Huy Vũ: NHỚ LỄ VÀ HỘI MIẾU BÀ CHÚA XỨ Ở CHÂU ĐỐC

(Lê Thy đánh máy lại từ bản PDF *)


Sau khi khóa 16 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức mãn khóa, tôi được phân phối về Ủy Ban Bình Định và Phát Triển Nông Thôn Trung Ương ở Sàigòn. Ít ngày sau đó, Tỉnh Châu Đốc được tái lập (1965), tôi lại được Ủy ban này đưa về Hội Đồng Bình Định và Phát Triển Nông Thôn của tỉnh này. Không biết có phải là “duyên nợ” hay không, mà một chàng trai quê quán ở tỉnh Phú Thọ, gần như là vùng cực Bắc xứ Bắc Kỳ, và cũng là nơi hàng năm có Lễ và Hội Đền Hùng vào tháng Ba Âm Lịch; nay lại “lạc lõng” tới miệt Châu Đốc miền cực Tây Nam Kỳ, là nơi hàng năm có Lễ và Hội Miếu Bà Chúa Xứ vào tháng Tư Âm Lịch. Một điều không ngờ là, tôi đã sống và làm việc ở tỉnh này liên tục từ 1965 cho đến 1975.

Trong khoảng thời gian mười năm ở Thị Xã Châu Đốc, hầu như không năm nào mà tôi không tham dự Lễ và Hội Miếu Bà Chúa Xứ tại núi Sam cả. Ngày lễ và hội chính là ngày 24 tháng Tư Âm Lịch, song bắt đầu từ ngày 22 đã có rất nhiều khách hành hương từ khắp nơi trong nước đổ về thị xã Châu Đốc, khiến cho thị xã nhỏ bé này nhộn nhịp và náo nhiệt hẳn lên.

Qua các truyền thuyết dân gian mà tôi được nghe, tuy có nhiều chi tiết khác nhau, nhưng tựu chung có thể tóm lược lại là, bà Chúa Xứ ngày xưa nguyên là một cô gái rất xinh đẹp, con của một phú ông, giầu có đã nhiều đời trong vùng Thất Sơn. Một hôm, cô gái được cha mẹ cho đi thăm một người cô bịnh nặng. Con đường mà cô gái phải đi qua, chạy xuyên qua một cánh rừng là nơi bọn thảo khấu thường mai phục để cướp giựt khách thương buôn. Từ xa tên tướng cướp nhận ra bóng dáng một phụ nữ mảnh mai, đơn lẻ, lại dường như không mang theo đồ tế nhuyễn cuả riêng tây gì cả, nên tỏ ra thất vọng, vì công trình hắn và bọn tay chân nằm phục chờ đợi từ sáng tinh mơ tới giờ. Song khi người phụ nữ đến gần, thì mắt hắn lại sáng lên, vì nhận ra đó là một thiếu nữ sắc nước hương trời, mà quá nửa đời giang hồ hắn chưa bao giờ gặp. Vốn là một tên gian manh, hắn nghĩ ngay đến việc phải bắt sống cô gái đẹp này mang về sào huyệt bắt ép làm vợ. Hắn liền hô hoán bọn thuộc hạ cùng hắn xông ra vây kín cô gái. Dù chân yếu tay mềm cô gái cũng ra sức chống cự đến cùng. Cho đến lúc sức cùng lực kiệt, cô gái mới đành chịu để bọn thảo khấu trói lại dẫn đi. May thay, ngay vào lúc đó có một tráng sĩ cũng vừa đi tới, thấu hiểu được hiện tình, liền tả xung, hữu đột đánh tan bọn cướp và giải cứu được cô gái. Tráng sĩ cởi trói và hỏi thăm quê quán, rồi dẫn cô gái trở về tận nhà với cha mẹ.

Sau khi nghe cô gái kể hết ngọn nguồn, ông bà phú hộ hết sức mừng rỡ, bèn sai bảo gia nhân giết heo gà và làm tiệc lớn để mừng con gái vừa thoát khỏi một tai hoạ lớn và cũng để thiết đãi cảm ơn tráng sĩ. Gần cuối bữa tiệc, phú ông mới ngỏ ý là muốn gả cô gái cho tráng sĩ để đền ơn đáp nghĩa. Tráng sĩ kính cẩn và trịnh trọng thưa rằng: Được kết duyên với cô con gái xinh đẹp và đoan trang của ông bà phú hộ là điều vô cùng vinh dự và thực lòng không dám từ chối. Song việc hôn nhân là điều hệ trọng, nên tráng sĩ cần phải trở về nhà xin phép song thân trước đã. Tráng sĩ cũng hẹn là đến ngày này năm sau, nếu mọi việc ổn thoả, sẽ dẫn cha mẹ đến để tính chuyện cưới xin.

Sau khi thoát được về đến sào huyệt, tên tướng cướp vô cùng tức tối, vì miếng ăn đã đưa tới miệng, mà còn bị một tên vô danh tiểu tốt nào đó phá hỏng. Do đó, một mặt hắn ra công tập luyện thêm võ nghệ, mặt khác, hắn sai bọn bộ hạ giả dạng thường dân toả ra khắp vùng để tìm tông tích cô gái. Nhiều tháng sau, hắn được biết cô gái đã được kẻ thù không đội trời chung của hắn trao trả cho cha mẹ là một gia đình giầu có ở khá xa sào huyệt của hắn.

Ít lâu sau, hắn tụ tập bộ hạ đến vây kín nhà phú ông, và ép buộc phú ông phải gả con gái cho hắn, nếu không hắn sẽ giết hết mọi người trong nhà và đốt phá toàn bộ dinh cơ. Trước áp lực của gươm giáo, phú ông đành phải dùng lời lễ nghĩa để làm kế hoãn binh. Hai ông bà đã phải ngậm đắng nuốt cay thưa gửi với tên tướng cướp rằng, cô gái hiện còn đang phải để tang người cô ruột, và xin hẹn đến ngày này năm sau sẽ cho làm lễ vu quy. Phú ông hy vọng với mưu kế này, con gái của ông sẽ được vẹn toàn, vì cái hẹn của chàng tráng sĩ đến trước cái hẹn của tên tướng cướp. Song dường như, trời chẳng chiều người, ngày mà tráng sĩ hẹn trở lại đã tới, nhưng bóng dáng chàng lại chẳng thấy đâu. Lo lắng cho số phận hẩm hiu của mình, cô gái than khóc suốt ngày đêm. Buồn cho gia đình đã đến hồi mạt vận ông bà phú hộ cũng than khóc không nguôi.

Chẳng bao lâu sau, tên tướng cướp và lũ bộ hạ, với quần áo và gươm giáo chỉnh tề, cùng với một kiệu hoa và đồ sính lễ đã kéo đến chật nhà ông phú hộ để xin đón dâu. Vì không muốn bọn cướp giết hại cha mẹ, đốt phá cơ nghiệp của ông cha, cô gái đã cố nén nuớc mắt, cúi lạy từ giã ông bà phú hộ, rồi ngậm ngùi bước vào kiệu hoa để mặc cho bọn lâu la khiêng rước, trước những giọt nước mắt vắn dài của ông bà phú hộ và gia nhân. Khi về đến sào huyệt, vì e-ngại cô dâu sẽ bỏ trốn, nên tên tướng cướp đã nhốt cô gái vào một căn phòng riêng, và bên ngoài xa có bọn lâu la canh giữ. Căn phòng này cũng là nơi hắn dự định vùi dập cành thiên hương mà hắn vừa dẫn về.

Vì không muốn trao thân gởi phận cho tên tướng cướp, nên cô gái đã cắn lưỡi tự tử để bảo toàn tiết trinh. Khi động phòng hoa chúc, tên tướng cướp mới phát giác ra được rằng, cô dâu trong ngày cưới của hắn chỉ còn là một cái xác không hồn với những dòng máu từ miệng tuôn ra đã đặc cứng tự bao giờ. Lại thêm một lần nữa bị thất vọng, hắn tức tối la lối om sòm, rồi sai bộ hạ quăng xác cô gái vào một hang đá. Là một trinh nữ, lại chết vào giờ linh thiêng và trong một hoàn cảnh oan nghiệt, nên linh hồn được thần linh dắt dẫn cho “nhập định” vào một pho tượng đá không xa nơi hang mộ của cô.

Không rõ truyền thuyết dân gian này có được bao nhiêu phần trăm là sự thực? Song pho tượng đá lại là điều có thực một trăm phần trăm. Pho tượng này cao khoảng 1,6 mét, có hình dáng đàn ông, ngồi ung dung trên một bệ đá, với một tay buông thõng và một tay đặt trên đùi. Loại đá được đục đẽo, trạm chổ thành pho tượng là một loại đặc biệt có mầu xanh đậm và có chấm đen, không có ở trong vùng. Điều này cho biết rõ là pho tượng đã được mang đến đây từ một nơi xa lạ nào đó, nhưng không rõ bằng cách nào và vào thời gian nào?

Một nhà khảo cổ người Pháp tên là Malleret đã đến quan sát pho tượng vào năm 1941 cho biết đó tượng thần Vishnu, của đạo Bà-La-Môn, có nguồn gốc từ Ấn Độ. Theo một vài nhà khảo cổ khác, thì núi Sam vào những năm đầu công nguyên, khoảng 2000 năm trước đây, là một trong những hòn đảo nhỏ thuộc một vương quốc rộng lớn và hùng mạnh tên là Phù Nam. Vùng Ba Thê Núi Sập (hiện nay thuộc tỉnh An Giang) là một thương cảng lớn, hàng năm tiếp đón rất nhiều thuyền bè từ các nước khác đến trao đổi hàng hóa của quốc gia này. Có lẽ nhân dịp này, đạo Bà La Môn cũng đã xâm nhập vào vương quốc Phù Nam, và chỉ một thời gian sau đã trở thành quốc giáo. Vì vậy, người ta suy đoán rằng, tượng thần Vishnu đã đến núi Sam bằng đường biển từ Ấn Độ, vào thời gian đạo Bà La Môn cực thịnh ở quốc gia này. Vương quốc Phù Nam về sau, không rõ vì nguyên nhân nào đó, đã biến mất trên điạ cầu. Có lẽ là do một cơn sóng thần cực lớn đã cuốn trôi tất cả người dân và di tích cuả vương quốc Phù Nam xuống lòng biển khơi.

Không ai rõ là người dân trong vùng đã phát giác ra pho tượng vào năm nào? Một giả thuyết được nhiều người biết đến cho rằng: Vào khoảng năm 1919 và những năm sau đó, khi Nguyễn Văn Thoại (1762-1829) làm Trấn Thủ Vĩnh Thanh (Vĩnh Long và An Giang), huy động một lực lương dân phu và dân quân lên tới hàng trăm ngàn người vào việc đào kinh Vĩnh tế theo lệnh vua Gia Long, thì vùng núi Sam Châu Đốc trở thành nơi tập trung đông đảo của đám dân phu và dân quân này. Vì việc đào kinh quá vất vả và khó nhọc, như bài vè đào kinh Vĩnh Tế còn lưu lại, việc mần cực nhọc, mệt đổ mồ hôi, không dám nghỉ ngơi, cực đà quá cực…, cộng thêm với thời tiết khắc nghiệt nữa, nên nhiều người trong đám dân phu đã phải bỏ trốn lên núi ẩn náu, chờ cơ hội tìm đường về cố hương. Tình cờ những người này đã phát giác ra pho tượng, và cho dân địa phương biết. Tin tức về pho tượng cứ mỗi ngày một lan rộng ra, Nhiều người hiếu kỳ trong vùng đã rủ nhau tìm đến đỉnh núi để chiêm ngưỡng pho tượng.

Vốn sẵn lòng tin vào sự huyền bí và linh thiêng của núi rừng, nên dân chúng địa phương cho rằng tượng đá này chẳng thần cũng thánh chi đây. Vì tin như thế, nên một số người gặp khó khăn, tai hoạ, hoặc muốn cầu xin một điều gì đó, đã lễ mễ nhang đèn, bánh trái, vàng mã tới tận đỉnh núi cao xa này để khấn khứa và cầu xin. Không biết do sự trùng hợp, hay sự linh thiêng thật sự của pho tượng, mà phần lớn những người đến cầu xin đều được toại nguyện.

Tin tức về sự linh thiêng về pho tượng, cứ một đồn mười, lan truyền rất mau chóng, không chỉ trong vùng đất dưới chân núi Sam, mà lan rộng tới cả những vùng xa xôi nữa, nên số người kéo tới lễ bái, cầu xin ngày càng đông, dù phải đi qua nhiều vùng rậm rạp, luồn lách qua những mỏm đá cheo leo, hoặc phải đi theo những lối mòn và dốc đá quanh co lởm chởm. Vì nhận thấy sự bất tiện này, nên dân chúng trong vùng mới bàn nhau khiêng pho tượng xuống chân núi để lập miếu thờ.

Lúc đầu người ta đưa lên núi nhiều người đàn ông lực lưỡng và khoẻ mạnh và tin rằng những người này sẽ dễ dàng mang pho tượng đá xuống chân núi. Song lạ thay, pho tượng đá không lấy gì làm lớn lắm được đặt trên bệ đá (1), mà người ta tưởng là vài ba người đàn ông vạm vỡ có thể di chuyển dễ dàng, thì nay cả mười người đàn ông khoẻ mạnh hợp sức lại cũng không thể nào làm cho pho tượng nhúc nhích được, chứ nói gì đến việc khiêng đi. Người dân trong vùng lại nhang, đèn, hoa, quả, lễ bái, xin pho tượng cho phép di chuyển xuống dưới chân núi để lập miếu thờ cho trang nghiêm. Ít phút sau, một phụ nữ đang ngồi trong đám người lễ bái bỗng đứng phắt dậy và tự xưng là Bà Chúa Xứ rồi phán rằng, muốn di chuyển tượng của bà xuống chân núi để lập miếu thờ phụng, thì phải tuyển chọn 9 cô trinh nữ, mới có thể di chuyển được.

Quả thật, khi dân làng đã tuyển chọn và đưa đủ 9 cô trinh nữ lên núi thì việc di chuyển pho tượng xuống núi lại quá dễ dàng. Khi khiêng pho tượng đi ngang qua khu đất, mà ngày nay có miếu thờ, thì tất cả 9 cô trinh nữ cảm thấy sức nặng của pho tượng bỗng đột ngột tăng lên gấp bội, đến nỗi không thể bước thêm được một bước nào nữa, nên đành phải đặt pho tượng xuống nghỉ. Sau đó, các cô gái đã nhiều lần cố gắng di chuyển pho tượng đến khu đất bằng phẳng và rộng rãi hơn đã chọn lựa nhưng đều thất bại cả, nên dân làng mới cho rằng có lẽ pho tượng có ý muốn lập miếu thờ ngay tại chỗ này đây.

Chẳng bao lâu sau, kẻ góp của người góp công, nơi đây đã mọc lên một ngôi miếu tuy bằng cây lá đơn sơ nhưng cũng khá trang nghiêm và pho tượng được đặt thờ ngay ở trung tâm ngôi miếu. Kể từ đó dân chúng quanh vùng kéo đến lễ bái mỗi ngày một đông. Theo nhà văn Sơn Nam thì pho tượng này là pho tượng Phật đàn ông cuả người Khơme và khi được đặt vào miếu thờ người ta đã tô vẽ bằng nước sơn, mặc thêm áo luạ và mang dây chuyền cho giống tượng của một phụ nữ. Pho tượng được đặt thờ ở nơi trang trọng ở chánh điện. Hai bên bàn thờ có một đôi câu đối:

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thị
Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường
(2)

Trước năm 1945, những nguời đến Miếu Bà Chúa Xứ lễ bái và cầu xin phần lớn là dân cư trong vùng Bảy Núi và trong tỉnh Châu đốc. Cho tới khi sự đi lại trên quốc lộ 4, cùng các đường liên tỉnh miền Tây được mở mang, đồng thời số lượng xe hàng chuyên chở hành khách đã gia tăng một cách đáng kể, và về phương diện an ninh ở miền Nam cũng đã khả quan, nên chẳng những dân chúng ở vùng lục tỉnh, mà còn cả những người từ Sài Gòn Gia Định, và miền nam Trung Bộ, cũng kéo đến lễ bái ở Miếu Bà Chúa Xứ. Hầu như quanh năm suốt tháng, ở Miếu Bà Chúa Xứ lai rai không lúc nào vắng bóng khách hành hương, song đông nhất vẫn là thời gian từ ngày 23 tới ngày 26 tháng Tư Âm Lịch.

Người ta kéo nhau đến đây để cầu xin van vái bà Chúa Xứ phù hộ độ trì cho được mạnh giỏi quanh năm, làm ăn khấm khá, một đồng vốn bốn đồng lời. Đôi khi còn vay mượn tiền Bà làm vốn nữa, dù chỉ là tượng trưng một vài đồng thôi. Một phần có lẽ cũng nhờ Miếu Bà có đôi chút linh thiêng, phần khác là nhờ vào thời kỳ sau năm 1954 chế độ y tế được cải thiện và nên kinh tế tự do ở miền nam được phát triển, nên hầu như phần đông những người đến đây lễ bái cầu xin khỏe mạnh quanh năm và ăn nên làm ra đều được toại nguyện cả. Song với lòng mê tín dị đoan vốn sẵn có trong giới thương buôn, và với lối suy nghĩ đơn giản và chất phác của người nông dân Nam Bộ, thì việc ăn nên làm ra của họ đều nhờ ở lòng thành khẩn cầu xin van vái từ Miếu Bà mà ra. Cũng từ đó lòng tin tưởng vào sự linh thiêng nơi Miếu Bà Chúa Xứ được nhân lên gấp bội. Những người đã đi lễ Vía Bà năm trước, chẳng những đều trở lại vào năm sau, mà còn rủ rê thêm bạn bè và bà con cùng đi nữa. Vì thế ngày vía bà càng những năm về sau càng đông hơn. Những người mượn tiền Bà, dù chỉ một vài đồng, làm ăn phát đạt, đã trở lại để trả lại tiền vốn và tiền lời nhiều khi gấp mầy nghìn lần, và nhân tiện cũng cầu xin Bà tiếp tục phù hộ độ trì cho họ vào những năm tới. Ngay cả những người làm ăn lỗ lã, họ sẵn sàng qụyt hàng ngàn hay hàng vạn đồng của các bạn hàng khác, nhưng lại không bao giờ dám qụyt số tiền nhỏ nhoi một vài đồng mượn của Bà. Dù non sông cách trở, dù mưa gió cản ngăn, họ cũng cố gắng đến để trả nợ cho Bà và vay lại một vài đồng khác để làm vốn mới. Họ tin rằng phải sòng phẳng như thế về lâu về dài mới khấm khá được, nếu không sẽ bị Bà trù yểm đến lụn bại mãn đời.

Kể từ khi ngôi miếu bằng cây là được dựng lên (1819-1824, tức là thời gian kinh Vĩnh Tế khởi công đến ngày hoàn tất) cho đến năm 1970, miếu Bà đã được tu sửa nhiều lần, lúc đầu bằng cây lá, về sau bằng gạch ngói. Nhưng tựu chung việc tu sửa vẫn chỉ luẩn quẩn trong phạm vi sáng kiến không lấy gì làm khoáng đạt của dân làng hay của Ban Quản Trị ngôi miếu. Sau mỗi lần tu sửa hay nới rộng, ngồi miếu tuy có phần khang trang và rộng rãi hơn đôi chút, song vẫn còn mang dáng vẻ quê mùa cục mịch. Sự phối trí giữa ngôi miếu chính và những căn nhà phụ thuộc, cùng những cảnh quan chung quanh còn luộm thuộm. Mãi cho đến năm 1972, khi ngân quỹ của Miếu Bà đã tích lũy được một số vốn kha khá, đồng thời trong Ban Quản Trị cũng đã có mặt một vài vị thức thời, nên đã mời kiến trúc sư Lê Văn Mãng, là người sinh quán ở Châu Đốc, đứng ra vẽ hoạ đồ chỉnh trang đại trùng tu ngôi miếu. Kiến trúc sư Lê Văn Mãng đã tạo cho Miếu Bà trở thành một kiến trúc vừa có những nét cổ truyền dân tộc lại vừa mang những nét hiện đại Tây Phương, và cảnh quan nơi đây đã trở nên hài hòa và sáng sủa.

Để tăng cường tiện nghi hầu đón tiếp khách hành hương từ phương xa tới, vào năm 1973, Ban Quản Trị Miếu Bà Chúa Xứ cùng Hội Đồng Nhân Dân xã Vĩnh Tế đã đề nghị một dự án tự túc phá bỏ một dẫy nhà gạch phụ thuộc của Miếu Bà để xây cất Trường Trung Học Phổ Thông cho xã Vĩnh Tế. Cơ sở này sẽ là một cao ốc ba tầng gồm nhiều phòng học lát gạch bông rất rộng rãi và khang trang. Có điều là ngôi trường trung học này chẳng những sẽ đóng cửa vào những ngày lễ do Bộ Quốc Gia Giáo Dục ấn định, mà còn đóng cửa đặc biệt vào dịp lễ Vía Bà nữa. Vào những ngày Vía Bà, bàn ghế được xếp chồng chất gọn vào một góc phòng để dành khoảng trống cho khách hành hương tạm trú và ngủ nghỉ qua đêm. Đề nghị này được Hội Đồng Bình Định và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Châu Đốc hết sức ủng hộ, và đã đóng góp trực vào dự án này một lượng đáng kể ciment và sắt. Việc đóng góp vào dự án tự túc này của Hội Đồng BĐPT vào dự án đã huy động được việc sử dụng nguồn tài chánh dồi dào của ngôi miếu, và công nho của xã Vĩnh Tế vào việc phát triển giáo dục cho một vùng nông thôn rộng lớn, đồng thời chia xẻ được gánh nặng phải xây cất thêm nhiều phòng ốc cho trường Trung Học Thủ Khoa Nghĩa trong thị xã Châu Đốc. Do đó một ngôi trường cao vòi vọi đã mọc lên đối diện với Miếu Bà, dưới chân ngọn núi Sam. Kể từ đó con cháu bà Chúa Xứ ở xã Vĩnh Tế sau khi đã học hết bậc tiểu học không còn phải đi học xa nữa, và con em của các xã kế cận như Thới Sơn, Nhơn Hưng thuộc quận Tịnh Biên cũng được nhờ cậy. Nghe nói ngôi trường này sau năm 1975 đã bị đóng cửa vĩnh viễn và nơi đây đã trở thành nhà lưu niệm cất giữ những đồ cúng kiếng bà Chúa Xứ của khách thập phương.

Hàng năm, không cần phải đợi đến ngày 23, mà bắt đầu từ ngày rằm tháng Tư Âm Lịch là đã có nhiều khách hành hương kéo đến thị xã Châu Đốc, rồi đi Núi Sam lễ bái, cầu xin tại Miếu Bà Chúa Xứ. Những ngày kế tiếp lại càng đông hơn. Cao điểm là ngày 24, vì ngày này là ngày chính có lễ TẮM BÀ vào lúc nửa đêm, rồi giảm xuống vào ngày 25 và cuối cùng chấm dứt vào tối 26. Lòng mê tín dị đoan của người Việt có lẽ đôi lúc đã đi quá lố, nên một số khá đông người đến dự lễ tin rằng phần nước đã dùng để tắm tượng bà Chúa Xứ cũng rất linh nghiệm. Do đó, khi đến dự lễ Tắm Bà họ đã mang theo chai lọ để xin chút ít nước Tắm Bà đem về làm thuốc. Nước Tắm Bà cũng chỉ có giới hạn, mà người xin lại quá đông, nên sinh ra cảnh chen lấn giành giựt lẫn nhau, hay phải mua bán với giá chợ đen chợ đỏ.

Số lượng khách hành huơng đến Châu Đốc và núi Sam trong những ngày lễ Vía Bà được ước lượng là có tới hàng triệu lượt người. Những người ở gần thường đến lễ bái cầu xin rồi trở về ngay trong ngày. Song cũng có nhiều người từ phương xa thường ở lại nơi đây đôi ba ngày cho đáng đồng tiền bát gạo. Vào những ngày 23 và 24 ở núi Sam chật cứng người và người. Từ chân lên tới đỉnh đâu đâu người ta cũng thấy những tà áo xanh, đỏ, tím, vàng.. .. tung bay phấp phới. Để tránh việc tập trung quá đông người trong khuôn viên Miếu Bà vào ban đêm, Ban Văn Nghệ của Tỉnh Đoàn Cán Bộ Nông Thôn, cũng như các đoàn hát bội hay cải lương do Ban Quản Trị miếu Bà bao thuê để ca hát giúp vui cho khách thập phương. Trong dịp này hàng quán tạm thời cung cấp thức ăn và những tiện ích khác cho khách hành huơng mọc lên như nấm, đồng thời chặt cũng khá đẹp. Những người buôn gánh bán bưng địa phương vào những ngày này là cơ hội tốt cho họ kiếm chác một số lợi tức kha khá cho gia đình. Đặc biệt là các vựa mắm ở thị xã Châu Đốc đã kiếm được khá bộn vào dịp này, vì hầu như khách hành hương khi trở về thường mua ít nhất vài ba hũ mắm mang về quê để ăn hoặc làm quà cho người thân hay bạn bè. Vào dịp này nhóm hành khất đại cái bang cũng không quên tập trung về Núi Sam để nhờ ơn mưa móc của khách hành hương. Những bậc thang từ cổng miếu dẫn xuống sân miếu, người ta thấy đủ các loại ăn mày ngồi hàng hàng lớp lớp, nhiều khi làm cho việc lên xuống gặp nhiều trở ngại.

Trước năm 1975, vào những ngày này, chính quyền địa phương rất bận rộn và vất vả trong việc duy trì trật tự và an ninh cho khách thập phương. Ngành Cảnh Sát phải làm việc ngày đêm để điều hoà việc giao thông và duy trì an ninh trật tự. Tiểu khu Châu Đốc và chi khu Châu Phú cùng chi khu Tịnh Biên phải phối trí các đơn vị địa phương quân và nghĩa quân tung ra hoạt động ngày đêm từ gần đến xa, nhất là những vùng mà Việt Cộng có khả năng đặt súng cối pháo kích vào núi Sam. Nhiều năm vì tiểu khu Châu đốc không có đủ lực lượng để bảo vệ cho khách hành hương, nên phải xin lực lượng tăng cường từ các tiểu khu khác như An Giang, Kiên Giang hay Kiến Phong.

Vào ngày Vía Bà, tháng Tư Âm Lịch 1975, nghe nói hầu như không một bóng người lai vãng quanh Miếu Bà Chúa Xứ. Tuy không có thông cáo cấm đoán chính thức nào được phổ biến trong dân chúng hay trên đài truyền thanh hay truyền hình cả, song mọi người dường như ý thức được rằng đối với chế độ mới, thì việc lễ bái và thần thánh đều bị coi là nhảm nhí, và người đến miếu Bà vào dịp này có thể bị nghi là phản động và có thể bị bắt bỏ vào trại tập trung cải tạo nữa. Tới ngày lễ vía Bà năm 1976, mới chỉ có một số ít người can đảm và gan dạ đã mon men tới gần ngôi Miếu. Vì muốn chúng tỏ rắng chế độ mới vẫn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của người dân, nên công an đã cho phép một số người già cả quê mùa vào miếu để thắp hương và vái lạy bà Chúa Xứ, song phải ra về ngay mà không được la cà ở lại. Dân chúng ở thị xã Châu Đốc và xã Vĩnh Tế được học tập kỹ lưỡng về cách cư xử đối với những người khách hành hương, là không được chứa chấp họ trong những ngày này.

Đến ngày Vía Bà 1977, thì khách hành hương đã kéo tới lễ tương đối đông đảo, và các biện pháp hạn chế của chính quyền địa phương tỏ ra không còn hiệu nghiệm nữa. Bù lại khách hành hương cũng đã cúng kiếng một số tiền lớn cho miếu, và lúc bây giờ BQT miếu chưa được phép thành lập và hoạt động, nên cán bộ địa phương có toàn quyền tùy nghi xử dụng.

Đến năm 1979, chính quyền và đảng bộ địa phương thấy việc lễ bái tuy hoàn toàn trái với lý thuyết duy vật của tổ sư Karl Marx, nhưng cứ tạm ngậm miệng lại, thì ngân sách chính quyền và đảng bộ địa phương cũng như gia đình cán bộ sẽ kiếm được một món tiền kha khá, mà lại còn được tiếng là chế độ mới hết sức tôn trọng tự do tín ngưỡng của người dân. Vì thế lễ Vía Bà Chúa Xứ, bắt đầu từ năm 1979 trở đi, khách hành hương lại kéo đến núi Sam cứ mỗi năm một đông lên, không thua kém gì những lễ Vía Bà Chúa Xứ trước năm 1975 dười thời Đệ Nhị Cộng Hoà.

Chú thích:

(1) Bệ này có hình vuông mỗi cạnh khoảng 1,6 mét và dày 0,3 mét,ở giữa có một lỗ vuông mỗi cạnh khoảng 0,2 mét. Hiện bệ này đang được bảo quản và trưng bày rất trang trọng trên đỉnh núi Sam

(2) Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mộng./Người Thái kính trọng, người Hoa ngưỡng mộ, ý tứ khôn lường.

Huy Vũ

* Hình ảnh: BVCV sưu tầm

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Huy Vũ. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s