TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG và TỔNG HỢP ở SÀIGÒN-CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH trước năm 1975 (8…11)

Trường trung học phổ thông & tổng hợp ở Sàigòn-Chợ Lớn(TM tổng hợp và bổ túc)

8-Trường Des filles Françaises
(Institution municipale de filles à Saigon)
Số 7 (số 3 ?), đường Nguyễn Bỉnh Khiêm-Quận 1- Sàigòn

Theo tài liệu [1,2] : Trường Des filles Françaises được thành lập vào năm 1910, từ một ngôi trường đã có sẵn từ những năm trước 1861 nhưng ngừng hoạt động vào năm 1894. Ngôi trường ấy có tên là Collège d’Adran tọa lạc ở số 7 (số 3?) trên đường Tây Ninh về sau là Armand Rousseau rồi Dr Angier và sau vào thời Việt Nam Cộng Hòa là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngó sang một khu đất mà đến năm 1864 Thảo Cầm Viên (Jardin Botanique) Sàigòn mới được xây dựng. (Xem thêm chi tiết trong bài Collège d’Adran của cùng tác giả).

Tên trường ghi trong tài liệu [1] ” Des filles Françaises” quá ngắn gọn nên trường này có thể có một tên chính thức khác.

Trước nhất, bản đồ Saigon 1896 có ghi ở khu vực nơi trường Des filles Françaises tọa lạc, có một ngôi trường tên là Institution des filles (đánh dấu bằng mũi tên màu đỏ).


Plan (bản đồ) Saigon 1896

Thứ hai, theo tài liệu [3] viết về Hiện trạng của Đông Dương Pháp vào năm 1896 và in vào năm 1899, có một ngôi trường tên là trường Institution municipale de Saigon (filles). Trường này chỉ dành riêng cho nữ sinh và được giảng dạy bởi các cô giáo thế tục (Lương) (laïque). Trường này nhận học sinh ngoại trú, bán nội trú và nội trú, và được trợ cấp bởi ngân quỹ địa phương hay bởi những học bổng. Căn cứ vào năm viết của tài liệu, thì trường Institution municipale de Saigon (filles) phải có mặt từ những năm trước 1896.

Bảng dưới đây trích từ tài liệu [3], cho thấy vào khoảng năm này, trường này có 10 giáo viên người Pháp và 95 học sinh (gạch dưới màu đỏ).

Sau cùng,theo tài liệu [4] , kế cận Clinique Angier (dưỡng đường Angier) thành lập bởi bác sĩ H. Angier (1862-1936) vào năm 1908 ở số 1 đường Tây Ninh có một ngôi trường tên gọi là Institution municipale de filles à Saigon,sau là trường nữ trung học Trưng Vương.( Chi tiết về Clinique Angier trong Phụ đề 1).

Trường Des filles Françaises như đã trình bày ở trên, tọa lạc ở số 7 (hay 3) cùng đường với Clinique Angier ở số 1. Như vậy, trường Des filles Françaises này và Institution municipale de filles à Saigon phải là một.

Từ những dữ kiện trên, người ta rút ra hai điểm sau đây:

1.Tên chính thức của trường “Des filles Françaises” chắc chắn phải là Institution municipale de Saigon (filles) hoặc là Institution municipale de filles à Saigon.

2.Trường Institution municipale de filles à Saigon có thể đã hiện hữu từ những năm trước 1896, chỉ 2 năm sau khi trường Collège d’Adran ngừng hoạt động (năm 1894), trong khi đó ,theo tài liệu [1,2] phải đợi tới năm 1910 mới có trường Des filles Françaises.

(Phụ chú :Theo bản đồ Saigon 1896 và 1900, hai đường bên hông trường Institution municipale de filles à Saigon là đường Tabert (sau là Lucien Mossard, rồi sau là Nguyễn Du) và đường Rue de Shang-Hai (sau là Palanca, rồi là đường Nguyễn Trung Ngạn).

Đường Nguyễn Trung Ngạn đối diện với École de Sainte Enfance thuộc dòng tu Saint Paul – năm chưa xác định được

Ngả ba Cường Để – Nguyễn Du
trước năm 1975

Sau lưng trường Institution municipale de filles à Saigon là đại chủng viện của Hội Thừa Sai ( Grand séminaire des Missions) nằm trên boulevard de la Citadelle (sau là boulevard Luro, rồi là đại lộ Cường Để).

Bên kia đường Cường Để là Couvents des Carmélites – Đan viện Cát Minh (Chi tiết được trình bày trong Phụ đề 2).

Theo tài liệu [2] : Năm 1922, trường Des filles Françaises đổi thành trường École Normale d’Instituteurs, chuyên đào tạo thầy cô giáo bậc sơ học và tiểu học. (Xem thêm chi tiết trong bài École Normale d’instituteurs của cùng tác giả).

Phụ đề 1- Clinique Angier ( Dưỡng đường Angier)

Đoạn văn dưới đây về Clinique Angier ( Dưỡng đường Angier) được trích từ tài liệu [4].

“Hiện nay hiếm có tài liệu nói rõ về bệnh viện này trừ vài dòng ngắn ngũi và một vài hình ảnh trên mạng. Vị trí của bệnh viện này trên bản đồ Sàigòn những năm 1900 đến 1928, là số 1 đường Tây Ninh, rồi là Armand Rousseau rồi đến Dr Angier và cuối cùng là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm (góc với đường Lê Thánh Tôn) thuộc quận nhất, Sàigòn. Bệnh viện như vậy theo tôi (tác giả tài liệu [4]) nằm đâu lưng với tu viện Saint Paul và kế cận trường Institution municipale de filles à Saigon sau là trường nữ trung học Trưng Vương. (Theo tài liệu [5] : Dưỡng đường Angier nằm ở góc đường Nguyễn Bỉnh Khiêm-đường Lê Thánh Tôn).

Sau vụ trục xuất các nữ tu dòng Saint Paul de Chartres (Thánh Phaolô thành Chartres) ra khỏi bệnh viện Sàigòn, bác sĩ H. Angier (1862- 1936) đã tập hợp các nữ tu và thành lập bệnh viện Angier vào năm 1908 và hoạt động cho đến năm 1939 nhờ vào sự khéo léo điều hành của ông và sự trợ giúp nhiệt tình của các các nữ tu dòng Saint Paul de Chartres. Về sau các nữ tu dòng này quyết định thành lập bệnh viện Saint Paul tại đường Legrand de la Liraye (Phan Thanh Giản) vào năm 1936-1937 thay thế cho bệnh viện Angier. (Xem thêm chi tiết trong bài Bệnh Viện Saint-Paul của cùng tác giả).

Trong thời gian hoạt động, bệnh viện Angier đã điều trị cho những nhân vật nổi tiếng như : Giám mục Ðại Diện Tông Tòa Victor Charles Quinton, Marie Félix Charles de Gorostarzu Giám mục Ðại Diện Tông Tòa Vân Nam”.

Hai hình dưới đây được trích từ tài liệu [6].

Không ảnh bệnh viện Angier
(năm chụp ảnh chưa xác định được)
Trường Institution municipale de filles à Saigon
nằm ở góc trên cao phía trái hình.

Cổng vào bệnh viện Angier
đường Tây Ninh (Armand Rousseau, Dr Angier
và cuối cùng là Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Phụ đề 2-Couvents des Carmélites (Nhà tu Carmel- Đan viện Cát Minh)

Nhà tu Carmel Sàigòn có tên Việt là Đan viện Cát Minh, cũng gọi là Nhà Kín Sàigòn tọa lạc ở đường Cường Để, ngang Chủng viện, quận Nhất, Sàigòn. Đây là đan viện Cát Minh dành cho nữ tu sĩ (Carmélites) đầu tiên ở vùng Viễn Đông thành lập bởi Dòng Cát Minh Lisieux xứ Pháp khánh thành vào năm 1876.

SAIGON – LE CARMEL – vue prise du boulevard.
Hình trên là lối vào Nhà nguyện của đan viện Cát Minh
trên đường Cường Để
(năm chưa xác định được)

Lối vào đan viện Cát Minh và Nhà Nguyện Sàigòn
(năm chưa xác định được)

Theo tài liệu [7] : Đan viện Cát Minh Sàigòn mang phong cách kiến trúc của các tu viện ở Pháp với các dãy nhà hướng mặt vào sân trong, kết hợp với khu vườn kín để sinh hoạt nội bộ và tách biệt với bên ngoài. Nhà nguyện bên trong đan viện được thiết kế với các yếu tố kiến trúc Việt Nam, cung thánh với hình cổng tam quan, mái ngói cong và các chữ Hán.

Trước khi trình bày những chi tiết về dòng từ Cát Minh Sàigòn, xin sơ lược lịch sử nguồn gốc xuất xứ của dòng tu Cát Minh từ thưở ban đầu.

Theo tài liệu [8] : Dòng Cát Minh (Ordre du Carme-OC) là một dòng đạo Thiên Chúa trầm ngâm chiêm nghiệm. Những thành viên nam được gọi là Carmesa, thành viên nữ là Carmélite. Đức Cha tinh thần của dòng là nhà tiên tri Élie. Dòng Cát Minh được thành lập trên núi Carmel ở Palestine bởi những ẩn sĩ , ẩn mình xa cách trần tục vào cuối thế kỷ 12. Vào đầu thế kỷ 13 , những ẩn sĩ Cát Minh này bắt đầu rời bỏ nơi trú ẩn của họ để ty nạn ở Âu Châu. Qua nhiều khổ cực, dòng khổ hạnh này trở thành dòng tu sĩ. Sau đó,dòng tu này đã được cải cách nhiều lần. Trong số những cải cách này, cải cách quan trọng và sâu xa là cải cách thiết lập bởi Thérèse d’Avila cùng với sự cộng tác của Thánh Gio-an Thánh Giá, vào thế kỷ 16, để lấy lại luật nguyên thủy.Ngày 24 tháng 8 năm 1562, Thérèse d’Avila đã thành lập Đan viện Cát Minh cải cách đầu tiên tại thành Avila.

Theo tài liệu [9] : Thérèse d’Avila (tên đạo là Teresa de Jesús) là một nữ tu người Tây Ban Nha sinh ngày 28 tháng 3 năm 1515 ở Gotarrendura (Vieille-Castille), qua đời ngày 4 tháng 10 năm 1582 ở Alba de Tormes. Thérèse d’Avila được phong Thánh vào năm 1622 và ngày lễ chính thức được ấn định là ngày 15 tháng 10. Năm 1760, thi hài của Thérèse d’Avila được yên nghỉ trong một nấm mồ bằng cẩm thạch trong nhà thờ của tu viện Alba de Tormes.

Vào thế kỷ 20, Thérèse d’Avila được công bố với tước vị Tiến Sĩ của Nhà Thờ Công Giáo. Bà là người đàn bà đầu tiên có chức danh này.

Từ những suy nghĩ ban đầu là trở về gần nhất với những điều lệ của núi Carmel,Thérèse d’Avila đã quyết định cải cách dòng tu để trở lại với sự khắc khổ nghèo khó và cô lập cách ly , đó là một phần trí tuệ của dòng Cát Minh chân chính.

Với lời ước nguyện nghèo khổ, các tu sĩ nam và tu sĩ nữ Cát Minh từ bỏ tất cả những tài sản cá nhân cũng như tài sản thuộc về cộng đồng. Các nữ tu sĩ không mang giày, tự đó ra chữ cởi giày-déchaussés, chỉ mang dép và vớ dầy. Các nữ tu sĩ trung thành với cải cách, ngủ trên nệm rơm, mang giày xăng đan bằng da hay bằng gỗ (mang dép?), dành 8 tháng trong năm để nhịn ăn nghiêm khắc và hoàn toàn không ăn thịt.

Một sự thay đổi quan trọng khác là ra vào tu viện phải được hoàn toàn lưu tâm kiểm soát. Tất cả những thăm viếng bị giới hạn và chỉ được diễn ra trong phòng khách riêng sau những hàng rào sắt hay có sự hiện diện của các nữ tu. Việc ra bên ngoài tu viện không có dự trù trong điều luật của dòng tu.

Sau cùng ,Thérèse d’Avila giới hạn số nữ tu sĩ trong mỗi tu viện, ngõ hầu có thể bảo đảm được sự yên lặng và sự tĩnh tâm, sự nhập định trong tu viện và cùng lúc bảo vệ đời sống tu hành của các nữ tu sĩ.

(Chú thích : Có thể vì do những điều lệ nghiêm khắc trên và do sự hiện diện của những cổng kín ,tường cao bao bọc đan viện, người Việt còn gọi Dòng Cát Minh là Dòng Kín hay Nhà Kín).

Theo tài liệu [10] : Trên thực tế, chữ “Dòng Kín” được dành riêng cho một hình thức tu trì của nữ giới. Tỉ lệ các Dòng kín trong tổng số các Dòng tu không cao lắm. Lý do không có gì khó hiểu: nếp sống của họ không khác chế độ nhà tù là mấy, rất ít khi họ đi ra ngoài.

Vào thế kỷ XIII có hai sự kiện quan trọng. Thứ nhất, các nữ tu thánh Clara hứa tuân giữ nếp sống nội cấm, nghĩa là không bước ra khỏi tu viện. Đây là khởi điểm của Dòng kín theo nghĩa nghiêm ngặt . Thứ hai, sắc chiếu (bulla Periculoso) của Đức Giáo Hoàng Bonifaxiô VIII năm 1298 mở rộng tầm áp dụng nội cấm cho hết các nữ tu. Sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài bị giới hạn.

Nội cấm vừa hạn chế sự đi ra ngoài của các nữ tu vừa hạn chế sự đi vào trong tu viện của nam giới dù là giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, họ hàng.Nội cấm cũng mang tính cách huyền nhiệm, biểu hiệu của sự xa cách nếp sống xô bồ thế tục, nhằm tạo ra một khung cảnh sa mạc tĩnh mịch thiêng liêng, giúp cho đời sống chiêm niệm. Các nữ tu ở trong nhà dòng chỉ lo việc thờ phượng Chúa. Những công chuyện mua bán thương mại đòi hỏi sự giao dịch với người đời được giao cho những người giúp việc. Vì thế mà các Dòng nữ chọn lựa kỷ luật nội cấm chặt chẽ (nói nôm na là Dòng kín) cũng được gọi là Dòng chiêm niệm, tuy vẫn biết rằng có nhiều dòng chiêm niệm mà không phải là Dòng kín.

Do nhiều hoàn cảnh chính trị xã hội tại Âu châu từ thế kỷ 18-19, đứng trước những thảm cảnh xã hội như các trẻ em mồ côi, các thiếu nữ thất học, các bệnh nhân thiếu người chăm sóc, nhiều giám mục, linh mục và chính các phụ nữ đã thành lập các hội dòng chuyên về những công tác cứu tế, giáo dục, bác ái. Các hội dòng này được giáo luật nhìn nhận như là nữ tu với hiến chế Conditae a Christo ngày 8 tháng 12 năm 1900 của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII. Từ đó, chúng ta thấy có hai nếp sống tu trì của các Dòng nữ: Dòng sống trong nội cấm và Dòng không nội cấm.

Vào khoảng năm 1559 ,sắc lệnh của Giáo Hoàng Pie IV để xây tu viện Saint Joseph đã được dòng sư huynh García de Toledo trao lại cho Thérèse d’Avila.Tu viện đã được khánh thành ngày 24 tháng 8 năm 1562. Theo Thérèse d’Avila,tu viện này rất thích hợp cho việc tu hành của các tu sĩ trung thành với truyền thống Cát Minh. Bốn tín đồ mới vào tu Dòng Cát Mình không mang giày của Saint Joseph (Carmélites déchaussées de Saint-Joseph) dọn vào tu viện mới.

Năm 1585 , chỉ ba năm sau khi nữ tu Thérèse d’Avila qua đời, những cải cách mà nữ tu này thúc đẩy trong Dòng Cát Minh Tây Ban Nha, đã tạo ra một nhánh độc lập với dòng Cát Minh: đó là Dòng Ordre Carmes déchaux – Cát Minh chân trần, vì lý do những người tu sĩ của dòng mới này đi chân không (đi xăng đan) hay Cát Minh Tê-rê-xa, để phân biệt với dòng Cát Minh giảm chế hoặc Cát Minh lớn ( OC).

Theo tài liệu [8] : Ngày nay, có hai nhánh: Nhánh Grands Carmes không theo cải cách của Thánh Thérèse d’Avila và một nhánh Carmes déchaux đi theo cải cách.

Những tu sĩ nữ Carmélites được gọi là Dòng thứ hai của dòng Cát Minh vì lý do dòng của họ được thành lập sau dòng Carmes.

Theo tài liệu [9] : Nhánh dòng Cát Minh mới này mở rộng ra mau lẹ toàn khắp Âu Châu sau đó là thế giới. Số người tu cải cách vượt qua một cách mau chóng số người tu không cải cách.

Năm 1604: Dòng Cát Minh Cải cách được thành lập ở Pháp.

Dưới đây là sơ lược lịch sử của Dòng Cát Minh Lisieux- Pháp, tổ chức đã sáng lập ra Dòng Cát Minh Sàigòn.

Theo tài liệu [11] : Dòng Cát Minh Lisieux thuộc Dòng Cát Minh được thành lập vào năm 1838 bởi thầy dòng Pierre Sauvage ở thành phố Lisieux xứ Pháp. Mặt khác, theo tài liệu-Histoire du Carmel de Lisieux : Năm 1838 theo lời yêu cầu của thầy dòng Pierre Sauvage, linh mục của Lisieux , các Carmélites của Poitiers đã thành lập Dòng Cát Minh Lisieux.

Các nữ tu sáng lập viên ra Dòng Cát Minh Lisieux là : Mẹ chấp chưởng (?) (mère prieure) Élisabeth de St-Louis, Sơ Geneviève de Ste-Thérèse, Sơ Thérèse de St-Joseph (Athalie Gosselin), Sơ Marie de la Croix (Désirée Gosselin) và Sơ St-Jean de la Croix (postulante de Lisieux). Mẹ Élisabeth de St-Louis là Mẹ chấp chưởng (mère prieure) đầu tiên của dòng Cát Minh ngay năm đầu thành lập Dòng Cát Minh Lisieux (1838 – cho đến năm ? ,sau đó là Sơ Geneviève de Ste-Thérèse (năm ?-1893).

Vào lúc 4 giờ sáng ngày 15 tháng 3 năm 1838, trong sự im lặng và trong bóng tối êm ả, Dòng Cát Minh Lisieux đã được sinh ra. Nhưng mãi đến năm 1852, nhà Nguyện mới hoàn thành.

Chính ở tu viện này, Sơ Thérèse de l’Enfant-Jésus et de la Sainte-Face (Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu (1873-1897)), nữ tu sĩ Dòng Ordre Carmes déchaux- Cát Minh chân trần, đã vào tu từ năm 1888 cho tới lúc qua đời năm 1897,hưởng dương 24 tuổi . Sơ được phong Thánh vào năm 1925 với tên thánhThérèse de Lisieux.

Theo tài liệu [12] : Sơ Thérèse de l’Enfant-Jésus et de la Sainte-Face tên thật là Françoise Marie Thérèse Martin sinh ngày 2 tháng 1 năm 1873 ở Alenço, Orne, xứ Pháp. Năm 1888, Thérèse Martin vào tu viện Lisieux ở tuổi 15. Trước đó, hai người chị của Sơ đã vào tu ở đây : Pauline (năm 1882) và Marie (năm 1886). Thérèse Martin trở thành Carmélite danh tiếng của tu viện.Năm 1894, một người khác trong gia đình Martin tên là Céline đi theo tiếp ba người chị vào tu ở đây. Đây là lần thứ nhất trong lịch sử của dòng Cát Minh, một tu viện đón nhận 4 chị em cùng một gia đình.

Mẹ bề trên , Geneviève de Sainte Thérèse, khi Sơ Françoise Marie Thérèse Martin vào tu ở dòng, có một ảnh hướng to lớn trên vị Thánh tương lai này.

Theo tài liệu [7,13] : Dự án thành lập dòng Cát Minh (Carmel) đã nẩy mầm vào tháng 5 năm 1846 trong ý nghĩ của một tù nhân bị kết án tử hình, đó là Đức Cha Dominique Lefèbvre. Cha bị cầm tù và bị tuyên án tử hình ở Huế lần thứ nhứt khi Cha được phong làm giám mục phụ tá cho Cha Cuénot. Cha Lefèbvre bị cầm tù lần thứ hai khi Cha được bổ làm Đại diện Tông Tòa (vicaire apostolique) của miền Tây Đông Dương vừa mới được lập ra.

Trong lúc bị cầm tù, Cha nhận được một tín hiệu thần bí từ Thánh Thérèse d’Avila : “Thành lập dòng Carmel (Đan Minh) ở An Nam: Chúa sẽ không ngừng được phụng sự và vinh quang vĩ đại rộng rãi”.

Năm 1849, ngay sau khi ra tù, Cha Lefèbvre đã liên lạc với dòng Carmel de Lisieux, một trong những em bà con của ông là Sơ Philomène tu ở đây. Ông đã đề nghị các Sơ lập một công đồng tu ở Sàigòn.

Sơ Philomène
người sáng lập ra
dòng Cát Minh Saigon

Theo tài liệu [7], Mẹ chấp chưởng, Geneviève de Sainte Thérèse, bề trên của nhà dòng tại Lisieux, đã sai nữ tu Philomène de l’Immaculée Conception, viết thư hồi âm cho giám mục Lefèbvre để bày tỏ sự tán đồng, nhưng cần phải đợi cho việc bách hại công giáo tạm lắng tại đất An Nam.Mười năm sau, Mẹ chấp chưởng mới giao trọng trách này cho Sơ Philomène và ba Sơ đồng hành : Marie Baptiste, Emmanuel và Saint Xavier.

Tài liệu [14] viết rằng : Có tới 86 Sơ Carmel Pháp với khả năng và phương tiện của họ, của ít lòng nhiều, đã giúp đỡ các Sơ thực hiện cuộc hành trình truyền giáo ở miền Viễn Đông. Ngoài ra, chính phủ Pháp cho phép chuyên chở miễn phí bốn Sơ này và 17 thùng hành lý và vật liệu trên một tàu của chính phủ.

Ra đi tháng 7 năm 1861, sau cuộc hành trình này kéo dài 100 ngày, các Sơ này tới Việt Nam vào tháng 10. Theo tài liệu [5] thì bốn nữ tu sĩ đến Sàigòn vào ngày 3 tháng 10 năm 1861. Một tài liệu khác [15] viết rằng : Khởi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 1861, và sau hành trình ba tháng trên biển, vào ngày 9 tháng 10 năm 1861, bốn nữ tu sĩ này đã cập bến Sàigòn.

Cha Lefèbvre vui mừng đón các Sơ này trong một ký túc xá mới, đó là một cái chòi rộng ngăn làm đôi bởi một hành lang; Một bên là dòng Cát Minh, bên kia là dòng Saint Vincent de Paul. Các Sơ Saint Paul đã tới trước các Sơ Cát Minh vài tháng. Hàng rào phân chia là hàng rào cọ tìm thấy trong chòi.

Không có gì sửa soạn cho các Sơ trước những điều kiện sinh sống: Hàng rào sinh ngữ, nhiệt độ nóng ngạt thở, chế độ ăn uống, súc vật và côn trùng xuất hiện bất cứ lúc nào và nơi ở dơ bẩn. Sinh sống và tu hành trong một cái chòi dùng để làm nhà tu tạm thời lúc ban đầu rất là khó khăn. Không có gì là ngạc nhiên, chỉ dưới ba tháng sau, hai nữ tu Emmanuel và Marie Baptiste đã trở về Pháp vì lý do sức khoẻ và cũng vì nản lòng.

Mặc dầu vậy, cộng đồng bắt đầu hình thành mở rộng.Những người Việt Nam đầu tiên xin đi tu đã bắt đầu theo học các lớp đào tạo.

Để cho sự phát triển lâu dài, vấn đề cơ sở vật chất cũng như nơi chốn cầu nguyện, chổ ăn, ở và sinh hoạt là vấn đề mà các Đấng sáng lập phải đặc biệt quan tâm. Vì những vấn đề cơ bản này, Đức cha Dominique và Mẹ Philomène đã thỉnh cầu vị đại diện chính quyền thuộc địa, Chuẩn Đô đốc Léonard Charner, xin được cấp đất làm cơ sở cho Dòng Kín. Lời thỉnh cầu đã được ông Charner chấp thuận.

Khi đã nhận được khu đất mà hiện nay là cơ sở của đan viện Cát Minh , bước đầu, Mẹ Philomène chỉ dám mơ ước dựng lên vài cái nhà bằng lá để làm nơi cư trú cho cộng đoàn nhỏ bé của Mẹ mà thôi. Dù vậy, chỉ với ước mơ nhỏ bé, nhưng tiền bạc là một vấn đề lớn. Mặc dù, cho đến lúc này, cha Yves Marie Croc, người thay cha Jean Marie Poret làm tuyên úy cho dòng Kín, dù hết sức quan tâm, nhưng vẫn chưa thể tiến hành công việc xây dựng cơ sở cho đan viện Cát Minh Sàigòn.

Bằng tất cả sự tận tụy, cha Yves Marie Croc đã thỉnh ý Đô đốc Louis Bonard xin giúp đỡ cho việc xây dựng đan viện Cát Minh Sàigòn. Ông Bonard đồng ý sẽ giúp xây dựng nhà cho các nữ tu Cát Minh, tuy nhiên, đó chỉ mới là lời hứa. Bởi vì vào thời điểm này, triều đình Pháp ra lệnh, yêu cầu các bộ ngành phải giảm thiểu những chi phí nhà nước cho các vùng thuộc địa, nên cuối cùng dự án đã không thể thực hiện được.

Khi ấy, cha Jean Claude Roy, một thừa sai thuộc Địa phận Đông Đàng Trong, đang trú ngụ tại Singapore được Đức cha Dominique Lefèbvre gởi đến Sàigòn giúp đỡ cho công việc truyền giáo vì tại đây số các thừa sai quá ít.Vâng lời Đức cha, nhưng dường như, cha Roy cảm thấy không vui vì e rằng, tại Sàigòn, ngài phải giúp công việc tuyên úy cho Dòng Kín, bởi vì cách ba tháng trước đây, cha Roy đã gặp bốn nữ tu Cát Minh khi tàu quá cảnh ở Singapore chờ nhổ neo đi Sàigòn. Hơn nữa, cha Roy cũng đã gặp lại hai nữ tu: Emmanuel và Marie Baptiste quay trở về Pháp, ngài được nghe nói rằng: “Sàigòn không thể sống được”.

Mặc dầu vậy vào tháng 2 năm 1862,Đức cha Dominique Lefèbvre đã giao cho cha Roy nhiệm vụ giúp Dòng Kín trọng trách xây một đan viện Cát Minh mới.

Sáng sớm hôm sau, cha đến dâng Thánh lễ đầu tiên cho các nữ tu Cát Minh. Sau Thánh lễ, Mẹ Philomène xin gặp chào thăm cha tuyên úy mới tại nhà khách. Trong cuộc gặp thăm, lúc đầu, bầu khí có vẻ nặng nề, thậm chí là lạnh nhạt.Cha Roy đặt vấn đề với Mẹ Philomène rằng: tại sao Mẹ và các chị em không ở lại nước Pháp cho tốt hơn mà lại đi đến xứ sở rừng thiêng nước độc, xa xôi hẻo lánh này.

Tuy vậy trước đức tin mãnh liệt của Mẹ Philomène để lập dòng Cát Minh , cha Roy đã đổi ý kiến và ngay ngày hôm sau, cha đã bắt tay vào công việc xây dựng đan viện.

Vào thời điểm ấy, tường thành Bát Quái cũng gọi là thành Quy đang bị phá rỡ.

(Chú thích: Thành Quy đã bị phá vào năm 1835 bởi lịnh của Vua Minh Mạng. Vậy thì đây là Thành Phụng mà Pháp gọi là Citadelle de Saigon. Năm 1859, thành Phụng bị Pháp lấy và san thành bình địa).

Cha Roy xin phép lấy 70000 cục gạch cũ , 40000 viên ngói và 400 tảng đá đẹp rồi tìm mua cây gỗ và ngói để dựng nhà. Cha Roy làm kiến trúc sư công trình xây dựng. Ngài hết lòng với công việc này. Hằng ngày, cha hiện diện để kiểm tra thợ làm việc và chính cha cũng làm thợ nề cầm bay, búa, đục đẻo để cùng làm việc và hướng dẫn thợ hồ xây gạch và công nhân bản xứ mà ông chỉ huy.

Không thể kể cho hết những việc cha Roy đã làm, công sức, sự tận tâm lo lắng cho công việc xây dựng đan viện Cát Minh Sàigòn. Dù rất tiết kiệm, nhưng chẳng bao lâu, 1800 quan Pháp nhận từ tiền để dành của Mẹ Philomène đã hết sạch. Cha Roy đã sẵn sàng cho mượn cả tiền lương của ngài để cho việc xây dựng được tiếp tục.

Về phần mình, Mẹ Philomène đã thức thâu đêm để viết thư cho các Nhà Kín bên Pháp, Mẹ trình bày sự thiếu hụt của đan viện Sàigòn và xin sự trợ giúp. Với tinh thần tương thân tương ái, các đan viện Cát Minh Pháp đã hết lòng giúp đỡ. Nhờ số tiền trợ giúp ấy, Mẹ Philomène gởi lại số tiền lương mà cha Roy đã bỏ ra cho công việc, nhưng ngài chỉ giữ lấy một ít cho nhu cầu chi phí cá nhân.

Ba tháng sau, nhà tu đã được xây xong vào tháng 5 năm 1862 ở địa điểm hiện nay và vào ngày 27 tháng 6 năm 1862, dòng Cát Minh Sàigòn được thiết lập đúng quy tắc giáo hội. Tháng 6 năm này, cộng đồng Cát Minh gồm có 2 nữ tu người Pháp và 5 người Việt Nam xin đi tu dọn vào ở.

Bên cạnh những trách nhiệm trông coi công việc xây dựng đan viện Cát Minh Sàigòn, Cha thừa sai Roy còn đào tạo những người Việt xin đi tu nhưng không biết tiếng Pháp và tiếng La Tinh, ngôn ngữ rất cần thiết cho việc tế lễ. Cha cũng khai tâm các người Việt này để bắt đầu đời sống dòng Cát Minh. Ngày 1 tháng 10 năm 1862, có tất cả 7 người Việt.

Khi ấy, gần đến mùa mưa, việc dời nhà Cát Minh từ chổ ở tạm ban đầu đến cơ sở đang được xây dựng là công việc cấp thiết, bởi vì ngôi nhà cũ do Đức cha Dominique Lefèbvre đã chuẩn bị cho các nữ tu Cát Minh ngày xưa, là một nơi rất ẩm thấp, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của các nữ tu, nhất là vào mùa mưa. Tuy nhiên, phải đợi thêm một ít thời gian để ổn định chổ ở mới cho cả cộng đoàn.

Ngày 25 tháng 6 năm 1862, việc dọn nhà hoàn tất.Mẹ Benjamin, Bề Trên Dòng Thánh Phaolô tỏ ra rất quý mến các nữ tu Dòng Cát Minh, Mẹ đưa xe đến đón các nữ tu Cát Minh. Mẹ Philomère và Mẹ Xavier ngồi trong xe, năm chị đệ tử đi bộ theo. Dọc đường, Mẹ Benjamin mời mọi người viếng thăm nhà nuôi trẻ mồ côi của các nữ tu Dòng Thánh Phaolô. Tại đây, Mẹ Benjamin dọn bữa trưa thiết đãi mọi người. (Xem thêm chi tiết về dòng Saint Paul – Sàigòn trong bài Trường Saint Paul của cùng tác giả). Sau đó, cha Jean Claude Roy đưa mọi người đến nhà mới. Buổi tối đầu tiên khi đến ở tại nơi ở mới, các nữ tu Cát Minh phải chịu nhịn đói, vì chưa thể chuẩn bị nhà bếp để nấu nướng cho bữa ăn đầu tiên. Dù vậy, niềm vui và hạnh phúc được ở trong ngôi nhà mới, được nhập vào khu nội cấm thật sự, các nữ tu không còn cảm thấy cần sự gì khác, nên thiếu một bữa ăn không làm bận tâm mọi người. Đó là sự khởi đầu cho cuộc sống tại cư sở mới.

Vào thời điểm này, diện tích của phần đất thuộc Dòng Kín được xây tường bao quanh là năm chục mét vuông, phần còn lại thì vẫn bị bỏ trống, nhưng được vây quanh bởi hàng rào tre và có một căn nhà nhỏ cho người giúp việc trông coi đất.

Ngay khi đến định cư tại nơi ở mới, các nữ tu Cát Minh nhanh chóng lo sắp đặt và chuẩn bị cho Thánh lễ trọng thể để đón nhận cơ sở chính thức. Nhà nguyện bên ngoài và ngay cả trong Chôrô vẫn chưa được lót gạch, các nữ tu Cát Minh phải tìm một tấm thảm trải trên nền đất để đón Đức cha và các cha đồng tế thánh lễ.

Vào ngày lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, đức cha Dominique Lefèbvre làm chủ Thánh lễ cùng với cha Wibaux và cha Puginier. Hôm ấy Đức cha Gauthier từ địa phận Nam Đàng Ngoài vì cơn bách hại đã tạm lánh vào Sàigòn cũng đến tham dự cùng với các cha thừa sai ở vùng lân cận Sàigòn. Mẹ Benjamin và các nữ tu dòng thánh Saint Paul cũng đến tham dự Thánh lễ. Một vị quan lớn là ông Génie, nhiều sĩ quan quân đội Pháp và Tây ban Nha cũng đến tham dự Thánh lễ. Trong bài giảng Thánh lễ, Đức cha Lefèbvre nhấn mạnh rằng: “Việc thiết lập Dòng Kín tại xứ truyền giáo là một việc có thể làm được, rất cần thiết và phù hợp”. Vào buổi chiều, người ta chầu Phép lành Mình Thánh Chúa cách trọng thể. Ngày hôm ấy, Mẹ Philomène và các Nữ tu Cát minh hết sức vui mừng, một cuộc sống mới đang từng bước được ổn định.

Tuy nhiên, cho dù đã có được nơi ở ổn định, những vẫn còn nhiều thiếu thốn và nhiều khó khăn. Khi ấy, đang là giữa mùa mưa, nhà cửa vẫn còn rất thô sơ, khắp nơi đầy dẫy những đất cát, sình lầy. Nhiều lần đi qua nhà cơm, gặp mưa gió và sình lầy, có người bị trượt té làm cho tu phục dính đầy bùn bẩn và ướt đẩm trông thật đáng thương.

Tuần đầu tiên đến sống tại nhà mới, việc không có thánh lễ mỗi ngày là một bất hạnh lớn cho các nữ tu Cát Minh, lý do là vì cha Jean Claude Roy chưa sắp xếp đến dâng Thánh lễ được. Nhưng thật may mắn, vào thời điểm này cha Jean Denis Gauthier, sau này trở thành Giám mục Giáo phận Nam Đàng Ngoài (Vinh), Ngài đang lánh nạn tại Sàigòn do cuộc bách hại đạo Công giáo vẫn còn tiếp diễn ở Đàng Ngoài. Cha Gauthier đã đến dâng Thánh lễ cho Dòng Kín. Lúc này, Nhà nguyện dòng Cát Minh còn rất thô sơ, nền nhà vẫn chưa được lát gạch, cha Gauthier phải quỳ trên nền đất, các đồ vật cần thiết dùng cho việc dâng Thánh lễ còn rất thiếu thốn, nên Cha phải đem theo những vật dụng từ nhà của Ngài.

Cho dù phải trải qua nhiều khó khăn thử thách, nhưng điều đem lại an ủi lớn lao cho Mẹ Philomène là những người trẻ cứ tiếp tục đến xin gia nhập vào tu tại đan viện nghèo hèn, nhỏ bé này. Con số thành viên trong cộng đoàn mỗi ngày một gia tăng và vì thế ngôi nhà vật chất được xây dựng , đồng thời ngôi nhà thiêng liêng của đan viện Cát Minh Sàigòn cũng không ngừng được củng cố.

Thời gian trôi qua, nhờ sự giúp đỡ của các đan viện tại nước Pháp và được sự chia sẽ quảng đại của Mẹ Benjamin, công việc tu bổ đan viện Nhà Cát Minh Sàigòn tiến triển từng bước như việc lót ván sàn trong các phòng, lót gạch các dãy hành lang, đường đi để tránh sình lầy, trơn trợt trong mùa mưa.

Đến cuối năm 1862, việc xây dựng Đan viện Sàigòn bước đầu đã tương đối ổn định. (Phụ chú : Vào cuối năm 1862 này, cha Wibaux cũng bắt đầu xây chủng viện Sàigòn, đối diện với đan viện Cát Minh. Mẹ Philomène viết rằng: “Từ đó, cha trở nên bạn hữu nghĩa thiết của chúng tôi. Cha tận tình giúp đỡ, không chút bận tâm đến lợi ích cá nhân của Ngài. Chúng tôi mang ơn Ngài và các Cha nhà trường La tinh rất nhiều, bởi vì nhờ các Ngài mà từ nay, chúng tôi không bao giờ bị mất Thánh lễ Misa” ).

Tháng 11 năm 1863, có 14 người Việt xin đi tu, thường là không biết chữ. Tháng 4 năm 1866, có 19 người.

Theo dòng thời gian, đan viện Cát Minh đã hiện diện trên vùng đất Sàigòn được ba năm (1861-1864) và đang đi vào ổn định. Thế nhưng, một biến cố thật đau buồn xảy đến khi phải xa cách người cha thân yêu, Đấng tổ phụ của Đan viện Cát Minh Sàigòn. Đức cha Dominique Lefèbvre rời Sàigòn vào cuối năm 1864, ngài xuống tàu đi Rôma để triều yết Đức Giáo Hoàng và báo cáo cho Tòa Thánh tình hình của Giáo Hội Việt Nam cũng như về Giáo Phận Tây Đàng Trong mà ngài đã được trao phó. Sau đó, Đức Cha trở về Pháp, đến trụ sở truyền giáo tại Marseille và tại đây ngày 30 tháng 4 năm 1865, Đức Cha Dominique Lefèbvre đã được Chúa gọi về trong bình an.

Năm 1865, ba Sơ người Pháp qua tăng viện. Nhà tu Cát Minh cần phải xây lớn ra.

Thời gian trôi qua, nhờ sự giúp đỡ của các đan viện nước Pháp và được sự chia sẽ quảng đại của Mẹ Benjamin, công việc tu bổ Nhà Cát Minh Sàigòn tiến triển từng bước như việc lót ván sàn trong các phòng, lót gạch các dãy hành lang, đường đi để tránh sình lầy, trơn trợt trong mùa mưa.

Hơn nữa, Chúa quan phòng còn gởi đến cho Nhà Dòng một linh mục nhiệt tâm khác đó là Cha Le Mée, tên Việt là Lễ, được Đức Cha đặt làm tuyên úy Dòng Kín Sàigòn. Cha Le Mée đã hết lòng quan tâm, lo lắng cho công việc, ngài tìm mọi cách để trả món nợ mà Đan Viện còn phải gánh chịu. Cha đã phát động việc quyên góp và chính cha Lễ đã đi đến từng nhà các tin hữu để xin bố thí, đôi khi ngài còn bị người ta mắng nhiếc, xỉ vả. Nhờ sự phù trợ của Thánh Giuse, cùng với sự cộng tác của cha Lễ, chỉ trong hai năm, số nợ của đan viện Cát Minh kể trên đã được hoàn trả.

Như đã viết ở trên, ngôi nhà nguyện Dòng Cát Minh Sàigòn được xây dựng từ số gạch củ của tường thành và với cây gỗ cũ, cho nên chỉ một thời gian ngắn, do mối mọt đụt phá, cộng với mưa gió, bảo táp, Nhà nguyện đã bị bị sập và một phần vách rào bên ngoài cũng bị ngã đổ vì nhà nước khi ấy đang cho ủi đất làm đường sát chân bờ tường của đan viện.

Cũng may là vào thời điểm này, Đô đốc Lagrandière đang làm Nguyên Soái Nam Kỳ nghe tin vách tường của Dòng Kín bị sập, chính ông đã đến hiện trường để xem xét và đồng ý bồi thường cho Nhà Dòng để sửa chữa lại tường rào. Sau đó, quan Nguyên Soái thấy cần thiết phải xây dựng lại ngôi Nhà nguyện của đan viện đã bị đổ, nên ông đã ký chi cho một số tiền khá lớn, đủ để xây dựng ngôi Nhà Nguyện mới. Cũng chính nhờ Đô đốc Lagrandière mà giấy tờ nhà đất của nhà Dòng Kín đã được Nhà nước cấp trao chủ quyền cách đầy đủ. Nguyên soái Lagrandière cũng cho phép Dòng Cát Minh làm Đất thánh trong khu nội vi của đan viện để làm nơi an nghỉ cho các nữ tu qua đời.

Chính nhờ lòng hảo tâm của gia đình quan Nguyên Soái Đô đốc Lagrandière cùng với sự lo lắng tận tình của cha Le Mée, công việc xây dựng kiên cố Nhà nguyện và cơ sở của Nhà Dòng với bê tông cốt sắt, được thiết kế theo đúng luật dòng Cát minh đã được tiến hành và cơ sở này vẫn còn bền vững cho đến ngày hôm nay.

Thánh lễ đặt viên đá đầu tiên cho công trình mới được cử hành trọng thể do Đức cha Jean-Claude Miche, tên Việt là Mịch, chủ sự ngày 8 tháng 10 năm 1867.

Sau ngày lễ đặt viên đá đầu tiên, công việc xây dựng đan viện mới được tiến hành. Mẹ Philomène lúc này lại đóng vai trò của một kiến trúc sư, bởi vì hơn ai hết, Mẹ đã sống nhiều năm tại đan viện Cát Minh Liesieux, nên Mẹ có thể sắp đặt những nơi chốn cho đúng quy định của một đan viện Cát Minh, Mẹ ân cần coi sóc hết mọi công việc trong ngoài của đan viện.

Công trình xây dựng đan viện Sàigòn được tiến hành dần dần, đã kéo dài nhiều năm, khởi sự từ năm 1867, từ thời đức cha Jean Claude Miche cho đến khi ngài qua đời ngày 1 tháng 12 năm 1873,cho đến thời đức cha Isidore Colombert.

Năm 1868, một dãy nhà đã được xây dựng xong và được Cha Le Mée đã làm phép thánh hóa.

Tháng 3 năm 1871, Linh mục Faurie, Đại diện tổng toà ở Trung Quốc có thể tuyên bố rằng : “Cát Minh Sàigòn là một cơ sở nền móng của Lisieux. Tu viện phát triển rất tốt và đã hết chỗ . Nay gồm có 4 nữ tu người Pháp, 15 hay 20 người Việt,tín đồ mới, người xin đi tu và vài bà Sơ. Tất cả trên 30 người,trong khi đó tu viện chỉ hiện hữu dưới 10 năm”.

Thời gian này, Đức cha, các linh mục người Pháp, người Việt, chính quyền thành phố, người Việt Nam, kẻ giàu, người nghèo khó, nhiều người đã rộng tay góp sức cho công việc xây cất Nhà nguyện và cơ sở của Dòng kín, nhiều người nghèo trong xứ đã nhịn ăn, nhịn mặc để giúp đỡ cho nhà Cát Minh. Chính với tấm lòng quảng đại của nhiều người, nhà nguyện kiên cố của đan viện Cát Minh Sàigòn đã được được xây xong và khánh thành ngày mùng 9 tháng 12 năm 1876.

Đức Cha Isidore Colombert (tên Việt là Mỹ ) đã làm lễ ban phước lành với 2000 người chen chúc dự lễ trong nhà thờ, còn ở phía ngoài đại lộ, hơn 300 chiếc xe đậu chật hết đường đi. Đức Cha Colombert chủ sự Thánh lễ, ngài vào trong nội cấm làm phép và xức dầu trên các bức tường của Ca triều.

Kể từ đó dòng Carmel Cát Minh Sàigòn được chính thức thành lập.

Bàn thờ và cung thánh ban đầu của Nhà nguyện

Theo tài liệu [15] : Năm 1876 cũng là lúc Thérèse de l’Enfant-Jésus et de la Sainte-Face (Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu) được 3 tuổi. Mười hai năm sau (1888 ở tuổi 15), Thánh nhân vào nhà Dòng ở Lisieux- Pháp, và Thánh thường xuyên ước ao đến sống tại Đan viện Cát Minh Sàigòn để thoả mãn khát vọng đi truyền giáo của mình. Buồn tiếc thay là Thánh đã qua đời quá sớm vào năm 1897.

Tượng Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu
trong sân đan viện Cát Minh Sàigòn

Bàn thờ kính Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu

Dưới đây là vài hình về quang cảnh đan viện Cát Minh Sàigòn


Tượng Thánh Thérèse d’Avila trong sân đan viện Cát Minh Sàigòn

Tượng Đức Bà Chiến Thắng (Đức Mẹ La Vang) trong sân đan viện Cát Minh Sàigòn
Đan viện Cát Minh
sân trung tâm
Đan viện Cát Minh
Hành lang dọc phòng ăn

Đan viện Cát Minh nhìn từ sân thượng

Mẹ Philomène sinh ngày 17-12-1820, Mẹ đã bước vào tuổi “Thất thập cổ lai hy”, sức khỏe Mẹ đã suy yếu rất nhiều vì biết bao khó khăn thử thách mà Mẹ đã phải trải qua và những trọng trách mà Mẹ đã và đang gánh vác, nhưng Mẹ vẫn lạc quan, tin tưởng và rất kiên cường. Quả thật, Mẹ có một sức lực thật phi thường, Mẹ chịu đựng và làm tốt ngay cả những công việc nặng nhọc về thể xác cũng như những khó khăn về tinh thần.

Ngày 23 tháng 7 năm 1895, Mẹ Philomène ra đi cách thanh thản và bình an trong ơn nghĩa Chúa , khi ấy, Mẹ Philomène de l’Immaculée Conception được 75 tuổi. Mẹ đã gia nhập Dòng kín 52 năm trong đó có 34 năm trải qua vô vàn những gian nan khốn khó cho việc thành lập và phát triển đan viện Cát Minh Sàigòn . Xác Mẹ Philomène được an táng dưới chân Thánh giá trong Đất thánh của đan viện đúng như ý Mẹ mong muốn.

Phần mộ của Mẹ Philomène tại Đất thánh của đan viện Cát Minh Sàigòn

Ngày 19 tháng 3 năm 2011, Dòng Cát Minh Saint Joseph Sàigòn đã kỷ niệm 150 năm thành lập.

Mẹ Đáng kính Philomène đã ra đi, Mẹ đã hoàn thành sứ vụ mà Mẹ đã lãnh nhận là thiết lập đan viện Cát Minh Sàigòn, đó cũng là đan viện đầu tiên tại vùng truyền Giáo Á Đông.

Năm 2020 ,một trăm năm mươi chín năm (159) đã qua, công trình do Mẹ gầy dựng đã tồn tại và phát triển cách bền vững, ước vọng bay xa của Mẹ đã trở thành hiện thực, không chỉ tại Sàigòn, nhưng nhiều Nhà Cát Minh, khởi đi từ công trình của Mẹ đã được được thiết lập và phát triển để cho Danh Chúa được vinh quang.

Không ảnh đan viện dòng Cát Minh Saint Joseph Sàigòn
(năm chưa xác định được nhưng chắc là sau 1975).

Tài liệu tham khảo :

1-André Baudrit-Guide historique des rues de Saigon-1re édition-S. I. L. I. Saigon-1943.

2-Về ngôi trường xưa nhất Sàigòn-Collège d’Adran-École Normale d’ Instituteurs-27/06/2016.

3-Imprimerie du Gouvernement-État de la cochinchine française en 1896-Imprimerie commerciale Rey-1899.

4-Quan Nguyen Thanh- Những công trình trong ký ức- Clinique Angier (Dưỡng đường Angier)-18/05/2016.

5-Vương Hồng Sển- Sàigòn Năm Xưa-Sống Mới-1968.

6-Le livre d’or de la clinique Angier Saigon 1931.

7-Đan viện Cát Minh Sàigòn (O.C.D.: Ordre des Carmes Déchaux- Order of Discalced Carmelites).

8-Wikipédia-Ordre du Carme.

9-Wikipédia-Thérèse d’Avila .

10-Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP- Dòng Cát Minh Việt Nam-Tại Sao Gọi Là Dòng Kín?- 15/04/2015.

11-Wikipédia-Carmel de Lisieux.

12-Wikipédia -Histoire de la famille Martin.

13-Vietnam : 150e anniversaire du carmel Saint-Joseph de Saigon.

14-Le Carmel en Indochine.

15-AD Điệu Chi-Facebook-Đan viện Cát Minh.

—>9. Trường Gia Long
<—Mục lục

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Trường Trung Học Phổ Thông và Tổng Hợp ở Sàigòn - Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975. Bookmark the permalink.

2 Responses to TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG và TỔNG HỢP ở SÀIGÒN-CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH trước năm 1975 (8…11)

  1. Nguyen Yen says:

    Nếu tôi nhớ không lầm, vào những năm 1954-1955, có một nhà thương được đặt tên là nhà thương Chi Lăng ̣̣trực thuộc quân đội VNCH dưới những năm đầu cuả nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Va sau này nhà thương này dời lên Gò-Vấp và trở thành Tổng Y Viện Cộng Hoà.

    Like

    • Nguyen Yen says:

      Xin thêm và nhà thương Chi Lăng được đổi thành trường nữ trung học Trung Vương hay Trần quốc Toản gì đó

      Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s