QUÊ NHÀ YÊU DẤU (Nhật Tiến)

CHƯƠNG BỐN

Lão Bẩy thuộc vào loại người chỉ mở miệng khi rượu đã ngà ngà say. Những lức đó, lão nói rất hăng, rất mạnh, nói bất kể trời đất. Lão nguyền rủa cả bên này lẫn bên kia, ngay cả khi ở trước măt mấy ông chức sắc trong làng. Đối với mọi người cái miệng tuênh toang của lão đã trở thành một hình ảnh quen thuộc. Trước, người ta còn khó chịu, còn cãi lẫy với lão, về sau tất cả đều bỏ ngoài tai, lấy đó làm một nguồn vui, có phải nghe cũng chẳng thiệt hại gì mà thiếu cái giọng oang oang của lão, lại đâm nhớ. Suốt ngày, lão lội bì bõm ở mé Rạch Bầu, trong ruộng dưới đầm, và những lúc đó thì lão không nói. Thân mình của lão đen bóng, mái tóc điểm bạc, bộ mặt lầm lì câm nín, hai làn môi lúc nào cũng mím chặt, ánh mắt đục lờ thấp thoáng một vài tia sáng đượm vẻ hằn học. Lão có thể gây sự với cái cây, ngọn cỏ, sợi cước làm dây câu, con mồi và ngay với cả chính mình nữa. Những lúc đó miệng lão lầu bầu nguyền rủa, làn môi mím chặt hơn, cặp mắt hằn học hơn và hai bên lông mày bạc phơ díu vào nhau làm tăng thêm vẻ dữ dội của khuôn mặt già nua đầy những nét khắc khổ, rúm ró.

Hồi trước, đã có một thời kỳ lão đi lính cho Tây. Lão tham dự nhiều trận đánh lớn ở tận bên Đức. Lão được ba bốn cái mề-đay. Rồi hồi chống Pháp, lão hăng hái đem những cái mề-đay ném vô bếp lửa. Phần vải cháy rụi thành tro. Phần đồng với bạc thì chẩy vón thành một cục sần sùi. Lão giữ lấy cục sần sùi ấy với một niềm kiêu hãnh mới. Niềm kiêu hãnh của một kẻ được đóng góp vào cách mạng. Và lão đã đóng góp nhiều hơn là thế. Một vết sẹo khá lớn trong trận đánh ở An Phú đông hồi Nam Bộ kháng chiến, một thằng con trai chết luôn trong trận ấy. Về sau này, đứa con gái bị sập hầm chông trong vườn dừa gậy nhọn lút đến bụng, còn mụ vợ lắm điều của lão lại chết tức ngực vì hơi bom chát chúa rải rền rĩ hàng dây khi mụ về thăm bên quê ngoại. Thế là chiến tranh đã vặt trụi cả những nhành lá thưong yêu trong cuộc đời già nua, cằn cỗi của lão. Lão sinh ra uống rượu và sống lầm lì. Lúc rượu say, lão lôi cuộc đời ra chửi bới.

Chửi đã mồm lão nằm ngã ra ở bất cứ chỗ nào để ngủ vùi. Có khi đang ngủ say thì có đụng độ. Đạn bay rào rào trong khóm lá. Mọi ngưòi rút xuống hầm, nín khe. Còn lão thì bất chấp. Chưa đã lão cứ tiếp tục ngủ nữa mà đã giấc rồi thì bò lên gò cao nhìn đồng quê dưới những chùm hỏa châu sáng rực. Một đôi lần thằng On cũng mò mẫm đi theo. Nó háo hức nhìn cả một khoảng không gian vàng choé như được bao bằng một lóp giấy bóng kính phơi bầy ra trước mắt. Vẳng lại từ đằng xa có những tiếng hò xung phong man dại. On có cảm tưỏng trong những tiếng hò reo ấy có tiếng của ba nó góp phần. Nó nghển thật cao đầu lên để cố tìm lấy một hình bóng của bên lực lưọng Mặt Trận. Nhưng lão Bẩy đã ấn đầu nó xuống như ấn một con mèo và chửi rủa:

– Tổ cha mày, hay hớm gì mà coi.

On tức tối cãi lại:

– Tôi thích ! Ông coi được thì tôi cũng coi đưọc.

– Hay hớm cái gì mà thích. Lớ quớ đạn nó ghim vô đầu thì toi mạng, ở đó mà đòi coi nữa.

– Không biết ba tôi có ở trong đó không?

– Dễ dầu gì mà ham. Về ngủ đi, rồi nằm mơ thấy còn chắc ăn hơn.

– Ông biết ba tôi chớ?

– Tao lạ gì. Đám cưới ba má mày, tao có đi mà.

– Thích nhỉ. Cưới to không ?

– Đông như xem hội, vì họ hàng bên má mày lớn.

– Lớn sao bây giờ tôi không thấy ai.

– Thấy sao được. Nhiều vùng bây giờ bằng như bình địa. Mọi người đi hết rồi còn đâu.

– Ông có nghe nói ba tôi tập kết về đâu không?

– Ra Bắc chớ đi đâu.

– Sao bảo ra ngoải rồi lại trở về.

– Về chớ sao không.

– Tôi đâu có thấy.

– Mày thấy sao đưọc. Vô là vô để hoạt động chớ đâu phải vô để trở về nhà với vợ con.

– Thì cũng phải cho tin về chớ.

– Dĩ nhiên rồi.

– Có tin gì ở đâu mà dĩ nhiên rồi.

Lão Bẫy cười hà hà:

– Ấy là nói còn sống kìa. Chớ nếu chết ngắc thì tin tức ở đâu ra.

– Có khi nào người ta vẫn còn sống mà chẳng nhắn được tin tức gì về nhà không?

– Có chớ. Thời buổi này dễ dầu gì mà liên lạc được với nhau.

Mắt thằng On sáng lên một cách lạ lùng:

– Đó! Trường hợp của ba tôi chắc là như vậy đó.

Lão Bẩy trả lời lừng khừng:

– Ờ! Tao cũng mong như vậy.

Nói rồi lão nằm ngửa lên nệm cỏ, rút xị rượu trong bọc ra tu ừng ực. Tiếng súng quanh đó đã bớt dần. Lâu lâu chỉ còn thấy những tiếng nổ lẻ tẻ. Nhưng trên nền trời, từng chùm hoả châu vẫn liên tiếp thi nhau bay lên và làm rung rinh từng cái bóng của những ngọn cỏ. Lão Bẩy bắt đầu ngấm hơi rượu và nằm ngay đơ. Ánh sáng vàng vọt nhẩy múa trên từng nếp nhăn cằn cỗi của lão. Nhiều khi lão ngủ luôn trong cái tư thế thoải mái ấy, bất chấp những sự kiện gì còn lại sẽ xẩy ra sau đó. Thường thì lão chỉ tỉnh dậy khi mặt trời đang bắt đầu ló dạng với một vừng hồng đỏ ối. Những hôm nào mà đêm trước có đụng độ thì lão lại mon men xuống mé đồi để nghe ngóng số tổn thất. Nếu có người chết, lão nói năng để được ngó tận mặt. Có nhiều khuôn mặt trẻ xa lạ, chết nằm ở những cái thế tức tưởi. Đầu vùi trong bụi cỏ, mình ngập dưới bờ mương, hay cả thân mình vắt vẻo như một con hoẵng mắc bẫy tòn ten trên bờ rào kẽm gai. Cũng có khi lão bắt gặp một khuôn mặt quen thuộc trong đám chết trẻ xa lạ ấy. Và trí nhớ dai dẳng của lão lại biến thành cuốn sổ bộ đời ghi tên một kẻ nữa ở quê nhà vĩnh viễn ra đi. Kỷ niệm êm đềm trong trí nhớ của lão mỗi lúc một trở nên sụp đổ dần dần. Ngày xưa, đã có lần lão kiệu thằng Phước trên vai chạy một vòng trên sân cỏ trước tiếng hoan hô của mọi người và trước tiếng hò reo của đoàn cầu thủ học trò nhốn nháo chạy theo sau. Bây giờ thằng Phước không còn nữa. Nó đã chết gục đầu bên một bờ mương và lão Bẩy đã nhìn rõ hình ảnh chua xót đó. Lão không còn cách nào hồi tưởng được cái cảnh thằng Phước đã ngồi chễm chệ trên vai lão, mình nhún nhẩy như cưỡi ngưạ, hai cánh tay xoè rộng ra như để đón nhận lời hoan hô nồng nhiệt của đám khán giả mộ điệu. Bởi vì lão đã lại thấy nó rồi. Lần này nó không còn là một cậu học trò bé nhỏ trường làng nhưng đã trở nên một anh lính của Mặt Trận. Anh lính cho đến khi nhắm mắt, dạ dầy cũng không được no vì nắm cơm đặt trong tấm mo cau vẫn còn đó. Đầu anh ta dúi xuống một đống bùn. Mái tóc bê bết đất bẩn. Vầng trán thật cao biểu lộ một sự thông minh, đĩnh ngộ. Nó chẳng có cái vẻ gì là phải chết yểu, vậy mà sự thực là như thế đó. Nhiều kẻ đã cùng chung một số phận như vậy, làm cho dĩ vãng êm dịu, chan hoà tình cảm cứ mỗi ngày một thui chột thêm trong đầu óc của lão.

Những sự thay đổi phũ phàng này đã khiến cho lão Bẩy cũng biến cải tâm tính của mình. Đã lầm lì, lão càng trở nên lầm lì; đã uống rượu, lão càng uống nhiều hơn để mong quên đi được phần nào những nỗi xót xa thường trực đang xẩy ra ở chốn quê nhà yêu dấu.

o O o

Chỉ có con Hương là khiến cho lão Bẩy nở được những nụ cười êm ái bao dung. Bao giờ lão cũng nhìn nó khập khiễng lết đi trên đôi nạng gỗ bằng cặp mắt thương xót. Thấy đôi vai gầy của nó nhô lên, báng gỗ ép vào nào, những cử chỉ đong đưa khó khăn, mệt nhọc, lão Bẩy có cảm giác như chính lão đang phải chịu đựng nỗi khó khăn và mệt nhọc ấy.

Một hôm, bắt gặp Hương run rẩy dò dẫm từng bước đi trên cầu gỗ, lão Bẩy mỉm cười đỡ nó trong vòng tay cứng cáp của mình rồi bế bổng nó lên. Hương tuy sợ cái hơi rượu nồng nặc toát ra từ những cọng râu lởm chởm của lão, nhưng nó vẫn cảm thấy xúc động khi thấy mình được săn sóc ân cần. Lúc đứng lên ở bên kia cầu rồi, Hương mới ngỏ lời lí nhí cám ơn. Lão Bẩy cười êm ái và giọng nói của lão cũng êm ái khác hẳn vẻ tục tằn thô lỗ hằng ngày:

– Cháu gái đi đâu mà xa dữ vậy?

Hương đáp:

– Cháu đi công việc cho má cháu.

– Má cháu sao kỳ cục vậy. Bắt cháu đi xa thế, chịu gì nổi.

– Tại cháu thích. Cháu muốn tập đi cho quen. Bây giờ cháu có thể đi tới bất cứ chỗ nào mà cháu muốn tới.

– Nhưng qua cầu thì khó phải không?

Hương mỉm cười ngượng nghịu:

– Dạ đúng đó ông Bẩy. Tại cháu lớn mau nên đôi nạng này hơi thấp. Hai năm mấy rồi còn gì.

Lão Bẩy kêu lên:

– Cái đó dễ ợt mà. Mai mốt mượn được đủ đồ, ông đóng cho cháu gái đôi nạng khác.

Nói rồi lão dìu Hương tới một chỗ có bóng mát. Lão giơ cây nạng lên ngắm nghía rồi đem lại gần Hương ướm thử. Lão khám phá ra ngay những chỗ thiếu sót đã làm cho Hương đau ê ẩm, Hương tíu tít công nhận là đúng. Hai má nó ửng hồng. Đôi mắt sáng long lanh. Một niềm vui như vừa toả rộng trên khuôn mặt rạng rỡ, niềm vui thật hồn nhiên, thật dễ dàng như thể sự hứa hẹn của lão Bẩy Thà chứa đứng một quyền phép nhiệm mầu có thể thay đổi được tình trạng một bên chân thiếu thốn của nó. Lão Bẩy cũng cảm thấy lòng mình xúc động. Lão nhìn con bé với đôi mắt bao dung và hiền từ. Đã lâu lắm cái cảm giác thèm thuồng một đứa cháu để bế ẵm bây giờ mới trở lại trong lòng lão. Hồi xưa khi thằng con trai mười chín chết ở An Phú Đông, lão không còn hy vọng có được đứa cháu nội. Lão mong đứa con gái lấy chồng sớm. Nhưng cô này thương bố mẹ già nhất định từ chối mấy đám đến hỏi. Đến lúc ưng được một thằng, sắp cưới thì nó lại phải đi lính xa. Thằng đi lính xa ít lâu quên luôn người ở nhà, nhắn tin là nó đã lấy vợ ở mãi miệt Cần Thơ. Tội nghiệp đứa con gái của lão đã sống những chuỗi ngày bi thảm của một kẻ bị tình phụ. Rồi một sáng sớm đi qua vườn, nó đã sụp vào hầm chông. Tác giả là bọn thằng Sanh ẩn núp như chuột trong đầm Tròn. Thế là không bao giờ lão còn hy vọng có cháu bế. Lão quên bẵng đi cái nguồn vui của một gia đình sum họp, ở đó lũ trẻ tíu tít ngồi vây quanh nghe ông bà kể chuyện. Lão cũng quên hẳn những chuyện cổ tích ngày xưa.

Trong đầu óc của lão chỉ còn chất chứa những nỗi oán hờn không biết trút vào đâu, cho ai. Gia đình của lão đã đóng góp trọn vẹn cho tất cả mọi lực lượng đã tham dự vào cuộc chiến tranh này. Chỉ còn độc nhất có một mình lão, dai như đỉa, vững như thạch và già như một cây cổ thụ. Cây cổ thụ được chứng kiến tất cả mọi biến cố đã xẩy ra cho một khoảnh đồng quê nhỏ bé mà lão đã sinh ra, lớn lên và chắc chắn sẽ chết đi ở đó. Tình yêu thương hầu như thui chột dần trong tâm hồn cằn cỗi của lão. Nhìn một chiếc xe đổ, một cái xác cháy đen thui, một thây người chết banh ruột, hay nghe tiếng kêu gào của một người vợ goá, một đứa con côi, lão không thấy lòng rung chuyển. Hầu như lão đã đau khổ tột cùng khi nhìn thấy con gái của lão chương thối trong hầm sâu, đầu gục bên thành đất, hai chân vẫn đứng như được đóng đinh trên những mũi chông nhọn hoắt . Hình ảnh này còn đau đớn hơn cả khuôn mặt rúm ró của vợ lạo lúc lôi lên từ dưới hầm trú ẩn. Mắt mụ vẫn mở. Những nét kinh hoàng chưa tan biến như còn đọng lại ở dưới từng làn da sần sùi nhăn nhúm. Hai bên lỗ tai của mụ rỉ ra một dòng máu đen sì. Dòng máu chẩy từ tai xuống má, từ má xuống cổ, và chẩy loang ra tới tận những sợi tóc bạc. Hơi bom đáng kinh hoàng nhưng không thể ngờ nó lại kinh hoàng như thế. Nó đã hủy diệt âm thầm nhiều mạng sống và đã sáng tạo một tầng lớp hài nhi thui chột tiếng nói, thui chột luôn cả tai nghe.

Đã phải chứng kiến những người thân gánh chịu thảm hoạ hãi hùng như vậy, tưởng đến không bao giờ lão Bẩy còn thấy lòng mình xao xuyến. Vậy mà lão đã xúc động trước nguồn vui bé nhỏ của Hương khi nó được hứa hẹn một đôi nạng gỡ vừa hơn, êm ái hơn để đi lại. Thì ra lão vẫn còn có ích cho mọi người. Cuộc đời rách nát của lão vẫn còn mối giây liên hệ yêu thương đến kẻ khác. Lão khám phá ra điều ấy qua hình ảnh bé bỏng của Hương. Con bé không còn là con cái của riêng một gia đình nào. Bờ vai lệch lạc của nó, thân hình còm cõi của nó và nhất là đôi chân không toàn vẹn này đã gắn liền cuộc đời của nó và thảm hoạ chung của quê nhà yêu dấu.

Lão dịu dàng đỡ nó ngồi xuống nệm cỏ. Lão định giơ tay lên vuốt mái tóc óng ả mềm mại như tơ ấy, nhưng nghĩ đến nước da đen đúa bẩn thỉu của mình, lão lại buông xuống. Cặp mắt của lão nhìn lên một lùm cây cao. Lão trông thấy một bông hoa nở đỏ như một cái chén ngọc. Lão liền đứng dậy níu xuống và hái bông hoa. Con Hương nở một nụ cười thật tươi tắn:

– Bông này là bông gì hả ông?

Lão ngắm nghía rồi trả lời:

– Bông này trông mầu thì đẹp nhưng tên nó lại xấu lắm. Người ta vẫn gọi nó là bông Tai Voi.

Hương reo lên:

– Phải đấy! Mỗi cánh của nó trông gần giống như một cái tai voi.

Lão Bẩy lắc đầu:

– Không phải đâu. Họ gọi là tai voi là vì cái lá. Đây này, cháu nom cái lá của nó có phải y hệt như cái tai voi không?

Hương bẽn lẻn gật đầu:

– Dạ…dạ…đúng nó giống tai voi thật!

Nói rồi nó ngắm nghía một cách kỹ càng từ bông hoa tới từng cọng lá. Một lát nó tiếp:

– Nếu còn anh Hiếu thì ảnh sẽ có chuyện để kể về bông hoa này. Ảnh có tài bịa đặt, nhưng chuyện nào của ảnh cũng hay hết.

Lão Bẩy gật gù:

– Ờ, thằng ấy vui tính. Thiếu nó bọn các cháu mất vui. Nhưng yên chí đi. Nó đi rồi nó sẽ lại về.

– Sao có lần ông nói là ai đã ra đi thì sẽ không bao giờ trở về hết.

– Ủa! Chính ông nói vậy sao.

– Chính ông nói vậy. Ông nói nhiều lần như vậy.

– À nói lúc say thì kể làm gì. Trời đất này hỗn loạn mãi rồi cũng phải có lúc êm chớ.

– Cháu cũng mong như vậy. Nhớ đến những ngày nằm ở nhà thương, cháu vẫn còn khiếp sợ. Có đứa phải cưa cả một bên chân, một bên tay. Có đứa mù cả hai mắt. Có đứa mặt sùi lên những đám sẹo nhăn nhúm không nhìn ra hình người.

Lão Bẩy vỗ về an ủi:

– Hãy quên đi cháu ạ. Nhớ mãi những cái đó, có ích gì đây.

Hương thở dài:

– Chẳng có cái gì làm cho cháu quên được. Cháu vẫn nằm mơ thấy chúng nó. Cháu vẫn như còn nghe tiếng khóc sụt sùi của chúng nó bên đầu giường. Có hôm cháu hét to lên làm cho má cháu hết hồn.

Lão Bẩy lẩm bẩm:

– Ráng đi cháu. Ráng đi cháu.

Hương nhìn ra ánh nắng chói chang trải rộng trên cánh đồng phẳng lặng và như nói với chính mình:

– Đêm nào cũng vẫn còn có tiếng súng. Ngày nào cũng vẫn có những chuyến xe trúng mìn trên quốc lộ. Má nói mặt trận đang di chuyển xuống dưới đồng, ấp của mình sợ rồi phải đi hết.

– Sao má cháu không đi trước đi? Ở đây hứng thú cái gì.

– Má cháu nói chừng nào tất cả cùng đi thì má cháu mới đi. Buôn bán ở đây quen rồi. Lên tỉnh biết trông vào ai.

– Trước lạ rồi sau quen chớ.

– Thế còn ông, ông có đi không?

Lão Bẩy đứng dậy, lắc đầu:

– Không bao giờ ông rời khoảnh đất này. Đi đâu thì cũng có ngày nhắm mắt. Bỏ xác ở quê nhà vẫn hơn chứ. Vả lại ông già rồi. Đáng lẽ ông phải chết trước bọn nó mới phải. Nào ngờ tre già vẫn còn phải khóc măng. Đến lúc mình chết, chẳng có ma nào nó khóc mình.

Hương cãi:

– Cháu sẽ khóc ông khi ông chết…

Nói rồi Hương biết mình lỡ lời nên vội vàng nín bặt. Nhưng lão Bẩy lại phá lên cười:

– Phải vậy chớ. Phải vậy chớ. Như thế là ông không còn mong cái gì thêm nữa rồi. Thôi cháu về đi kẻo má trông. Ông sẽ đóng cho cháu một đôi nạng mới. Một đôi nạng mà cháu sẽ không cảm thấy đau đớn. Một đôi nạng thật êm như cháu không có tật nguyền gì vậy.

Hai ông cháu tạm chia tay nhau. Cái Hương tập tễnh chống nạng trở về xóm. Còn lão Bẩy thì đi tuốt vào trong Rạch Bầu coi lại mấy cái nơm cá đặt ở đầu con nước. Lão lúi húi ở đó đến xế chiều và chỉ bắt được loe hoe vài con cá to bằng mấy chéo ngón tay. Trên đường trở về, lão nhớ đến lời hứa làm cây nạng mới cho cái Hương. Lão bèn đổi lối đi, dò dẫm tận phía sâu trong gò Ông Cả. Đã có lần ông thấy ở đó có những thân cây tròn và đều một cách lý tưởng. Chặt nó đem về, chạm trổ cánh bướm, đàn chim rồi biến chế thành nạng gỗ chắc hẳn Hương sẽ vui thích như mình có một đôi chân mới. Quả nhiên những thân cây còn nguyên ở đó, mọc chi chít không thành hàng lối. Tàn lá ở trên che kín cả ánh nắng sắp tắt của một buổi chiều tàn.

Bỗng lão Bẩy bắt gặp một mùi tanh tưởi chợt ùa qua theo ngọn gió. Hai lỗ mũi mở huếch hoác. Lão xoay mình nhè nhẹ để tìm hướng gió. Cuối cùng lão định được phương hướng của cái mùi thối tha. Lão dò dẫm bước tới. Lối mòn đưa lão đi qua một con lạch nhỏ. Một cái gò thấp. Một rặng trâm bầu nhằng nhịt. Và cuối cùng lão đối diện với một đụn đất mới đào. Đụn đất to bằng một cái thúng lớn. Có hằng hà sa số là những con kiến đỏ bu quanh một cái đầu người đã móp như một quả sung chín rụng, và đã bị kiến khoét hàng trăm hàng nhìn lỗ thủng. Cổ họng của lão Bẩy bỗng rợn lên. Lão cố thót bụng lại. Nhưng vô ích. Một cơn gió nữa thoảng qua. Hơi thối lại lùa vào mũi, vào miệng. Thế là lão nôn thốc, nôn tháo cả mật xanh, mật vàng. Thật ra lão không sợ mùi hôi bằng sợ cái hình ảnh hãi hùng trước mặt. Kẻ xấu số là ai, chắc chắn lại là một người chết trẻ. Rất trẻ nữa là đằng khác. Mái tóc còn thật xanh. Lớp da ở trán còn thật là phẳng. Chỉ có mặt mũi là không còn nguyên vẹn để lão nhận diện được xem nó là ai. Một anh dân vệ? Một chức sắc trong hội đồng xã? Một người dân bị tình nghi làm tay sai cho địch, hay chính là một tên du kích bị trừng phạt về tội phản bội hàng ngũ?. Nhưng dẫu là ai thì nạn nhân cũng đã trả xong món nợ xương máu của hắn ta cho cuộc chiến tranh này. Chỉ đáng buồn là chính hắn, hắn không được lựa chọn lấy cho mình một cái chết gọn gàng mau chóng để khỏi phải kéo dài giây phút hấp hối. Chắc chắn hắn đã phải kéo dài như vậy. Bởi vì hắn bị chôn sâu trong lòng đất. Đứng như trời trồng chỉ có phần cái đầu là nhô lên. Cái đầu lại còn bị móp đi bởi nhiều vết giầy đạp.

Lão Bẩy không dám ở lại lâu hơn nữa. Xâu cá trên tay của lão đã rơi xuống đất tự lúc nào. Lão đi giật lùi ba bốn bước rồi thốt nhiên co chân chạy. Mùi hôi thối như đuổi theo lão bén gót. Những con kiến đỏ như bấu chặt lấy làn da sần sùi của lão ở lưng, ở ngực, ở cổ, ở gáy, ở cả làn da mặt đang rịn ra từng giọt mồ hôi lạnh ngăn ngắt. Ruột gan của lão như thắt lại. Lão vẫn thấy thớ thịt ở cổ họng đang chuyển động dẫy dụa. Bây giờ thì lão chỉ ụa được ra những đống rãi và rớt. Trong vòng có ít phút mà lão cảm thấy thân thể nhược hẳn đi. Chân tay của lão rời rã như không còn gắn liền với thân mình. Lão trông thấy một căn chòi nhỏ chênh vênh ở một thửa ruộng gần đó mà không còn đủ sức đi tới. Lão nằm bò xoài lên những mô đất lổn nhổn và thiếp hẳn đi.

Đến khi lão tỉnh dậy thì trời đã tối hẳn. Lão trông thấy chòi lá có ánh lửa chập chờn. Một điều lạ không bao giờ xẩy ra ở chốn đồng quê đang chìm đắm trong bầu không khí đe doạ, chết chóc về đêm này. Bây giờ thì lão đã tỉnh táo hẳn. Lão thận trọng dò từng bước đi trong đêm tối. Lão cố để khỏi gây ra những tiếng động lúc chân lão dẫm lên những cụm cỏ khô. Lão bò vào tới sát cửa chòi. Lão nhìn rõ một bóng người ngồi bên đống lá đang cháy dở. Gã xoay mặt ra ngoài. Một ánh lửa sáng lên, liếm qua khuôn mặt của gã. Chẳng xa lạ gì. Lão nhận ra đó là thằng Thạch. Thằng du kích vẫn sống lén lút ở bên kia đầm Tròn. Điều này làm lão hết sức ngạc nhiên. Với cuộc sống ở đây, chẳng phe bên nào chấp thuận cho một đứa khơi khơi ngồi đốt lửa ngay giữa cánh đồng, không lính ruồng xét tìm tới thì những thằng du kích cũng bò ra. Bất kể là bạn hay thù, gã cũng sẽ là mục tiêu ngon lành cho những họng súng đặt ở từng mô đất đâu đó chung quanh. Chỉ mới nghĩ như vậy là lão đã thấy mình mẩy rợn hẳn lên, như thể chính những họng súng cũng đang chĩa thẳng về phía lão. Lão vội vàng tuột thật nhanh xuống bờ ruộng và bò lủi ra xa. Bốn bề vẫn êm ả như đồng quê chưa bao giờ vang lên tiếng súng. Nhưng thời khắc lặng lẽ không biết kéo dài được bao lâu. Có thể đến khuya. Có thể gần đến sáng. Cũng có thể suốt đêm bầu trời cũng vẫn cứ êm ả như vậy trừ tiếng động cơ máy bay bay qua và tiếng súng nặng nề câu đi từ một vị trí ở thật xa. Những dự đoán đó chỉ là những sự cầu mong. Tốt hơn hết là bỏ mặc thằng Thạch với sự điên khùng dại dột của nó. Lão Bẩy nghĩ vậy và lầm lũi tìm đường trở về.

Đêm hôm ấy lão thao thức và có ý chờ tiếng súng nổ ở trong đồng. Nhưng trái với điều dự đoán của lão, thời khắc vẫn trôi qua trong êm ả. Bầu trời vào lúc cuối hạ, nếu không mưa thì lại trở nên trong vắt và sáng lờ mờ. Lão trải chiếc chiếu rách lên nắp bệ xi-măng và nằm ngửa mặt đón gió hiu hắt thổi lại từ phía vườn. Trước mắt của lão là những chòm sao dầy đặc. Có ngôi thật mờ nhưng cũng có những ngôi lấp lánh. Lão cảm thấy mình rất dễ chịu, nhất là một nửa chai rượu vừa tu xong đưa đầu óc của lão đi bồng bềnh. Có lúc lão chợp đi và tưởng như mình đang sống trong cảnh thanh bình của hai mươi lăm năm về trước. Cũng có lúc lão thảng thốt trở dậy bàn tay quơ lên như lão đang chặt một nhánh cây thật tròn, thật thẳng để làm cho cái Hương một cây nạng mới, nét mặt rạng rỡ của con bé chồng lên đụn đất có hằng ha sa số là những con kiến đỏ. Lão hét lên tưởng như những con kiến đã ăn mục ruỗng đôi mắt to và đen láy của con bé. Lão hốt hoảng choàng dậy và thấy rõ mình đang chập chờn với giấc ngủ đầy mộng mị. Lão cố trấn tĩnh để tìm lại trí óc sáng suốt của mình. Lão chợt nhớ ra là mình đang chờ đợi xem số phận của thằng Thạch ở trong túp chòi lá có đốt lửa sẽ ra làm sao. Nhưng không gian vẫn êm ả vô cùng. Sự êm ả bao la đến độ lão tưởng như từ hơn hai mươi năm nay rồi quê nhà yêu dấu chưa từng vang lên tiếng súng.

o O o

Trưa hôm sau, lão Bẩy tò mò trở lại căn chòi. Dấu tích của đống lửa đêm trước còn đó nhưng thằng Thạch đã biến đi đâu mất.

Lão xem xét rất kỹ khoảng đất ẩm mốc chỉ vừa đủ để kê một cái chõng tre gẫy mục, một cá giá gỗ đựng vài cái bát mẻ còn đóng kẹt những ngấn trà và một bó cành khô dùng làm củi đốt. Căn chòi đã lâu lắm không có người xử dụng nên bụi đất phủ đầy và mạng nhện giăng nhằng nhịt. Không có dấu vết gì đã chứng tỏ thằng Thạch ngủ suốt đêm qua ở đó. Chắc nó có hẹn với người nào trong xóm. Chắc nó đốt lửa làm hiệu cho một mưu toan nào đó với bộ đội chủ lực Miền. Cũng có thể nó loan đi một tin tức nào hệ trọng. Nhưng dẫu có làm gì đi nữa thì việc đốt lửa trong chòi giữa đêm khuya là một hành động dại dột. Lão Bẩy chẳng quan tâm gì lắm đến kỹ thuật quân sự, nhưng kinh nghiệm sống của lão cũng đũ dư thừa để khỏi chết một cách lãng xẹt. Lão thấy súng đạn thì thời buổi nào cũng có khả năng giết người, nhưng những kẻ tham dự vào việc bắn giết lại mỗi ngày một thêm đùa rỡn một cách dại dột với cái chết.

Một lần vô gò Ông Cả, lão bắt gặp một thằng liên lạc. Nó không lớn hơn thằng On bao nhiêu, nhưng võ khí của nó lại trang bị cùng mình. Ở bụng của nó đeo hai quả lựu đạn nội hoá. Bên hông sườn đèo thêm một lưỡi dao găm. Vai đằng sau lại có cả một khẩu súng. Thằng bé đi đứng với tất cả kiêu hãnh và trịnh trọng, bởi vì nó đã được coi như một người lớn. Một người lớn có đầy đủ quyền phép làm mất đi mạng sống của kẻ khác. Nhưng trí óc của nó thì còn non nớt, dĩ nhiên. Cho nên nó đã ghếch súng ngồi trong lùm cây bên bờ rạch để say mê mân mó quả lựu đạn. Chán lựu đạn, nó lại gỡ khẩu súng xuống để táy máy. Còn thứ đồ chơi nào say mê hơn những thứ ấy vì đó là đồ chơi thứ thiệt, thứ đồ chơi khỏi cần phải vận dụng đến đầu óc tưởng tượng để nghĩ rằng nó sẽ thế này hay thế khác. Rất may là khẩu súng không sút cò và quả lựu đạn không tuột chốt. Thằng bé bình yên với vận hên xui vừa treo mạng sống của nó trên sợi chỉ mành.

Trong chiến tranh này, người ta đã thiêu đốt vào đó không biết bao nhiêu là thứ quí giá. Những mạng sống, những tâm hồn, những giá trị tinh thần và cả những nề nếp cần phải gìn giữ. Riết rồi không còn mấy ai thấy có điều gì là quan trọng. Riết rồi không còn hoàn cảnh khốn khổ nào, sự tan vỡ bi đát nào, cái chết thảm thương nào có thể làm cho con người ở đồng quê khói lửa phải xúc động tột cùng. Con người nhiều khi đã biến thành những tượng đá và những tâm hồn đã lắng xuống thành những tảng băng. Có như vậy thì mới đủ can đảm hạ lưỡi dao sắc bén xuống để banh bụng một kẻ mà mình chỉ hận thù qua những giáo điều chủ nghĩa. Có như vậy mới đủ can đảm rồ thêm ga cho chiếc xe lội bùn cán kẻ chới với trước mặt đến thành xẹp lép, để thân xác của hắn vùi luôn trong lòng đất. Những cái chết càng thảm thương thì hận thù càng nghi ngút. Những hoàn cảnh càng bi đát thì hố sâu càng cách biệt. Những danh từ tốt đẹp đã không còn gì là ý nghĩa nữa. Người ta đã nhân danh nó để trút xuống lòng hận thù. Hận thù giữa những người cùng chung một dĩ vãng hiền hoà, một hiện tại đau thương và một tương lại đen tối.

Lão Bẩy Thà đứng tần ngần một lát rồi xách cần câu đi vào phía Rạch Bầu. Lão gặp thằng On đang lúi húi nhóm lửa dưới một khóm lá um tùm. Phía xa hơn nữa là thằng Tư đang moi ruột một con cá. Bên cạnh nó là cái hom. Lão Bẩy nhận ra ngay đó là cái hom của mình. Lão giận dữ la lớn:

– Tổ cha mấy con chó hoang. Hom của tao để đó sao tụi bây nhấc lên.

Thằng On toét miệng ra cười. Còn thằng Tư thì quăng ngay con cá xuống bờ rạch rồi co chân lên chạy. Lão Bẩy xông ngay tới chỗ hom cá. Việc đầu tiên là lão xem xét coi cái hom có hề hấn gì không. Sau đó lão mới nhìn theo thằng bé đang chạy. Nó chỉ chạy một quãng ngắn, vừa đủ tầm xa để đề phòng rồi quay đầu lại giuơng cặp mắt trân tráo lên ngó nghiêng. Lão Bẩy chửi thêm:

– Tụi bay đói khát cái gì mà đụng tới đồ nghề của tao. Đói thì đào khoai, mót củ chớ sao đòi ăn cá. Sang trọng gì quá cỡ vậy.

Thằng On lúc đó đã tiến lại gần lão. Nó phân trần:

– Hom của ông chẳng có con cá nào hết đâu. Ông cắm chỗ đó làm sao có cá.

– Tổ cha nhà mày. Mày lớn bằng bao nhiêu mà đòi dậy khôn tao. Chỗ đó mà không có cá thì ở đâu có cá đây.

On lại toét miệng cười. Nét mặt của nó đầy vẻ đắc thắng và tin tưởng:

– Đó là tại ông ít đi đây đi đó đấy chớ. Vô tuốt mé trỏng kìa. Chỗ người ta tuôn xác chết xuống từ tháng trước kia lận.

Lão Bẩy bàng hoàng:

– Bộ mày thấy hả?

– Tôi không thấy mà điều thằng Tư nó chỉ cho tôi. Quả nhiên cá bự mà nhiều thiệt.

Lão Bẩy chợt có cảm giác ghê rợn ở cổ. Lão nghĩ đến những xâu cá nướng mỗi ngày. Những con cá rỉa thịt người. Những con cá rúc đầu vào những đám thịt tanh tưởi, tàn rữa. Bất thần lão quay ra đằng sau nhổ một đám nước bọt đánh toẹt xuống mặt đất. Thiếu một chút nữa thì lão lại mửa ra mật xanh mật vàng. Lão vội rút ở bên quần ra một xị rượu đổ đầy trong một cái chai thuốc ho. Lão ngửa cổ tu ừng ực rồi khà lên một tiếng khoái trá. Hơi rượu làm cổ lão nóng bừng. Những đường gân nhằng nhịt như đội cao lên. Một cảm giác êm dịu chạy lan từ bụng ra bốn phía chân tay. Lão quên ngay cái giận vừa rồi và vẫy tay gọi thằng Tư lúc đó đang nhìn lão như dò xét. Nó có vẻ yên tâm khi thấy điệu bộ của lão trở lại hiền hoà. Một lát nó toét miệng ra cười:

– Tại thằng On nó xúi. Cháu có biết hom với hòm gì của ông đâu.

Thằng On vội bào chữa:

– Bị cái hom của ông chẳng có con ma nào chui vô nên cháu mới dám nhắc lên. Vả lại tụi cháu muốn thết anh Thạch một bữa cháo cá.

Lão Bẩy sửng sốt:

– Thằng Thạch nào? Ở đâu? Phải nó về trong đồng tối hôm qua hôn?

On đáp:

– Đúng đó! Ảnh đau nặng. Có lúc phát khùng khóc lên như con nít nữa?

– Bây giờ nó ở đâu?

Thằng Tư vội đáp:

– Cháu dấu ảnh ở sau bụi mù-u trong Rạch Bầu. Chỗ đó kín lắm. Không có ai biết đâu.

– Dẫn tao đi với.

– Mà điều ông không được nói với lính ở trong đồn kia.

– Tổ cha nhà mày. Tao làm gián điệp hồi nào.

– Vậy ông cũng dấu luôn cả bọn thằng Sanh nữa nhé. Ảnh lên cơn khùng, ảnh chửi tuốt luốt. Hồi sáng này có đứa đi lùng ảnh, cháu nói không biết.

– Mày có biết tại sao nó sinh vậy không?

– Hình như bọn ảnh mới chôn sống một người. Ảnh sợ. Bây giờ ảnh trông thấy cái gáo dừa là cũng la lên.

– Phải rồi, tao có thấy.

Hai đứa nhỏ nhao nhao lên:

– Ông thấy ở đâu? Chỗ nào mà tụi cháu không hay kìa.

– Bên mé gò Ông Cả đó. Bây giờ thì chỉ còn nhô lên có mỗi một cái đầu, mà cũng bị kiến ăn hết, tao không rõ là ai.

– Hèn chi mà ảnh lảm nhảm có mỗi một chuyện ấy. Tụi mình đi coi không?

Lão Bẩy trừng mắt:

– Hay hớm gì mà coi. Đâu, thằng Thạch nằm đâu, dẫn tao tới.

On nói:

– Tư dẫn ông Bẩy đi. Để tao làm nốt con cá.

– Chèn ơi! Mày tính ăn cái thứ cá mắc dịch đó sao.

On cãi:

– Có ăn nhằm gì đâu. Cá vẫn là cá mà.

– Nhưng nó rỉa thịt người.

– Ôi! Rồi nó cũng tiêu thành thịt cá chứ. Ăn cá ở đấy béo ngậy, ngon hết chỗ chê mà ông.

– Thôi, mày im đi , tao muốn mửa ra đây. Tụi bay làm tao mất cái thú ăn cá nướng buổi chiều rồi.

– Ông không ăn thì tụi cháu ăn. Còn anh Thạch thì khỏi nói. Ảnh đói muốn xỉu rồi đó.

Vừa nói thằng On vừa chạy xuống bờ rạch. Nó lượm con cá to bằng cái bắp tay lên rồi đem khoắng xuống nước. Trong lúc ấy thằng Tư ra hiệu cho lão Bẩy đi tới. Hai người chui qua đám lau sậy um tùm. Quanh quéo một lát thì đến một khu đất phẳng. Bốn bề có dây leo mọc nhằng nhịt. Những bông hoa dại nở đỏ ối cả một vùng lá xanh. Lão Bẩy trông thấy ngay gã thanh niên đang nằm thiêm thiếp trên một cái nóp rách tơi tả. Mặt gã xanh dờn. Mái tóc chấm tới mang tai, xù lên một cách bẩn thỉu. Gã bận một cái quần cụt, một cái áo cánh đen, cả hai đều đã bươm ra như một đùm giẻ rách. Tư nói:

– Ảnh mới ngủ đấy. Ông đi khẽ thôi.

Lão Bẩy tiến lại gần hơn. Lão chua xót nhìn hình ảnh người thanh niên trước mặt. Vào thế hệ của lão ở đồng quê, tuổi thanh niên chẳng bao giờ suy sụp và tàn tạ đến thế.

Đó là kết quả của những ngày chui rúc dưới hầm sâu, ăn không no, mặc không ấm, tâm hồn bị hủy diệt bởi những cơn lo âu, sợ hãi, thiếu thốn thường trực.

Lão để nhẹ tay lên trán Thạch. Gã nóng như một lò than hồng. Trong cơn mê sảng, miệng gã ú ớ. Gã gọi tên người quen. Gã kêu cả mẹ. Gã rền rĩ một cách thảm thương. Lão Bẩy thấy ngay tình trạng trầm trọng của bệnh tình gã. Lão nói:

– Không thể để nó nằm ở đây được.

– Ông tính đem ảnh đi đâu.

– Lên quận!

Thằng Tư giật mình:

– Trời đất ơi! Bộ ông cũng khùng nữa sao mà tính đem ảnh lên quận. Ảnh là du kích mà.

– Du kích du cọt gì thì cũng phải chữa bệnh trước đã. Còn hơn nằm đây rồi nó cũng chết.

– Chẳng ai thèm chữa bệnh cho ảnh đâu. Người ta sẽ ném ảnh xuống hầm sâu, chết rục ở đó.

– Ai biểu mày thế.

– Thì tù binh mà lị.

– Mày chẳng biết cái con chó gì mà cũng nói. Muốn tù gì thì tù, người ta cũng phải chữa cho nó khỏi đã.

– Chữa khỏi để rồi lôi ảnh ra khai thác, đánh bằng gộc tre như thằng Thành, thằng Hưng ấy có phải không. Như vậy rồi cũng chết mà. Thằng Thành, thằng Hưng, có đứa nào sống sót đâu.

– Hồi đó khác, hồi này khác. Ông ủy viên an ninh cũ văng rồi còn gì. Thằng cha Vượng tử tế hơn.

Thằng Tư xua tay:

– Cháu không chịu đem nạp ảnh dễ dàng vậy đâu. Làm sao tin được lòng tử tế của bao nhiêu người. Không người này thì lại có người khác. Chắc chắn ảnh sẽ bị đập thiếu điều bay lên trời hay chui xuống đất mà chạy.

Lão Bẩy thở dài:

– Vậy đành cứ để nó phơi sương, phơi nắng vậy sao?

– Có hề gì. Vài bữa rồi cũng khỏi.

– Thôi để tao đi kiếm cho nó ống thuốc.

Tư reo lên:

– Phải đấy. Ông lên quận mà mua. Có thuốc rồi khỏi cần đi đâu nữa hết.

– Mà điều mua thuốc gì kia chớ.

– Thuốc gì chữa bệnh nóng lạnh, mê sảng đó. Ông cứ nói là người ta bán cho. Lão Quảng Phát ở đầu chợ rành rọt như ông bác sĩ vậy đó.

Lão Bẩy ngẫm nghĩ giây lâu rồi chép miệng:

– Thôi được, để chiều tao đi, sáng mai tao đem vào cho.

Thằng Tư dặn thêm:

– Nếu ông giàu thì ông mua cho một kí đường. Đường ăn với cháo chóng lành bệnh.

Lão Bẩy càu nhàu:

– Tổ cha mày, tao làm gì mà giàu kia chớ. Mầy muốn ăn đường thì bán cái xác mầy đi chớ ăn nhằm chi tới tao.

Thằng Tư cười ngỏn ngoẻn:

– Cháu nói là anh Thạch ấy chớ. Còn cháu đâu cần. Ăn cháo đường đâu có no bụng được.

o O o

Mãi chiều hôm sau nữa, lão Bẩy mới lo mua xong được hai hộp thuốc với một ký đường. Lão phải đem gán cho mụ Phước cái ống đựng thuốc rê bằng bạc thiệt để lấy tiền lên chợ. Mụ nhìn ống thuốc của lão cười chế riễu:

– Lo làm ăn không lo, bây giờ lại phải tới nước cầm với cố. Mai mốt hết đồ rồi thì cầm cố cái gì đây.

Lão Bẩy cười cãi lại:

– Làm ăn đều đều chớ sao không. Mụ thấy tôi chơi bao giờ.

– Làm ăn gì mà hai bữa nay không có lấy một con cá lóc. Đưa toàn thứ tôm tép chết dấp ở đâu, chẳng có khách nào ưa.

– Ôi cha, cá lóc hả? Cái thứ đó từ rầy về sau là khỏi có nữa đi.

– Ủa sao vậy. Đang mùa mà?

– Phải, đang mùa, mà điều cá lóc ở trong đồng nó toàn xơi xác chết. Mụ gớm không?

– Gớm thì có gớm, mà điều mình không ăn thì thôi chớ. Bán cho khách nhậu mà.

– Thôi đi, con vái! Chỉ rờ tới nó bây giờ là cũng đủ ghê rồi.

– Lão gàn như vậy hèn chi suốt đời nghèo xác, nghèo xơ. Ráng đi, kiếm mỗi ngày vài con mập u, tôi trả thêm cho ít đồng mà nhậu nhẹt.

– Thôi, tôi chả ham. Cái gì có dính vô xác chết, xác đồ là hổng có tôi.

Mụ Phước bực tức ném xấp giấy bạc lẻ cho lão rồi ngúng nguẩy bỏ đi. Lão lượm lên đếm lại từng tờ cẩn thận rồi nhét vô hầu bao. Sau đó lão lần mò ra quốc lộ đón xe lam lên quận. Lúc trở về đường cấm mất non một buổi thành ra lão trễ hẹn với thằng Tư. Mãi tới chiều hôm sau lão mới tìm vào chỗ thằng Thạch ẩn núp. Không có đứa nào ra đón lão cả. Bốn bề vắng lặng, thằng On, thằng Tư không thấy đâu mà ngay cả gã Thạch nữa cũng không còn nằm trên chiếc nóp lúc này vẫn còn trải bên nệm cỏ.

Lão Bẩy lầu bầu nguyền rủa vu vơ rồi vạch lá chui trở lại mé Rạch Bầu. Bốn bề vắng lặng không có bóng người. Lão mệt mỏi ngồi xuống một gốc cây, vấn thuốc hút. Miệng lão đắng nghét và khói thuốc không làm cho lão thấy dễ chịu hơn. Đến lúc đó lão mới nhận ra mình cũng đã bắt đầu nhuốm bệnh. Chân tay của lão mỏi nhừ. Đường gân thớ thịt như rời rã. Đầu óc của lão chênh vênh. Trong ý nghĩ, những hình ảnh gớm ghiếc vừa qua như còn đeo dính lấy tâm trí của lão không rời. lão bỗng thấy thèm một múi chanh thật chua, hay nhá một trái ớt thật cay chấm vào dĩa muối thật mặn để giải tỏa cái cảm giác dập dờn đang chạy trong cổ họng. Lão lảo đảo đứng dậy.

Cảnh vật trước mắt lão trở nên rung rinh. Lão nhìn rõ những đốm sáng nhẩy múa ngay trước mặt. Lão tự nhủ là mình ngã bệnh thật rồi. Phải có một chỗ nằm thoải mái. Phải tích sẵn dăm bẩy xị rượu nơi đầu giường. Phải có một cái mền đắp lên ngực vì lão cảm thấy cơ thể ớn lạnh. Cha bố mấy thằng nhãi đi mất mặt ở đâu mà không thấy trở lại để lão trút cho chúng nó mấy món đồ lỉnh kỉnh này. Một kí đường cát. Một hộp thuốc cảm cúm. Và một chai dầu nóng. Không biết ngần ấy thứ có đủ giúp cho thằng Thạch qua khỏi cơn bệnh li bì của nó?

Đối với bên này, nó là một thằng du kích cần phải tiêu diệt. Đối với bên kia nó là một phần tử lệch lạc, nguy hiểm cần phải loại trừ. Cuộc đời của nó đã khốn khổ, vậy mà nó cũng không được dành cho một chỗ đứng nhỏ nhoi, một chỗ đứng rất khiêm nhường, một chỗ đứng chỉ cầu mong được yên lành với vài chén cơm, một manh áo qua ngày. Thì ra guồng máy của chiến tranh đã chuyển động. Ở chốn đồng quê yêu dấu này, không cho phép kẻ nào đứng ở bên lề, đứng ngoài cuộc. Hãy là những con vít, dù là con vít nhỏ nhoi, ở phía này hay ở phía kia. Con vít khi bị sút ra ngoài chắc chắn sẽ bị nghiền nát. Lão Bẩy lo sợ cho hoàn cảnh của nó. Đó là lý do mà lão chịu mất công mất của để mua cho nó mấy món đồ dùng mà lão đang ôm khư khư trong bọc. Bây giờ nó ở đâu, làm gì bọn nhãi kia cũng không hề thấy mặt. Lão tức sôi lên, giận dữ đứng dậy, định bụng túm cổ được đứa nào sẽ xách nó lên như xách một con chó và liệng phứt ngay xuống làn nước trong xanh của Rạch Bầu.

Nhưng cơn tức giận của lão chưa bùng lên được bao nhiêu thì bị xẹp ngay xuống vì một tràng đạn nổ dài. Tràng đạn nghe khá xa nhưng ở giữa cánh đồng im vắng nên vang thật dòn và thật rõ. Lão Bẩy hốt hoảng đứng dậy. Lão tưởng là sẽ lại có cuộc đụng độ xẩy ra ở đâu đó. Nhưng tràng đạn chỉ kéo dài một băng rồi im hẳn. Âm thanh tan đi mau chóng trong khoảng không gian mông mênh thật êm ả, thật phẳng lặng như đồng quê đã trải qua một thời kỳ thanh bình từ bao nhiêu trăm năm. lão đứng lên một mỏm đất cao nhìn về phía có tiếng súng.

Trong ánh nắng úa nhạt của một buổi chiều đang tàn úa, lão nhìn thấy bóng dáng nhỏ nhắn của hai thằng nhỏ hiện ra trên nền lá xanh ngắt. Chạy đi trước là thằng Tư. Theo sau gần một chục thước là thằng On. Hai đứa không khác gì hai con chó hoang len lỏi, sục sạo khắp mọi ngõ ngách của cả một vùng đồng quê bát ngát. Một lát thằng Tư nhào tới trước . Nó nằm lăn quay ngay ở dưới chân lão Bẩy, thở hào hển. Còn thằng On thì ngồi phệt xuống một bụi cỏ. Mặt nó xanh lét. Mồ hôi vã ra ở trên trán. Mái tóc bù xù của nó xõa sợi che gần kín cả một vầng trán vừa thấp, vừa dô lại đen kìn kịt. Phải chờ một lát cho dứt cơn thở, thằng Tư mới lên tiếng trước:

– Ông ơi….anh Thạch…

Lão Bẩy giật mình:

– Thằng Thạch ở đâu, làm sao…

Tư lắp bắp chỉ tay về phía có súng nổ:

– Rồi…ảnh …ảnh….

Vẻ mặt lão Bẩy thất sắc đi. Lão nghe như mình vừa bị đau nhói ở trong tim. Thế là thêm một nhân mạng nữa làm mồi cho lũ cá ở trong đầm. Lão chợt thấy mình mệt mỏi đến độ tột cùng. Lão buông cái bọc đang cầm ở trong tay xuống. Gói giấy xổ tung ra. Những hạt đường cát đỏ đổ ụp xuống mặt đất.

Từng giọt mồ hôi lạnh ngắt bắt đầy rịn ra ở trên mảng lưng gây gây lạnh của lão. Lão ngồi bệt xuống nệm cỏ. Hình như lão muốn khóc. Lão cố nín để cho hai cánh mũi bớt phập phồng. Nhưng mí mắt của lão cay xè. Lão thấy khung cảnh buồn chán trước mặt nhòe hẳn đi. Lúc chớp mạnh, lão thấy rõ hai giọt nước mắt chảy lăn trên gò má khô khan. Từ bao nhiêu năm rồi, bây giờ lão mới lại có giọt nước mắt. Những giọt nước mắt tình cờ, những giọt nước mắt không hẳn thương xót một ai, không hẳn xúc động vì một chuyện gì. Lão cảm thấy lão thương xót cho chính lão, thương xót cho tất cả mọi người, thằng Tư nằm kia, thằng On nằm đó, thằng Thạch vừa gục ngã.. Từ bờ cây, đến ngọn cỏ, từ giải nắng úa buổi chiều, đến những cụm mây lờ lững trong bầu trời êm ả, từ những lô-cốt đứng sững lạnh lùng trên mầu đỏ của ráng chiều, đến những hàng rào kẽm gai chạy ven quốc lộ, từ những hầm hố nhằng nhịt trong ruộng đồng, đến những mìn chông, bẫy sập rải rác đâu đó trong mỗi mảnh vườn. Đó là đồng quê yêu dấu. Đó là nơi lão đã sinh ra, đã lớn lên, đã tàn héo và đã được chứng kiến biết bao nhiêu thảm kịch đau thương đã xảy ra từ ngày có tiếng súng.

Một lát, thằng Tư mới kể lại được rõ ràng:

– Tại anh Thạch. Lúc tỉnh lại rồi, ảnh không chịu ngồi yên một chỗ. Tụi cháu đi ra ảnh cũng đi ra, đi vô ảnh cũng đi vô. Tới lúc bọn thằng Sanh, thằng Hùng với mấy đứa nữa gặp cháu hỏi thăm có thấy ảnh ở đâu không thì ảnh trèo lên cành cây chõ xuống chửi.

– Nó chửi ai?

– Tùm lum! chửi lung tung hết trơn hết trọi, chửi luôn cả ảnh nữa. Rồi tụi nó dụ ảnh đi xuống sẽ cấp giấy cho về nhà. Ảnh bắt tụi nó hứa không được bắt ảnh phải dùng bá súng đập vô đầu phản động đã bị chôn sống, chúng nó hứa luôn. Thế là ảnh tụt xuống. Chúng nó trói lại dẫn đi. Vô đến gò Ông Cả, chỗ ngã ba Cây Gòn tụi nó bắn luôn một tràng rồi xô ảnh xuống lạch.

– Nó có nói gì được không.

– Ảnh không nói mà chỉ la. La cái gì không biết nữa, rồi khóc. Còn tụi nó thì chẳng nói chẳng rằng, bắn ảnh xong là dông luôn. Ông có biết tại sao tụi nó bắn ảnh không?

Lão Bẩy thở dài:

– Nó là thứ hết xài được nữa con ạ.

—>5

This entry was posted in 3.Truyện dài - Tiểu thuyết, Nhật Tiến. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s