THÁNG TƯ ĐEN (Ngu Lắm Cơ)

(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 104 –  40 Năm Quốc Hận )

Ngu Lắm Cơ

NKT là tên, cũng là bút hiệu từ năm đệ lục khi bắt đầu viết cho trang học sinh của phụ trang bé Ngôn bé Luận, nhật báo Ngôn Luận do nhà văn Phạm Cao Củng phụ trách. Trước 75 đã viết cho các báo Ngôn Luận, Chính Luận (từ số đầu đến số cuối), Công Luận (nhà văn Duyên Anh), Thời Thế, và các tạp chí Ngàn Khơi (của nhà văn Nhã Ca),VNTP, TT Thứ Năm, TH Thứ Tư, Chọn Lọc, Màn Ảnh, và cả Đa Hiệu xưa…Ngu Lắm Cơ là bút hiệu viết phiếm trên Chính Luận năm 74-75 và sau này tại hải ngoại. Theo chồng – cựu SVSQ Trịnh Trân, K20 – định cư tại Hoa Kỳ vào tháng 04/1992, theo diện H.O (H.O.10).

Không biết sẽ có ai nói em là cái bà này sao mà khó chịu, xấu tính xấu nết thế, chẳng có tí xíu quảng đại nhân hậu nào hết trơn, bao nhiêu năm qua rổi mà vẫn còn khư khư ôm cái mối thù …vặt chẳng nguôi ngoai. Không dám đâu! Mỗi năm khi tới tháng Tư, những hình ảnh xưa cũ lẫn với hình ảnh hiện nay của quê nhà lại kéo về, lại vẫn làm đau con tim, chẳng dứt. Nỗi đau thật lớn, không “vặt” tí xíu nào, nên mối hận cũng ngang bằng, không hề nhỏ. Có những điều, theo với thời gian rồi sẽ quên đi, nhưng có những điều mãi mãi vẫn nhớ hoài. Làm sao em có thể quên được câu nói của Kissinger những ngày cuối tháng tư xưa, khi bao nhiêu người dân Việt, đàn bà, trẻ con, ông già bà lão, đang thất thần, bỏ nhà bỏ cửa chạy giữa lằn đạn của những kẻ xâm lăng từ phương Bắc, thân xác nát tan không người vuốt mắt, khi bao nhiêu người lính Miền Nam tuyệt vọng nhưng vẫn đang cương quyết nắm chặt tay súng giữ từng tấc đất quê hương:

-“Sao bọn chúng không chịu chết lẹ đi cho rồi”.

Cũng vậy, hình ảnh Jane Fonda lặn lội từ nửa vòng trái đất đến thăm những người lính Mỹ đang bị bắt giam trong trại tù Hà nội. Được một người của mình, đến từ chính quê hương mình ghé thăm, chắc đã làm cảm động biết bao nhiêu người tù đang đói, đang khổ, đang nhớ nhà. Bao nhiêu những lá thư dù nhỏ bé với đôi giòng nhắn tin ngắn ngủi viết vội vàng nhưng chắc chắn sẽ đem biết bao nhiêu an ủi đến cho nh ững người thân, những người vợ, người mẹ, người cha, người con đang mòn mỏi trông tin nơi quê nhà xa tít. Thế mà, trước mặt tất cả mọi người, người đàn bà ấy đã thản nhiên nhận tất cả những mẫu nhắn tin nhỏ bé ấy rồi vui vẻ “ phấn khởi” nộp cho “cán bộ trại giam” ở cuối hàng.

Không còn một sự phản bội nào trắng trợn và phũ phàng hơn được nữa!

Nên, làm sao em có thể quảng đại mà quên đi những điều như thế chứ ?

Báo chí vừa đăng tin ông Lý Quang Diệu đã qua đời. Ông là Thủ tướng đầu tiên của Singapore, người đã đưa xứ sở nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu trở thành một quốc gia tân tiến, phồn thịnh. Người cuối cùng của thế hệ những Tưởng Giới Thạch, Park Chung Hee, Ngô Đình Diệm…những hổ tướng với chính sách cứng rắn nhưng tấm lòng trung hậu, vì nước vì dân thực sự, để đưa những đất nước chậm tiến, nhược tiểu châu Á lên ngang hàng những quốc gia hùng mạnh thế giới. Đại Hàn, Đài Loan, Singapore không thể như hôm nay nếu không có những người hùng như thế. Tiếc thay, Việt Nam không có được cái điều may mắn ấy, dù Việt nam đã có người hùng còn hơn vậy. Chín năm là một quãng thời gian quá ngắn, vậy mà TT Ngô Đình Diệm đã đặt được đầy đủ nền móng của một quốc gia dân chủ, tự do thực sự. Nhưng rồi….

Mỗi năm, khi đọc lại những trang sử của ngày 30/4, từ cuộc rút khỏi cao nguyên của người lính và người dân trên đường số 7 oan khiên đến những c âu chuyện tan hàng ngậm ngùi trên bãi biển miền Trung, không một người Miền Nam nào có thể quên nỗi đau mất nước, tan nhà, dù đã bao nhiêu năm qua, dù có thể chính mình đang yên lành ở một quê hương thứ hai. Từng năm, từng năm qua, mỗi độ tháng Tư về, nhìn lại quê hương cũ thì chỉ thấy mỗi ngày mỗi tàn tệ hơn, tàn tệ đủ mọi phương diện, băng hoại dưới mọi hình thức, xấu xa trên mọi lãnh vực. Khoảng cách giữa Việt Nam và những nước ngang hàng năm xưa ngày càng lớn, tới độ cả hàng chục, hàng trăm năm, trong khi người Việt Nam cần cù, người trẻ VN thông minh không thua bất cứ một dân tộc thông minh nào trên thế giới. Cô bé 15 tuổi Dương Nguyệt Ánh rời VN năm 1975 đã trở thành một khoa học gia nổi tiếng của Mỹ. Em Vũ Khoa mới theo cha mẹ qua Mỹ năm 2010, năm đầu tiên vừa đi học Anh văn ở những trung tâm bên ngoài đại học (vì chưa đủ một năm làm cư dân California), vừa đi làm toàn thời gian để phụ cha mẹ đã lớn tuổi. Một năm sau, em vừa theo học ở đại học cộng đồng vừa đi làm bán thời gian, vậy mà năm nay, năm 2015, khi chưa đủ 5 năm ở Mỹ, vẫn còn là thường trú nhân, em đã được nhận vào Havard sau khi hoàn tất cử nhân tại Berkley.

Em tin rằng đang còn rất nhiều những người trẻ VN khác như vậy, thông minh như Dương Nguyệt Ánh, như Vũ Khoa nhưng không có điều kiện nên không thể phát huy khả năng của mình. Cùng là hạt giống tốt lành như nhau, nhưng hạt rơi vào đất lành màu mỡ chắc chắn sẽ khác hoàn toàn hạt rơi vào bụi gai, vào sỏi đá, vào thềm xi măng. Đọc báo thấy những sinh viên VN du học tại Nhật bương chải kiếm sống hàng ngày, mỗi đêm đi làm quần quật để rồi ban ngày vô lớp không cưỡng nổi cơn ngủ. Còn có em trong một phút không suy tính kỹ đã chấm dứt con đường bằng những hành vi trộm cắp và bị bắt. Những bản tin đọc làm đau thắt con tim. Tội nghiệp tuổi trẻ VN, những hạt giống tốt lành đang bị ném vào những bụi gai. Nhìn ảnh tên thất học Nông Đức Mạnh chễm chệ giữa tòa lâu đài vàng chóe của mình và nhớ tới những em bé nhỏ xíu 7,8 10,12… tuổi lặn lội 5,7 cây số, đu dây qua sông mỗi ngày để tới lớp, tự nhiên thấy giận điên người.

Đâu rồi những Vũ Văn Mẫu, đâu rồi linh mục Thanh, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, thượng tọa Thích Trí Quang, thiền sư Nhất Hạnh, đâurồi nh ững Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, anh em Hoàng Phủ…. Ngày xưa các người hò hét, tranh đấu chống bất công, chống độc tài v.v. và v.v mạnh mẽ, ầm ĩ lắm cơ mà, nay đâu hết rồi, sao im hơi lặng tiếng, sao nín khe vậy? Im lặng là tán thành, là đồng lõa, chả lẽ mấy người đang đồng ý với những gì đang xảy ra, đang thấy đó đúng là mơ ước mấy người đã mong đợi từ những ngày tranh đấu xưa kia hay sao?

Và còn nữa. Có ai nhớ tên của bầy dân biểu, nghị sĩ Mỹ kênh kiệu đã qua thanh sát Việt nam những ngày gần 30/4 không vậy, xin nhắc cho em với, em quên mất tiêu rồi. Những cái tên này, như Jane Fonda, cũng cần phải được nhớ và nhắc mãi. Giữa cảnh Việt Nam đang dầu sôi lửa bỏng, dân chúng bồng bế nhau chạy xa Việt cộng, binh sĩ VN hết đạn dược, không tiếp liệu, quý bà dân biểu, quý ông nghị sĩ Mỹ đã tới VN để quan sát thực tế. Đến một phó thường dân cù lần nhất như em ngày ấy cũng cảm thấy hy vọng nhen nhúm, tin rằng quý vị đại diện dân ở một quốc gia rất dân chủ, chân thực, thẳng thắn như Mỹ, đồng minh bao nhiêu năm trường của người Miền Nam, chắc sẽ thấy được thực cảnh để thi hành những lời cam kết đã hứa. Thế nhưng, trước sự ngỡ ngàng sững sờ của mọi người, họ chỉ tới những trại giam Việt cộng, nói chuyện, ân cần thăm hỏi đám tù binh cộng sản rồi về Sài gòn, chỉ trích chính phủ VNCH, xong lên máy bay, bay về nước, với kết quả không chỉ cái khoản viện trợ sống còn nhỏ nhoi 300 triệu, mà toàn thể viện trợ đều bị cắt hết, ngưng hoàn toàn, trong khi quân đội Bắc Việt với sự hậu thuẫn của toàn khối Cộng sản, đã nhận viện trợ quân sự tăng tối đa để ào ạt tấn công mạnh hơn. Đau đớn hơn nữa, trước sự chênh lệch cán cân quá lớn giữa hai bên như thế, những cái lưỡi không xương ấy lại vẫn còn tiếp tục gào lên:

-Quân đội VNCH không chịu chiến đấu!

Bây giờ, rất nhiều tài liệu đã được giải mật, không biết quý vị ngày đó giờ đây đang ở đâu, họ có đọc không, có nhớ những gì mình đã làm xưa kia để giết chết một dân tộc anh hùng chi muốn được sống trong tự do, dân chủ, sao cũng không một ai lên tiếng, sao cũng im re, lặn kỹ hết vậy? (Em cũng biết có vài nhân vật, cả Việt cả Mỹ, đã không còn nữa, nhưng những điều đang có trên đất nước, trên người dân Việt hôm nay chính là một phần hậu quả của những việc họ đã làm hôm qua, nên, dù không còn nữa, em vẫn thấy họ phải chịu trách nhiệm những việc họ đã làm cho dân tộc).

Tuy nhiên, dù thật sự đã giận cách nào,đôi khi nhớ lại đôi điều xưa, em lại thấy thôi hãy thông qua. Ngày xưa khi người lính Mỹ từ địa ngục trần gian trở về, thì ở ngay chính quê hương của họ, những người tưởng là thân, là chung huyết thống, chung cảm nghĩ, những tên sinh viên đang yên lành ở các đại học Berkley, đại học Kent, đang cài những bông hoa hippy xanh xanh đỏ đỏ trên đầu trên người, khác hẳn những vết thương người lính đang mang trên thân thể, lại nhân danh cái lương tâm giả hiệu, cái công lý giả hình của mình để hạch hỏi người trở về:

-Mày đã giết bao nhiêu con nít ở đó?

Đối với người cùng giòng máu, cùng chủng tộc, đôi khi còn cùng mái nhà mà họ còn đối xử tàn tệ như thế, thì thôi, hơi sức đâu mà đi trách móc. Con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội.Thời thế, thế thời làm con người thường thế !

Người ta vẫn nói rằng, người Mỹ là những người rất giỏi tính toán, làm việc có kế hoạch, bất cứ việc nào, dù lớn như đặt chân lên sao Hỏa, hay nhỏ như hoạch định ngân sách năm tới v. v. cũng được tính toán, đặt kế hoạch trước và theo sát kế hoạch đã đề ra để có được kết quả tốt nhất. Nhưng từ ngày tới xứ này, được nhìn thấy chứ không chỉkiến kỳ thanh” nữa, em bỗng đâm nghi ngờ. Dù sao, những “kế hoạch độc đáo nhất” cũng chỉ là sản phẩm của đầu óc con người. Những đánh giá “đầu óc siêu việt” cũng chỉ là đánh giá của con người, mà con người thì không phải không thể có lúc sai. Khi Kissinger và Nixon bắt tay được với Mao trạch Đông năm 1972 xưa, cả hai, nhất là Kiss, chắc đã vô cùng hỉ hả, “tự sướng” vì đã mở được cánh cửa bao nhiêu năm then cài kín mít để đi vào một thị trường tiêu thụ mênh mông vĩ đại trong đó cả tỉ người đang không có gì hết, sẽ tha hồ mà bán đồ, mỗi người dân Tàu chỉ cần mua một vài đô la thôi cũng đã thành bạc tỉ. Và Mỹ đã bỏ VN tỉnh bơ không nuối tiếc vì chẳng còn lợi lộc. Rồi để có thể kiếm lợi nhuận thêm nhiều hơn nữa, các công ty Mỹ lại đua nhau đóng cửa các hãng xưởng tại Mỹ để đem qua Trung Quốc, nơi giá nhân công rẻ hơn thật nhiều so với Mỹ, nơi cả triệu người đang đói việc làm nên sao cũng ừ hết. Từ chính phủ tới chủ nhân, tài phiệt, ai cũng hỉ hả, chính phủ khuyến khích bằng chính sách bớt thuế, chủ nhân thì hỉ hả vì lợi nhuận tăng mà lương tâm không hề bị cắn rứt về chuyện đã cắt hết việc làm của người dân Mỹ đem cho nước ngoài, vì thấy mình vẫn đang đóng góp vào chuyện phát triển kinh tế Mỹ.

Thế nhưng, thật hoàn toàn ngoài dự kiến đẹp đẽ thủa ban đầu bắt tay ấy, một trật tự kinh tế mới tự nhiên lại được thành hình. Trung quốc từ một nước lạc hậu, dân vừa nghèo vừa đói dần dần trở thành xưởng sản xuất của thế giới, xuất cảng hàng tiêu dùng đi khắp năm châu, từ các nước xa xôi ở tận Phi Châu, đến các thủ đô giàu có Châu Âu, từ các cửa hàng tráng lệ ở New York đến các ngôi chợ nhỏ xíu ở Cali. Rồi khi kinh tế đã phát triển, có tiền cho khắp các nước giầu nghèo khác vay, Trung cộng lại thấy cần phải mạnh về quân sự, và đảo Hải Nam trở thành một căn cứ tàu ngầm, những đoàn hàng chục ngàn tàu thuyền “tự vệ biển” tràn lan khắp mặt biển Đông trông chừng cho con đường lưỡi bò tự vẽ, cho Tàu tự tung tự tác mà không có một lực cản trực tiếp nào đối đầu.

Trong cái ngày mà Nixon nắm được bàn tay của Mao xếng xáng và cắt đứt mọi ràng buộc với VNCH ấy, cái kế hoạch dài hạn nằm trong đầu Kiss, trong đầu Nixon chắc hẳn được xem là rất huy hoàng, rất hứa hẹn cho một tương lai sáng choang cho nền kinh tế Mỹ. Hỡi ơi, thực tế đã quá phũ phàng , cái thị truờng khổng lồ tưởng là béo bở ấy, trớ trêu thay, nhờ chính Mỹ, lại trở thành kẻ đối đầu chính của Mỹ ngày nay trong mọi địa hạt, kể cả địa hạt tin tặc và ăn cắp các phát minh khoa học, khỏi tốn công tìm tòi, nghiên cứu. Các hãng Mỹ, sau một thời gian dài vừa đủ cho dân bản xứ Tàu nắm được hết các bí mật kỹ thuật của mình, lại đang lục tục kéo nhau trở về với xứ Mỹ để tắm ao ta vậy. Nhưng nhìn ra được điều này thì e rằng đã hơi muộn rồi chăng? Con cọp tham lam đói mồi đã được đánh thức và nuôi béo, đã có móng có vuốt và chẳng còn có cái cũi nào kìm hãm, giữ chân được nữa!.

Nếu xưa kia Mỹ không bỏ Miền Nam, thì Việt Nam với bao nhiêu con ngưòi như Dương Nguyệt Ánh, như Vũ Khoa.., nước Việt Nam ngày hôm nay có khác chi Nam Hàn, có khác chi Nhật Bản? Và cục diện Châu Á Thái Bình Dương chắc chắn sẽ khác xa cái cục diện đang thấy. Phía Bắc có Nam Hàn, phía Nam có Việt Nam, bên hông có Nhật Bản, ba “cường quốc Á châu” trấn ải, cộng thêm Đài Loan, Phi Luật Tân, Nam Dương làm thành một vòng đai bao vây, sức nào Trung Cộng dám bành trướng thế lực, dương oai diễn võ với đường lưỡi trâu lưỡi bò như hiện nay ? Nixon với Kiss và cái kế hoạch tồi tệ, giết đồng minh bắt tay kẻ thù ấy đã có kết quả nhãn tiền, đúng như ông bà ta vẫn nói, gieo hạt nào thì ăn quả đó! Nhưng, riêng đối với Việt Nam, em thấy trong tận cùng bi thảm đã nhận, cũng có một điều may mắn nhỏ nhoi, là chủ nghĩa Cộng sản đã thực sự và bất ngờ chết ngắc từ ngày 30/4/75 khi cả miền Bắc nhìn thấy miền Nam và những “bà má liệt sĩ” miền Nam nhìn thấy đám cán bộ miền Bắc! Và cả những khuôn mặt phản chiến nổi tiếng khắp nước Mỹ cũng biến đâu mất tiêu, im hơi lặng tiếng khi cả thế giới nhìn thấy người dân Việt Nam, không phải chỉ ở miền Nam mà từ cả miền Bắc Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao nhiêu năm, đã bỏ phiếu bằng chính sinh mạng mình, gia đình mình, con cái mình trên những con thuyển mong manh giữa biển cả mênh mông sóng to gió lớn,…

Em vẫn có một niềm tin là rồi Việt Nam sẽ trở lại với chính mình để thành một con rồng Châu Á như Nam Hàn, như Nhật Bản, khi cơn hồng thủy này đã qua đi. Hạt lúa phải nát đi mới trổ thành cây lúa mới. Ngày 30/4 là ngày tang của miền Nam, nhưng khi miền Nam chết, bộ mặt thật của Cộng sản với những tuyên truyền dối trá đã rơi rụng và phô bày trần trụi trước mắt toàn dân và cả thế giới, để hai chữ cộng sản chẳng còn một chỗ đứng nào trong lòng toàn dân Việt. Ngày tang 30/4 bao nhiêu người đã gục xuống, nhưng bao nhiêu người cũng đã thoát đi được ra ngoài thế giới bao la để hấp thụ những tinh hoa tứ xứ. Khi Việt Nam trở lại với chính mình, những Dương Nguyệt Ánh, Vũ Khoa hải ngoại và những Vũ Khoa còn trong nước sẽ góp sức để làm nên một Việt Nam phú cường, là vương kiếm trấn phương Nam của vành đai Châu Á ngăn cản “ giấc mơ Đại Hán” của bá quyền Trung Cộng.

Và biết đâu, ngay cả trong chính lòng đất nước Trung cộng, cũng sẽ có một cuộc đổi thay? Chẳng lẽ một đất nước có hằng ngàn năm lịch sử, có những nhà tư tưởng bậc thầy, lại lú lẫn cúi đầu mãi mãi dưới sự cai trị của đám con cháu Mao Trạch Đông hay sao?

Ngu Lắm Cơ

This entry was posted in ***Mùa QUỐC HẬN, Bình-luận - Quan-điểm, Văn Hoá Vụ - Trường Võ Bị Đà Lạt, Đa Hiệu. Bookmark the permalink.

1 Response to THÁNG TƯ ĐEN (Ngu Lắm Cơ)

  1. queadrian says:

    Very well written, Ngu Lắm Cơ 🌹❤

    Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s