BIA ĐÁ, BIA MIỆNG (Trần Kim Bảng – K20)

(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 118 – tháng 1/2020)

Triều đại nào rồi cũng qua đi, con người nào (dù tài giỏi đến đâu đi nữa) rồi cũng mất. Chỉ có lịch sử là không thể mất, cũng không vơi đi mà ngược lại, càng ngày số bài vở bổ túc cho lịch sử càng nhiều hơn, càng phong phú hơn. Vì lịch sử có nhiệm vụ ghi chép lại những sự kiện — ở mỗi triều đại, mỗi giờ, mỗi ngày, hàng năm, hàng thế kỷ, liên tục nối tiếp nhau — xảy ra không ngừng nghỉ theo thời gian. Trong đó còn có cả hình ảnh, chứng tích, và di tích cần lưu lại cho hậu thế. Dĩ nhiên, muốn làm việc này một cách đứng đắn, cẩn thận, chúng ta phải nhờ đến bàn tay/ khối óc của các sử gia chuyên nghiệp, có đức tính luôn tuyệt đối trung thực trước lịch sử. Khi thực thi nhiệm vụ, sử gia không thêm, không bớt, không tuỳ tiện khi ghi chép, hoặc sửa đổi hình ảnh.

Một việc làm rất khó khăn, vì các sử gia, ngoài việc bị ảnh hưởng bởi chính kiến hay định kiến, tôn giáo, hay truyền thống gia đình của riêng mình, còn bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi nhà cầm quyền đương thời, đặc biệt là nhà cầm quyền ở thời quân-chủ chuyên-chế và thời Cộng-Sản là những thời mà những tâm tình, và dòng suy tư của con người thường bị cướp đoạt một cách vô tội vạ, bị vo tròn bóp méo theo một ‘định hướng’ bắt buộc, cực kỳ tàn nhẫn. Những sử gia trong các chế độ này muốn trung thực với chính mình cũng đã khó, chứ đừng nói là phải trung thực trước lịch sử.

Nhà viết sử nổi tiếng vào thời vua Hán Vũ Đế của nước Tàu là ông Tư Mã Thiên (145-86 trước Công Nguyên) được người đời hết sức ca tụng về đức tính khẳng khái và trung thực. Lịch sử nước Tàu đã ghi lại, trong một trận đánh giữa quan quân nhà vua với rợ Hung Nô, vào thời đó có 2 vị tướng được đề cử cùng cầm quân ra trận, có tên là Lý Lăng và Lý Quảng Lợi. Không may trong trận đánh này cả 2 ông đều bị thua trận. Khi phân tích nguyên nhân, thì phần đông các quan cận thần và nhà Vua đều đổ lỗi cho tướng Lý Lăng; chỉ riêng ông Tư Mã Thiên đổ lỗi cho tướng Lý Quảng Lợi và bênh vực cho Lý Lăng.

Vì Lý Quảng Lợi là anh vợ của vua Hán cho nên sử gia họ Tư đã bị gán vào tội ‘khi quân’. Kết quả, ông đã bị kết án ‘lăng trì’ là tội tử hình, rồi sau đó được đổi thành tội ‘thiến’. Tuy không bị chết, nhưng bị ‘thiến’ là một hình phạt dã man và nhục nhã nhất vào thời đó, vì người đàn ông không còn khả năng sinh con đẻ cái để nối dõi, một tội rất nặng đối với tông đường của dòng họ mình. Nhưng thà là bị hành hình như thế chứ Tư Mã Thiên nhất định không thể nói sai sự thật.

Sự kiện này cho thấy, quan điểm của số đông người (tức đa số) trong nghị viện ở vào giai đoạn lịch sử nào đó chưa chắc đã là chân lý! Trong xã hội Cộng Sản, các ứng cử viên được ‘đảng cử dân bầu’ rồi được tuyển chọn trong các cuộc bầu cử, được gọi là ‘dân chủ’, giới bình dân gọi là ‘cà chớn’. Họ thường đạt tỷ lệ 99% phiếu bầu cũng là một kết quả bất khả tín, có cùng một ý nghĩa xấu tương tự: quyền lực trong chế độ độc tài đồng nghĩa với chân lý!?

o O o

Nhìn lại cuốn ‘Lịch Sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam’ được ra đời lúc gần đây đã phần nào chứng minh cho những khó khăn của các nhà viết sử vừa nêu trên. Trước khi và ngay cả sau khi phát hành cuốn sách này, những khó khăn về sự thống nhất phần nội dung của cuốn sách đã là nguyên nhân của sự chia rẽ trầm trọng giữa các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan xuất thân từ cùng một quân trường. Những định kiến của từng cá nhân hoặc của từng nhóm không thể nào phá bỏ được, nếu họ không tự nguyện cùng tôn trọng một quy tắc làm việc chung. Chúng ta không có một phương hướng nào khả dĩ hóa giải được những bất đồng trước và sau khi sự kiện xảy ra; từ đó, đã làm xấu đi bộ mặt truyền thống lâu đời. Thật đáng tiếc!

Trường Võ Bị tọa lạc trên đồi 1515 ở Đà-Lạt là phần hình thức, nay đã bị địch xóa bỏ. Còn cuốn sách ‘Lịch Sử Trường Võ Bị’ là phần nội dung, trong đó châm ngôn “Tự Thắng Để Chỉ Huy” mới thật sự có ý nghĩa, xứng đáng là tấm bia đáng truyền tải cho thế hệ mai sau, và cũng là châm ngôn đáng ghi nhớ dành cho những ai muốn chỉ huy người khác. Vấn đề chính cần quan tâm ở đây, trước hết vẫn là vấn đề ‘tự thắng’, các đề mục khác chỉ là phụ.

Ngược về thời tiền sử, con người còn ‘ăn lông ở lỗ’, chưa có phương tiện ghi chép, vả lại cũng chưa có khái niệm về lịch sử; cho nên khi cần phải giữ lại điều gì quan trọng, người ta thường truyền miệng, từ miệng người này sang miệng người kia liên tục từ đời này sang đời khác, để nói cho nhau nghe, hiểu, và để cho mọi người cùng biết những gì thiết thực trong cuộc sống cần ghi nhớ, cần giữ lại, được gọi là ‘bia miệng’.

Dần dần, con người tiến đến việc sử dụng ‘bia đá’ để ghi nhớ những điều cần nhớ. Các quan chức nổi tiếng về tài, đức, được ghi tạc tên tuổi vào đá để hậu thế tôn thờ hoặc để ghi ơn công đức. Ngay cả những người một thời ‘lều chõng’ lên đường đến kinh đô để tham dự kỳ thi tranh giải ‘trạng nguyên’; nếu vượt qua kỳ thi, thì cũng được ghi tên vào ‘bảng vàng bia đá’.

Thế nhưng có một điều gì đó khá đặc biệt, cho nên sau nhiều biến chuyển của lịch sử, trong dân gian ở nước ta mới có câu:

“Trăm năm bia đá thì mòn,
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

Nghĩa là ‘bia miệng’ có phần còn nặng ký hơn cả ‘bia đá’ gấp 10 lần.

Rồi sau đó, có lẽ tiền nhân ta muốn khuyên răn người đời muốn làm việc gì đó khó khăn mà muốn thành công thì trước hết phải rèn luyện đức tính kiên nhẫn, nên mới có câu ‘nước chảy đá mòn’ (tương tự như ‘có công mài sắt có ngày nên kim’) nhưng đồng thời cũng có nghĩa đen ngụ ý, ngay cả ‘bia đá’ cũng có thể bị nước làm xói mòn và mất đi; chứ ‘bia miệng’ là do miệng lưỡi con người tạo ra, rồi truyền tải cho nhau, thì không có cách gì làm mòn được, và nó sẽ còn mãi mãi.

Đúng vậy, miệng lưỡi con người là do Tạo Hóa sinh ra, ngay từ lúc bẩm sinh đã có một tố chất rất đặc biệt, không ai giống ai, cho nên một lời nói phát ra từ cửa miệng của một con người, vừa có lợi, và cũng có thể vừa có hại cho chính mình và cho người khác. ‘Cái lưỡi không xương’ nên có thể nắn nót theo kiểu nào cũng được. Vì thế mà lời nói rất lợi/ hại có thể làm thay đổi quan điểm của người khác. Lời nói tốt có thể làm cho gia đình hạnh phúc. Lời nói xấu có thể khiến gia đình tan nát. Tiếng lành đồn xa và tiếng dữ cũng đồn xa; hoặc:

“Lời nói không mất tiền mua,
Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau…”;

đi đôi với lời khuyên:

“Phải uốn lưỡi 7 lần trước khi nói.”

Tôi còn nhớ thời gian trong trại tù “cải tạo”, vào cuối năm 1979. Có một lần sau một ngày lao động vất vả — phá rừng ở vùng Tống Lê Chân, làm trại tù tự nhốt mình, và cuốc đất trồng rau xanh rất cực nhọc –người tù phải tập họp lại để nghe cán bộ quản giáo phê phán, và hắn ta tuyên bố:

-“Tuyệt đại đa số nà các anh có tinh thần nao động tích cực, rất đáng khen nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số chưa tốt, số đó không phải nà ít.”

Một anh bạn cùng ở tù với tôi, ngay sau khi tan hàng, đã hỏi tôi:

-“Mày có hiểu gì không?”

Tôi mỉm cười và lắc đầu để đáp lễ anh. Anh bạn tôi cũng mỉm cười theo.

Một chuyện khác, mới đây: Ngày 15 tháng 11 vừa qua, trong buổi Impeachment lần thứ hai (lần thứ nhất xảy ra vào ngày 13) dành cho Tổng Thống Trump ở Capitol Hill; ông Adam Schiff của đảng Dân Chủ, Chủ Tịch Uỷ Ban Tình Báo Hạ Viện chủ trì việc Impeach, đã 6 lần dùng chiếc “búa KGB” (đã một thời được sử dụng thuần thục ở Liên-Bang Sô-Viết), đập xuống bàn để cắt đứt lời nói của các dân biểu Cộng Hòa, mà có lẽ theo ông đoán nhận thì đối phương sắp phóng ra một lời nói có tác dụng sắc bén hơn lưỡi dao, sẽ đè bẹp tiếng nói của ông, làm ông mất mặt, cần phải ngăn lại ngay. Lúc đó tôi ngồi trước màn hình TV, thấy ngỡ ngàng! Quái thật! Tôi tự hỏi: Tự Do, Dân Chủ được thể hiện ở ngay điện Capitol Hill dưới sự lãnh đạo của bà chủ tịch Hạ Viện Pelosi, sao mà lạ đời thế!? Tôi bèn liên tưởng đến trại tù ”cải tạo” của VC dành cho các sĩ quan “ngụy” trốn trại sau 30.4.1975: tù nhân bị nhận bản án (bị nhốt vào container hoặc bị bắn), trước khi xử án!

o O o

Một lần lang thang trên ‘net’, nhiều tin tức cho biết, bia đá — dấu mốc đầu tiên ở cổng Nam Quan phía Bắc Việt Nam đánh dấu việc phân định ranh giới giữa nước Ta và nước Tàu — tôi không biết chính xác là đã được tổ tiên ta xây dựng từ đời nào, mà nay đã mất. Thật đáng buồn! Nhưng rồi tôi lại tự an ủi, ‘bia đá’ mất nhưng ‘bia miệng’ vẫn còn: “Nước Việt Nam ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau” tôi được học từ ngày mẹ dắt tay đến trường, đến nay vẫn còn nguyên vẹn, không thể mất.

Bài ca từ thời tôi học lớp ba ở trường làng, thời mà cô/ thầy giáo được kính trọng như ông bà, cha mẹ. Và tôi đã được nghe cô giáo hát rồi cô bắt học trò cùng hát theo từng câu, từng chữ, không cần phải ghi chép:

“Nhà Việt Nam, Nam Bắc Trung sáng trời Á Đông,
Bốn ngàn năm văn hóa đã đắp xây bao kỳ công,
Người Việt Nam cân quắc bao anh hùng,
Từng phen nức danh khắp trời Á Đông,…”

Đến nay đã hơn 70 năm tôi vẫn còn nhớ được 4 câu đầu của bài ca. Mặc dầu ở tuổi măng non không hề biết xuất Xứ, cũng không hiểu được ý nghĩa của bài ca này; chỉ biết hát theo lời cô giáo như con vẹt học nói. Nhưng đến khi lớn lên, tìm hiểu, tôi mới nhận thức được tạm đủ về ý nghĩa của bài ca, và biết được tác giả là nhạc sĩ Thẩm Oánh. Tôi nghĩ, ‘đây cũng là một thứ bia miệng’. Một số bạn cùng sống tuổi măng non thời Pháp thuộc trước 1954 ở miền Bắc, cùng lớp với tôi đều có những nét đồng dạng: ‘bia miệng’ cũng quan trọng không kém gì ‘bia đá’, thậm chí còn có thể quan trọng hơn nhiều, vì lời nói hôm nay có thể rất khác với lời nói ngày mai mặc dầu cùng xuất phát từ một cửa miệng, về cùng một vấn đề.

Đứng về phía tôn giáo, nếu ‘bia miệng’ được sử dụng cho việc truyền tải những điều hay lẽ phải thì rất tốt, nhưng nếu nó biến thành ‘khẩu nghiệp’ thì đây là một điều cần phải xa lánh. Còn nếu đứng về phía các chính trị gia thì dù là ‘khẩu nghiệp’ cũng không đáng quan tâm, vì quyền lợi trên hết, quyền lợi cá nhân hay đất nước cũng vậy! Vấn đề còn lại là tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người, muốn đứng về phía nào, tuỳ thích.

Cũng lạ thật! Nếu nói về thời gian, đem so sánh chiều dài của Lịch Sử đã có từ hàng ngàn năm trước với chiều dài của một đời người, thì thật sự đời của một con người không đáng kể. Thế nhưng con người lại đóng vai chủ động trong việc hình thành Lịch Sử. Vậy thì con người có nên tin vào Lịch Sử không?

-Xin thưa là còn phải tuỳ thuộc vào người viết lịch sử và người đọc lịch sử, không thể xác định ngay được là ‘có’ hay ‘không’. Con người không thể tồn tại cùng với chiều dài của lịch sử để thực hiện mong ước của mình. Vì con người bị giới hạn về thời gian, còn lịch sử thì vô tận, cho nên, mỗi lần ‘lịch sử sang trang’ là một lần người đọc nghi ngờ về lịch sử. Người đọc sẽ tự hỏi, ‘những gì vừa được ghi lại ở đây liệu có đáng tin cậy không?’ Đó chính là điều mà người đọc cần phải suy nghĩ trước một sự kiện lịch sử được sử gia ghi chép lại, cho dù là mới đây hay trước kia. Ví dụ: Chắc chắn chẳng ai tin vào lịch sử do đảng viên Cộng Sản ghi chép, ngoại trừ những người thân của họ và những bạn trẻ sinh sau đẻ muộn trong xã hội Cộng Sản.

Lịch sử viết về cuộc chiến tranh Việt-Nam kể từ 1945 đến nay do các sử gia tả phái người Mỹ ghi chép, họ vo tròn bóp méo theo ý mình, rồi được giảng dạy ở các trường đại học vẫn còn là vấn đề tranh cãi, sẽ chẳng bao giờ đi đến kết luận. Tuy vậy nó vẫn được truyền bá không cần biết đúng/ sai. Và thực tế đã cho thấy, những cuộc biểu tình ‘phản chiến’ — trước đây, hoặc ngay bây giờ cũng vậy — của các sinh viên được bắt nguồn từ những sai lầm nghiêm trọng của lịch sử. Và lịch sử, như thế, trong hoàn cảnh đó đã không còn mang tính thuần tuý, nó đã biến thành phương tiện tuyên truyền (!) cho dù là vô tình, hay cố ý.

Nếu đem một sự kiện lịch sử ra chứng minh về điều mình muốn nói trong lúc sôi máu tranh luận, đôi khi càng làm cho lịch sử trở nên rối ren hơn. Nhưng chắc chắn trong số những rối ren đó phải có một sự thật hiện hữu đã chìm sâu trong dĩ vãng hàng chục năm, có khi hàng trăm năm, hoặc sâu hơn. Vậy thì ai là người có khả năng khám phá ra sự thật đó và thuyết phục được số đông. Một điều không dễ làm! Lúc ấy phải cần đến ‘miệng lưỡi’ của những người vừa có tài thuyết phục, vừa hiểu biết sâu rộng về khoa học biện chứng, và các phương pháp thường dùng trong sử học, như: loại suy, đối chiếu, v.v…, mang tính rất chuyên môn của các sử gia chân chính, mới có thể giúp người khác nhận biết về sự thật lịch sử.

Trước đây, khi còn trẻ chúng ta là những chiến sĩ cầm súng ngoài chiến trường, tuy biết rõ một số sự thật nhưng không có khả năng và cơ hội nghiên cứu, cũng như trình bày quan điểm của mình trước công chúng. Bây giờ, chúng ta là những người thua trận, đã mất tất cả!

Thế rồi thời gian qua nhanh, những bế tắc càng ngày càng nới rộng hơn trong đời sống, vì tuổi già mau đến, vì trí nhớ bị lão hóa trầm trọng; ‘lực bất tòng tâm’, cho nên phải nhờ đến bàn tay/ khối óc của các bạn trẻ, những người Mỹ gốc Việt đầy năng lực và đầy nhiệt huyết tiếp sức.

Vấn đề đặt ra ở đây, không phải là thắng, thua mà là sự thật. Chúng ta đang sống trong xã hội văn minh có nền Tư Pháp đứng đắn thì cho dù sự thật có bị che đậy, lấp liếm bao lâu đi nữa, người ta vẫn có hy vọng tìm lại được; chỉ tiếc là quá trễ!

Trần Kim Bảng – K20
22.11.2019

This entry was posted in Bình-luận - Quan-điểm, Văn Hoá Vụ - Trường Võ Bị Đà Lạt, Đa Hiệu. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s