nghĩ về đề nghị của Lan cách nay bốn năm tháng. Vả chăng tình hình chiến sự hình như ngày càng khốc liệt hơn đi ngược hẳn với mong muốn của anh.

Sáng hôm sau tới nhà Lan, cả nhà mừng rỡ. Ngược hẳn với không khí xúc động nước mắt đầm đìa là nụ cười rạng rỡ của nàng khiến cho anh cảm thấy thoải mái hơn. Lan bảo:

– Hôm đầu tuần em có ghé qua nhà hỏi thăm mẹ, mẹ bảo anh bình an nên em cũng an tâm. Hôm nay anh về nhìn anh khỏe mạnh tuy có ốm đi hơn một chút nhưng trông vẫn còn rắn giỏi khỏe mạnh. Đọc báo nghe radio thấy quân đội ta tổ chức tấn công vượt qua biên giới đánh vào tận sào huyệt của Việt Cộng. Hy vọng rằng sau thời gian này, cuộc chiến sẽ sớm kết thúc.

Hải mỉm cười lặng lẽ không nói gì. Đám anh em của Lan cũng vui khi thấy Hải, tíu tít hỏi chuyện hành quân. Duy có ba và má Lan có vẻ đăm chiêu nhiều suy tư hơn. Hải cố tránh nói chuyện về các trận đánh, anh chỉ trả lời chung chung rằng tình hình cũng chẳng có gì đặc biệt. Cộng quân bị bất ngờ nên chúng bỏ chạy nhiều hơn là chống lại trong giai đoạn đầu, sau này khi chúng gom góp lại được lực lượng và được tiếp viện từ miền Bắc vào thì chúng hung hãn hơn thê thôi.

Hải xin phép gia đình cho anh đưa Lan đi chơi. Khi tới quán kem trên đường Catinat cả hai kiếm một góc khuất ngồi. Khi thấy Hải im lặng không nói, Lan hỏi:

– Kỳ này anh được nghỉ phép mấy ngày?

– Năm ngày. Hải trả lời.

– Thế thì tốt rồi, chúng mình sẽ làm lễ ra mắt nghe anh. Lan vui mừng.

– Em vẫn thực sự muốn có lễ đó sao? Hải do dự.

– Anh này lạ thật. Sao anh lại hỏi em câu đó, bộ anh không muốn hả?

– Không phải, ý của anh là trong tình thế dầu sôi lửa bỏng này em không lo sợ sao?

– Chính vì lo sợ nên em mới mong muốn điều đó.

Câu nói làm Hải ngạc nhiên.

– Em nói vậy là sao? Những bất trắc trùng trùng diễn ra từng ngày từng giờ, mỗi người trong chúng ta đều có những rủi ro rình rập cho chính mình. Giờ này em lại có ý nghĩ muốn nhân đôi sự rủi ro đó lên cho cả hai không là một nghịch lý sao?

– Không anh à, tình yêu chân thành không đắn đo sự rủi ro. Chân tình dù chỉ có một ngày bình yên bên nhau cũng đủ, bởi vì đó là khoảng thời gian tuyệt với nhất trong cuộc đời mình rồi. Còn mất, được thua, dài ngắn không là đơn vị đo lường của tình yêu, Em thú thật, chỉ cần có anh bên cạnh em, ngồi bên anh, nắm tay anh cùng đi, trò chuyện cùng anh những chuyện chẳng có đầu đuôi gì, một nụ hôn lén, một lần ôm chặt nhau trong tay,… tất cả những điều đó làm em hạnh phúc thực sự. Phần còn lại giao cho trời đất và số phận.

Hải kéo đôi bàn tay bé nhỏ mềm mại của Lan vào trong lòng hai bàn tay gân guốc của anh. Lần này anh không thể che dấu được sự rung động mãnh liệt trong lòng mình. Anh nhìn thẳng vào đôi mắt của người yêu không nói một lời. Khi cơn xúc động dịu đi anh chậm rãi:

– Cám ơn em, những điều em vừa nói khiến cho anh yên lòng. Anh sẽ về nói với mẹ để lo cho nghi lễ ra mắt chính thức của chúng mình.

Buổi lễ ra mắt diễn ra vào ngày cuối tuần, một ngày trước khi Hải trả phép. Điều làm anh vui là mẹ anh có vẻ hài lòng với quyết định của anh. Bên đằng gái, ba mẹ của Lan, cũng không phản đối gì; còn phần anh em của Lan thì ủng hộ hết mình

Năm

Thời gian càng gần cuối năm tình hình chiến sự càng gia tăng khốc liệt hơn. Khi Hoa Kỳ có ý định trút hết gánh nặng cuộc chiến lên vai chính quyền VN, những trận đánh đẫm máu trên khắp chiến trường bốn vùng chiến thuật diễn ra mọi nơi. Riêng với Hải, đỉnh mốc của mỗi trận đánh đồng thời cũng là đỉnh mốc trong cuộc tình của anh. Sau trận rút quân ở Snoul là lễ ra mắt, sau trận đánh tử thủ An Lộc là lễ cưới. Năm 74 sau khi ký hiệp định đình chiến một năm, vợ chồng anh có đứa con đầu lòng. Lan muốn đứa con của hai người mang tên Thiên Ân, nàng bảo:

– Em muốn cảm tạ ơn sủng của Thượng Đế đã dành cho chúng mình.

Những ngày cuối tháng Tư Sài Gòn náo loạn, những cánh quân Cộng Sản xiết chặt mọi ngóc ngách ra vào thành phố. Tiểu đoàn của Hải bị chia cắt và bao vây tứ phía trên đoạn đường từ Trảng Lớn về Sài Gòn. Gia đình của Lan chạy ra Vũng Tàu vào giờ chót sau đó theo thuyền di tản ra biển. Lan ở lại Sài Gòn cùng con chờ chồng không đi.

Chiều ngày 1 tháng 5, Hải mới mò về tới nhà. Nhìn thấy vợ ngồi ôm con đôi mắt đờ đẫn như mất hồn, anh đứng chết trân. Ngoài đường phố là trận cuồng phong đang thổi tung lên tất cả mọi thứ, đảo lộn mọi thứ. Trong căn nhà bé nhỏ của gia đình anh như thể là trung tâm con mắt bão, nó phẳng lặng bình yên. Anh không hề nghĩ tới sự sống chết của mình.

Cuộc chiến đã qua đi, cái khổ nạn của cả dân tộc đã tạm lắng lại rồi những giông tố khác chắc chắn sẽ ập tới. Kẻ thù của anh đối mặt là những âm binh từ địa phủ chui lên, anh biết chắc điều ấy qua kinh nghiệm trong suốt hơn 7 năm chiến đấu trên chiến trường.

Sáu

Ba mẹ Lan trong lúc dầu sôi lửa bỏng những ngày cuối tháng Tư quyết định đưa cả nhà ra Vũng Tầu để mua ghe ra biển trốn chạy Cộng Sản. Riêng với ông bà Phú, ba mẹ của Lan, cả hai đã có quá nhiều kinh nghiệm sống với Cộng Sản. Trước năm 1955, ông là một chủ cửa hàng may mặc lớn có tiếng ở Hà Nội. Cụ thân sinh ra ông là một điền chủ ở huyện Hà Nam. Khi hiệp đinh Genève được ký kết chưa bao lâu thì cụ ông bị đem ra đấu tố, bị tịch thu toàn bộ tài sản bao đời của tổ tiên để lại rồi chính cụ bị Cộng Sản nhốt và bỏ đói trong một nhà kho của một hợp tác xã cho tới chết. Nghe tin sét đánh, ông bà bỏ hết cả nhà cửa quyết định đem con trốn xuống Hải Phòng rồi theo đoàn tầu di cư vào Nam, vào cuối năm 1955.

Vào tới Sài Gòn, ông bà lại trở về với nghề cũ của mình. Ông mở một tiệm may ngay tại Ngã Ba Ông Tạ. Công việc làm ăn phát đạt, ông bà có thêm hai cô con gái nữa là Ngọc Lan và Bích Huệ. Tổng cộng là 5 người, ba trai hai gái. Ba người anh trai của Lan có một người là bác sĩ Quân Y, còn hai người khác một là giáo sư một là công chức Bộ Tài Chánh.

Sáng ngày 24, ông cho gọi các con cháu lại và ngỏ ý toàn bộ gia đình sống chết cũng phải ra đi. Mọi người đều đồng ý, riêng có một mình Lan vừa khóc vừa nói nàng và con sẽ ở lại để chờ chồng. Lúc đầu thì ông không chịu nhưng sau đó ông bảo:

– Thôi tùy con, bây giờ con khôn lớn rồi, học hành đàng hoàng, suy nghĩ chín chắn nên ba tôn trọng quyết định của con.

Khi mọi người đi rồi Lan đóng kín cửa kéo con lên gác ngồi nhìn ra đường phố. Cả thành phố xao xác, chộn rộn người đi kẻ lại vẻ mặt hốc hác thất thần. Chính bản thân mình, Lan cũng thấy hoang mang, nàng tự nhủ thầm, “Hải sẽ trở về, Hải ơi em đợi anh trở về. Nhất định anh sẽ về cùng mẹ con em. Nếu anh có mệnh hệ gì, em chắc cũng không sống nổi. Hãy trở về nghe Hải.”

Nàng thì thầm nói với mình như một kẻ mộng du. Thiên Ân, con trai của Lan ngồi ngủ trong lòng mẹ, tay ôm cứng lấy bụng mẹ. Nó không hiểu gì hết nhưng chắc chắn nó biết một điều, mẹ nó đang rất buồn nên nó cũng không dám quấy quả khóc lóc.

Sáng 26, Lan chở con qua nhà bà nội hỏi thăm tin tức. Bước chân vào nhà, Lan thấy bà đang ngồi trước bàn thờ trên gác lửng lần tràng. Lan hỏi khẽ chị Hai:

– Chị có tin tức gì về Hải, không hả chị?

Chị Hai bảo:

– Chị đang tính chạy sang nhà em hỏi tin cậu Hải thì mợ lại sang rồi. Chị chẳng có tin tức gì cả. Mẹ mấy bữa nay suốt ngày ngồi lần tràng cầu kinh chẳng thiết ăn uống khiến chị cũng rối bời.

Lan hỏi:

– Thế anh chị có tính chạy đi đâu không?

Chị Hai nói:

– Giờ biết chạy đi đâu. Anh ấy lăng xăng từ hai ba bữa nay chạy đôn đáo rồi đến tối mịt mới về.

Hai chị em đang nói chuyện dang dở câu chuyện thì má Hải vọng xuống:

– Vợ thằng Hải tới rồi hả?

– Dạ, thưa mẹ con và cháu mới tới.

Bà xuống thang rồi tới ngồi cạnh nàng, ôm thằng Ân vào lòng rồi nói:

– Để bà ẵm đích tôn của bà nào.

Thằng Ân vốn dĩ được bà nội cưng từ bé nên dụi đầu vào ngực bà nũng nịu:

– Con muốn ăn bánh.

– Ừ để nội lấy bánh cho con ăn.

Thằng Ân chạy vào phòng bưng ra một hộp bánh rồi cả hai đứa ngồi ăn ngon lành. Không khí trong nhà yên ắng, cả ba người lớn không ai biết nói gì trong lúc này. Sau cùng bà lên tiếng:

– Mẹ cầu đức Quan Thế Âm phù hộ cho nó rồi. Mẹ tin là nó sẽ trở về bình an cho nên con cứ yên tâm.

Lan gục đầu:

– Con cũng tin chồng con sẽ về, mẹ ạ.

Chị Hai nấu nướng sơ sài rồi dọn cơm ra cho cả nhà. Mọi người ngồi vào bàn ăn mà hầu như chẳng ai có cảm giác mình đang ăn. Gần chiều tối Lan mới đưa con ra về, nàng bảo:

– Thưa mẹ con đưa cháu về, kẻo Hải về nhà không thấy ai lại hoảng.

Mẹ của Hải lúc đó mới hỏi:

– Ủa, thế ông bà và cô Huệ đâu?

Lan cho biết cả nhà đã kéo đi Vũng Tàu từ hôm trước, chỉ có hai mẹ con Lan ở lại chờ Hải thôi. Bà nói

– Thôi thế cũng được, nếu có sợ thì cả hai mẹ con sang bên này ở chung với bà.

Lan nói:

– Không sao đâu mẹ, hàng xóm nhà con cũng còn đầy đủ, chắc cũng không đến nỗi nào.

Bẩy

Tháng 6 năm 1976, Hải đang bị giam tại trại Suối Máu thì có lệnh di chuyển ra Bắc. Sau khi Hải đi cả tuần, Lan mới biết tin chồng mình đã lên tàu ở New Port. Lan nhớ lại hôm chồng đi trình diện “cải tạo”, Hải có nói với Lan rằng:

– Theo thông báo, tụi anh sẽ đi “học tập” khoảng ba tháng. Anh nghĩ rằng tình hình này với số lượng sĩ quan bị triệu tập khá đông, chúng chắc không thể tiêu diệt được mà nhốt để nuôi cũng tốn kém cho nên anh nghĩ có thể vài tháng tới một năm thì anh sẽ về. Em và con ráng đợi anh về rồi vợ chồng mình tính gì sẽ tính.

Lan gật đầu đồng tình,

– Anh cứ yên tâm mà. Mẹ con em, em lo được. Em sẽ chờ anh trở về. Và anh phải hứa với em anh sẽ trở về, đừng bỏ mẹ con em nghe.

– Anh hứa. Hải gật đầu.

Đêm nằm trằn trọc giữa các băng ghế học trò tại trường Don Bosco, Hải ngẫm nghĩ lại, tự cười thầm:

– Mình hứa sẽ trở về là sao? Việt Cộng nó nhốt mình, mình đi tù chứ đâu có phải đi chơi mà hứa sẽ trở về? Tính mạng của mình nằm trong tay chúng mà…

Tám

Từ sau ngày chia tay trước cổng trường Don Bosco, Lan dắt con về nhà trong tâm trạng hoang mang tột đỉnh. Những lời nói và mong ước một ngày về của Hải có vẻ như những lời tự an ủi trước mọi cuộc chia ly.

Kẻ thù là những kẻ dối trá bạo ngược làm sao tin được những lời chúng nói? Nhưng còn có cách nào khác hơn không? Chấp nhận rủi ro của định mệnh và những thử thách đã trải, qua cuộc tình mà cả hai đã tự nguyện dấn thân có lẽ là giải pháp duy nhất thôi.

Kể từ ngày hôm đó, Lan bắt đầu viết nhật ký.

Sài Gòn, ngày tháng năm

Hôm qua em qua nhà thăm má. Má trở bịnh cả tháng nay, ho húng hắng suốt ngày. Anh chị Hai, có đưa má đi bịnh viện Hồng Bàng, gặp mấy ông bác sĩ Miền Bắc khám qua loa rồi bảo:

– Bà cụ già yếu ho hen vậy thôi không sao về nhà cho cụ ăn “có chất“ vào là khỏe ngay!

Chị Hai bảo không biết ăn có chất là ăn thứ gì nhưng rồi cũng lặng lẽ đưa má về nhà không thèm hỏi han gì nữa. Trên đường ra cổng, gặp một bà mặc đồ bác sĩ tất tưởi đi vào khi gặp chị Hai, chị Hai hỏi “ăn có chất“ là ăn thứ gì. Bà ấy bảo: “À, ăn thứ gì có chất bổ dưỡng như thịt cá..” Chị Hai bảo mỗi tuần cả phường được phân phối có hai ngày cá khô, hoặc mấy con cá ươn lấy đâu ra chất! Má cười bảo thôi không sao đâu, má về nghỉ vài hôm là hết bịnh. Bà mặc áo bác sĩ nói nhỏ vào tai chị Hai:

– Máy móc bịnh viện chở về Bắc hết rồi, chỉ còn lại mấy cái máy cũ xì mà cũng chẳng có phim ảnh gì để chụp quang tuyến cả. Thôi chị về cho bà uống thuốc Nam hay Bắc đi.

Chị Hai chào và nói cám ơn.

Sài Gòn, ngày tháng năm…

Má trở bịnh nặng hơn tuần rồi vì bị viêm phổi không có thuốc chữa trị. Hôm được tin thằng An, con chị Hai, chạy xuống nhắn em và con sang ngay. Mới có hai hôm không qua thăm bà mà thấy má gầy hốc hẳn đi tội nghiệp lắm. Má cầm tay em rồi chậm rãi nói:

– Má chỉ có chiếc nhẫn cưới này là quý báu nhất.

Nói xong má run rẩy tháo ra khỏi ngón tay, rồi kéo tay em lại bỏ nhẫn vào lòng tay em.

– “Má cho con”. Rồi má chậm rãi nói tiếp. “Thằng Hải chưa biết bao giờ mới về, tuổi con còn trẻ quá. Hồi ba thằng Hải mất, má chưa tới 40, chị Hai 14 và Hải tròn một năm. Má vì yêu thương các con nên không muốn bước đi bước nũa. Vả lại thế hệ của má việc tái giá cũng nhiều khó khăn dị nghị, thêm nữa sống với chồng con hơn chục năm tần tảo phụ chồng nuôi con với đồng lương công chức quèn của ba Hải khiến má cũng vất vả quá đỗi thành ra má cũng chẳng còn ham muốn gì. Nhưng với con thì khác, con có học thức, có tương lai. Đợi chờ không biết đến bao giờ có khi mất cả tuổi thanh xuân cho nên má chỉ muốn nói một điều là qua kinh nghiệm của má, con có toàn quyền định đoạt cuộc đời của mình. Con không cần theo gương má, thời đại của con khác rất xa với đời của má. Má sẽ không trách gì con đâu và má biết là thằng Hải nó cũng sẽ không trách móc gì con cả”.

Má ngưng lại nghỉ ít phút có lẽ để đè nén cảm xúc của mình rồi sau đó nói tiếp.

– Má chỉ có một ước nguyện là nếu con có đi bước nữa, con cố chăm sóc dậy dỗ thằng Thiên Ân nên người thế thôi.

Em nghe má nói mà khóc nghẹn. Em chỉ biết nắm chặt tay của má vào ngực mình và nói với má rằng:

– Con cám ơn má đã nghĩ cho tương lai của con. Nhưng con có thể nói chắc một điều với má rằng đời con chỉ có Hải là người yêu đầu tiên và sau cùng của con thôi. Con sẽ không lấy ai hết nếu Hải không trở về. Má ơi, yêu một người với cả chân tình cũng có nghĩa là cuộc đời mình đã trao trọn cho người mình yêu. Nếu có chuyện gì con hứa với má con sẽ nuôi con của chúng con nên người và cuộc đời con có được người mẹ chồng như má, một người chồng như Hải là đã quá đủ. Con không mong ước gì hơn thế nữa.

Em ngồi nói chuyện với má cho mãi tận khuya, vì ngày hôm sau lớp em có cuộc thanh tra của Sở Giáo Dục nên em xin phép má ra về.

Chiều hôm sau khi vừa về tới nhà thì em nghe tin má mất. Trong cái không khí ngột ngạt bịnh hoạn và đói kém này, những tình cảm con người hình như không còn nữa. Tất cả mọi người đều đổ dồn mọi suy nghĩ vào cái dạ dày của mình. Bon chen, kèn cựa để có thể có một cái gì đó nhét cho chặt bao tử, ngô khoai sắn lát, cá khô, bánh mì ẩm mốc, bột mì, bo bo,. Tất cả những thứ được gọi là lương thực đều được phường phân phối theo tem phiếu cho cư dân trong khu phố. Sự mất đi hay xuất hiện của một con người không mang lại tín hiệu gì cả, dù vui hay buồn. Em đã sống dửng dưng, lạnh nhạt và có lẽ phải sống như một thứ bản năng như thế mới có thể tồn tại được trong cái xã hội này.

Nhìn con còm cõi, còi cọc; soi gương nhìn mình hốc hác, xanh xao, con mắt vô hồn rồi nghĩ tới anh nơi rừng thiêng nước độc ấy. em có thể sống được sao? Không, em nhất định phải sống và anh cũng phải sống, phải trở về. Chúng ta còn một đoạn đường rất dài phía trước phải bước tiếp. Em sẽ không đầu hàng số phận dù có phải trải qua bao trắc trở, ngang trái. Em yêu anh nhiều lắm, Hải ơi!

Sài Gòn, ngày tháng năm…

Cuối cùng em cũng đã thực hiện được mong ước của mình là được ra thăm nuôi anh, được nhìn tận mắt hình ảnh của người em yêu sau hơn 5 năm năm xa cách. Cho dù những bức thư, những lời nhắn gửi các gia đình ra thăm người thân về báo lại rằng anh không muốn em phải lặn lội khổ cực cùng con ra nơi rừng thiêng nước độc này. Anh dặn rằng, anh hiểu hoàn cảnh của mẹ con em hiện tại, tiền bạc không có, cuộc sống đầy khó khăn… Nhưng em không yên lòng Hải ơi. Tin tức dồn dập những người quen có người thân đi “cải tạo” bị bịnh tật, tai nạn chết quá nhiều khiến em có ý nghĩ, em và con phải nhìn thấy anh một lần biết đâu.

Trên chuyến xe lửa ra Bắc, em đã tận mắt chứng kiến biết bao nhiêu câu chuyện đau lòng – một hệ quả không thể không có trong chiến tranh.

Nhìn núi đồi xác xơ trụi lá trên những vách núi lở loét vì hố bom đan, những người dân ngơ ngác di chuyển bằng đủ mọi phương tiện với khuôn mặt nửa như hốt hoảng sợ sệt, nửa như sẵn sàng chấp nhận những tai họa có thể đổ ập lên đầu mình bất cứ lúc nào. Đất nước, giống nòi ngắc ngoải sống sót sau một cơn đại họa.

Cùng đi với mẹ con em là cả chục chị cùng có thân nhân trong các trại tù Cộng Sản. Điều làm em cảm động nhất là hình ảnh của một bà cụ người Cần Thơ ra thăm con, năm nay đã ngoài bẩy chục, người tuy gầy guộc nhưng tinh thần rất vững chắc. Cụ tâm sự với chúng em rằng:

– Con của cụ là một sĩ quan cấp tá hiện đang bị giam tại Nam Hà. Đây là lần thứ hai cụ ra thăm con.

Em có hỏi sao cụ không để con dâu đi thay cụ? Cụ cười buồn bảo rằng con dâu cụ đã có gia đình mới rồi, là một cán bộ Cộng Sản nằm vùng giờ đây có chức có quyền. Cũng may là nhà có vườn trái cây nên bà cháu cũng đắp đổi qua ngày. Cụ cũng bảo, thời thế đảo điên nên cụ cũng không trách cứ gì cô con dâu cả. Vả chăng con trai cụ đi đánh giặc mải miết nên chẳng có của cải gì để lại cho vợ con. Khi con trai cụ đi tù, vợ con đến căn nhà cũng không có mà ở nên kéo về tá túc với cụ. Chịu đựng hơn hai năm cô con dâu sau cùng đành thú thực với cụ là xin phép cụ nuôi dùm hai đứa con để cô ta lấy chồng. Lúc đầu cụ cũng buồn nhưng rồi sau đó cụ cũng cảm thông với con dâu. Cụ bảo với tụi em:

“gười chịu bất hạnh nhất trong cuộc chiến này là những người lính, luôn sống chung với thần chết rình rập từng giờ từng phút. Vinh quang phú quý chẳng được hưởng gì ngoài những trách nhiệm nặng nề đến khi tan đàn sẻ nghé thì bị tù đầy khổ sai lại càng thêm cơ cực. Rồi gia đình vợ con lính. Trong chiến tranh họ đồng kham, cộng khổ cùng chồng, bây giờ hòa bình, chồng thì tù đầy biệt xứ, vợ con thì bị phân biệt đối xử, hành hạ, chèn ép mọi bề.

Thành ra giờ đây cũng là thời gian của lửa thử vàng. Chỉ những ai thực lòng đồng sinh, cộng khổ được với chồng con thì mới có thể chống chọi nổi. Cụ rất thương cảm và thán phục những gia đình còn vẹn toàn, những người vợ còn giữ được lòng thủy chung với chồng. Sau ít phút suy nghĩ, cụ nói rằng cụ cũng không trách móc gì người con dâu của cụ. Cụ bảo nếu biết chắc chồng mình 5 năm hoặc ba năm sẽ về, người chờ đợi còn có mốc điểm thời gian để chịu đựng và hy vọng.

Giờ đây trong xã hội mới này, chồng đi tù mà chẳng biết có thể trở về hay không, cuộc sống chung quanh dồn dập những gian khó o ép, người vợ lính trong hoàn cảnh này chỉ có một con đường chọn lựa hoặc héo mòn, lây lất sống trong những ác mộng kéo về từng đêm, hoặc mở một lối thoát cho bản thân để có thể tìm lại được một chút sinh khí để sống cho xong một kiếp người.

Tuổi thanh xuân có hạn, vợ chồng lấy nhau mới vài năm mà thời gian thực sự gần gũi nhau lại còn ít hơn nữa vì chồng di chuyển hành quân liên tục. Phải hiểu nỗi khổ ải đó ở thân phận người phụ nữ mà cảm thông với họ.

Em ngồi nghe cụ nói mà ngậm ngùi thêm. May cho em là trái tim em đã băng giá kể từ lúc anh ra đi. Em dửng dưng ngay cả với thân xác mình. Ngọn lửa tình yêu của em đã tắt, chắc chỉ khi nào có anh trở về mới hy vọng nhóm lại được – mà biết đâu nó sẽ chẳng tắt luôn?

Nghe câu chuyện cụ nói làm em trằm trọc cả đêm, phần vì tàu chật chội, phần vì lo giữ hành lý sợ bị mất trộm. Em và các chị bạn phải thay phiên nhau canh thức.

Sáng ngày thứ tư tầu cặp Ga Hàng Cỏ Hà Nội. Tụi em chia tay nhau, người thì đi Vĩnh Phú, người đi Nam Hà, người đi Hà Tây.

Sài Gòn, ngày tháng năm...

Em đã nghỉ dạy. Nói cho đúng hơn, em đã bị đuổi việc. Thế cũng hay, anh đừng lo. Em hùn hạp với mấy người bạn đi buôn quần áo cũ, thuốc Tây từ các gói quà do thân nhân nước ngoài gởi về. Con chúng mình em gởi cho một chị bạn cùng dạy học ở một trường gần nhà, sáng mang con đi gởi, tối về đón con cũng tiện.

Cuộc sống giờ đây đối với em bớt căng thẳng nhiều lắm. Em đã tránh được phải dạy cho học sinh những điều em biết chắc chắn là sai quấy, phải mỉm cười gượng gạo trước những khuôn mặt mang danh “đạo đức cách mạng” mà thực tế trong cuộc sống là bon chen, kèn cựa để cố nhoi lên những chức vụ cao hơn. Em cũng tránh được phải nghe những lời ong bướm, mua chuộc của những kẻ mang hình dáng đạo mạo, mô phạm mà trong lòng chứa chất đầy dục vọng bẩn thỉu. Những kẻ sống trong rừng rú giờ đây bước ra thành phố muốn được đền bù lại chuỗi ngày kham khổ của mình. Những đòi hỏi ham muốn trong con người em đã chết kể từ lúc xa anh. Em đang sống trong hình nhân vô hồn, hờ hững. Chỉ có anh, em tin chắc anh sẽ trở về mới có thể làm cho em hồi sinh. Hãy cố gắng để sống và trở về vời em nghe Hải.

Sài Gòn, ngày tháng năm…

Hôm nay có lẽ là ngày vui nhất cuả mẹ con em tính từ lúc anh rời xa mẹ con em cho tới giờ. Em nhận được lá thư đầu tiên của ba má. Ông bà ngoại Thiên Ân cho biết giờ đây đã ổn định được cuộc sống. Ông bà hiện đang sinh sống tại Canberra, Úc Châu. Ông bà có hỏi thăm anh, an ủi em và hứa sẽ lo cho mẹ con em. Gánh nặng sinh kế với em giờ đây không còn quá nặng nữa. Anh yên tâm nghe Hải.

Những lá thư anh gởi về lúc nào cũng chỉ vẻn vẹn vài hàng Anh vẫn mạnh khỏe, “học tập tốt lao động tốt.”” Em đã quá quen với loại công thức đó, nó giống hệt như những giáo trình nhà trường bắt em phải dạy cho học sinh thành ra em không ngạc nhiên gì. Duy có điều cuối thư anh luôn nhắc em cố gắng cho con về bên ông bà ngoại mà sống thì em hoàn toàn hiểu ý anh muốn nhắn em điều gì. Hải ơi, em không làm được vì Thiên Ân là niềm an ủi duy nhất em có và anh là động lực đem đến cho em hy vọng và sức mạnh để sống. Nếu có về quê với ông bà ngoại thì chờ khi nào anh về nhà rồi chúng ta cùng đi nghe Hải.

Sài Gòn, ngày tháng năm…

Anh Hai và thằng An đi đã hơn tháng nay mà chị Hai cũng chưa nhận được tin tức gì. Những tin xấu tốt lan truyền hàng ngày khắp mọi nơi, tin cướp biển, tin người sống sót phải ăn thịt nhau trên tàu, tin người đến được các trại tỵ nạn… Cả xã hội sống trong thao thức đợi chờ tin người bỏ nước ra đi. Có nơi nào trên thế giới này như đất nước chúng ta hay không? Nhìn chị Hai gầy sọp hẳn đi mắt thầm quâng vì lo lắng em thấy tội nghiệp quá mà chẳng biết phải nói với chị như thế nào.

Nghe tin ở ngã tư Phú Nhuận có cô thầy bói coi bài tây hay lắm, em qua rủ chị đi xem cho khuây khỏa. Đi luồn lách tuốt trong hẻm sâu sau cùng mới tìm ra địa chỉ, cả hai chị em gõ cửa xin vào. Cô nhìn trước ngó sau rồi hỏi ai giới thiệu tới, em phải nói tên cô bạn thân mách cho biết bà thầy mới chịụ coi. Trước khi sủ quẻ, bà bảo rằng giờ đây làm ăn khó khăn lắm. Sở dĩ bà còn mạo hiểm làm nghề vì bà muốn giúp cho những gia đình có chuyện tìm được một chỗ dựa mà sống mà hy vọng. Bả nói cũng có lý vì tiền thù lao chẳng đáng bao nhiêu mà tin do bà mang tới lại là nguồn tin duy nhất có thể có trong lúc này. Trên biển cả mông mênh kia, số phần những người ra đi được giao hết cho sự rủi may thì thần linh là những đấng có quyền uy tuyệt đối để mách bảo thôi, phải không anh?

Chị hai xem trước, bà thầy bảo chuyến đi có nhiều trắc trở nhưng không sao, chờ một tuần nữa sẽ có tin về. Chị Hai mừng líu cả lưỡi hỏi tin vui hay buồn, bà thầy bảo tin vui. Có quý nhân giúp đỡ nên vượt qua được sóng gió biển khơi. Lần đầu tiên sau hơn một tháng kể từ ngày anh Hai ra đi, em nhìn thấy trên khuôn mặt chi bừng lên một thứ ánh sáng kỳ diệu, có thể gọi đó là ánh sáng của hy vọng không anh?

Đến phiên em, bà thầy bảo còn lâu lắm hai vợ chồng mới gặp lại nhau. Em chỉ hỏi bà rằng có chắc chắn gia đình xum họp không? Bà ngần ngừ rồi bảo em xào lại cả cỗ bài rồi rút ra ba cây, em còn nhớ đó là các cây 8 phích, chín chuồn và ách cơ. Lần này thì bà thầy mặt tươi hẳn lên, bảo ”Chắc chắn”. Em chỉ cần có vậy thôi, Hải ơi. Thời gian đợi chờ giờ đây đối với em không quan trọng nữa. Bao giờ anh về cũng được, chỉ cần anh nhất định phải trở về với mẹ con em!

Đêm về em nằm trằn trọc mãi không ngủ được. Chuyện cô Hai thầy bói nói quả quyết anh sẽ về hình như nhóm lại trong lòng em ngọn lửa hy vọng đã chập chờn như muốn tắt. Đã từ lâu lắm từ ngày chúng mình chia tay, em luôn sống trong những âu lo phiền muộn. Chợt vui khi nghe những lời đồn đại những người đi tù “cải tạo” như anh đang được cứu xét để cho về do phía Hoa Kỳ áp lực. Rồi chẳng bao lâu ngay sau đó là những tin dữ khi có người bạn có chồng con bị bịnh tật, trốn trại bị xử bắn, hoặc tự tử chết.

Thời gian đối với em là một chuỗi những phập phồng lo sợ và hy vọng nối đuôi nhau như thế. Nhưng rồi ngày tháng trôi nhanh từ sáu năm nay, em chẳng còn sống trong hy vọng hão huyền tự lừa dối mình nữa. Em an phận và chấp nhận cuộc sống tuyệt vọng này.

Có lẽ đó là lý do khiến cho tóc em phai màu nhanh hơn, nước mắt em cũng chẳng còn đủ để chảy khi nằm thổn thức một mình. Em chỉ còn sống trong một niềm tin, nhất định gia đình nhỏ bé của chúng mình sẽ đoàn tụ. Bất ngờ hôm nay theo chị Hai đi coi bói rồi nghe lời bà thầy bỗng dưng em giống như mình đang dần sống lại. Nhìn con say sưa trong giấc ngủ, càng ngày con càng giống anh – niềm an ủi duy nhất em đang có và cũng là lý do duy nhất để em vững vàng chờ đợi anh.

Chín

Đầu tháng Năm năm 1983, Hải được thả từ trại Thanh Phong. Gần tròn 8 năm tù. Một khoảng thời gian đủ để Hải nhìn rõ bức tranh hiện thực của cái xã hội quái gỡ này.

Trời Sài Gòn mưa lất phất, trên đường về nhà, hai bên đường không khí thê lương hơn cả lúc anh đi tù. Những người đi hai bên đường lầm lũi phủ trùm trong những chiếc áo poncho nhà binh bờm rách, hoặc những tấm nylon mờ đục trông như những bóng ma. Thỉnh thoảng một hai chiếc xe Honda cũ kỹ chạy băng qua những ổ gà trên đường hắt tung những vạt nước đục ngầu lên hè.

Hải về đến nhà trời chập choạng tối. Cửa của căn nhà đang đóng kín mít. Từ chắn song bên hông hắt ra những tia sáng vàng vọt của chiếc bóng đèn nhỏ treo toòng teeng giữa nhà. Hình như có tiếng máy may và một vài tiếng ho khan mà anh đoán chắc là của vợ mình. Gõ cửa tới lần thứ ba, anh mới nghe thấy tiếng vợ anh hỏi vọng ra:

– Ai đó?

– Anh về đây, em.

Có tiếng chân chạy vội và tiếng lách cách mở cửa. Lan ôm chầm lấy chồng khóc tức tưởi. Bỗng dưng hình ảnh của cuốn phim cũ cách đây hơn 10 năm hiện ra rất rõ trước mắt anh. Hình ảnh một Myra nét mặt thất thần lặng lẽ đi trong mưa. Hải buột miệng nói bâng quơ:

Cám ơn trời Phật đã cho con một điểm tựa để trở về.

Hải nói thì thầm bên tai vợ. Cám ơn em đã luôn sát cánh bên anh, chia sẻ mọi khổ đau cay đắng của đời lính. Anh sẽ không bao giờ rời xa em nữa.

– Chúng mình sẽ không bao giờ rời xa nhau nữa, nghe anh. Lan nghẹn ngào.

01/2019
Song Vũ, K17

This entry was posted in 2.Một thời để nhớ, 4.Truyện ngắn, Người Lính VNCH, Văn Hoá Vụ - Trường Võ Bị Đà Lạt, Đa Hiệu. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s