TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG và TỔNG HỢP ở SÀIGÒN-CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH trước năm 1975 (31…40)

Trường trung học phổ thông & tổng hợp ở Sàigòn-Chợ Lớn(TM tổng hợp và bổ túc)

31-Trường Trưng Vương
Số 3 (3A?), đường Nguyễn Bỉnh Khiêm
Quận 1, Sàigòn

Trường Trưng Vương là một trường trung học công lập đệ nhị cấp danh tiếng ở Sàigòn dành cho nữ học sinh. Trường tọa lạc chính thức ở số 3 (3A?), đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, Sàigòn , sau khi trường Trưng Vương Hà Nội di cư vào Nam vào năm 1954.

Trường Trưng Vương Hà Nội lại là hậu thân của trường Nữ Sinh Đồng Khánh Hà Nội.

Sau đây là sơ lược lịch sử của trường Nữ Sinh Đồng Khánh Hà Nội theo tài liệu [1] :

Năm 1886, trường trung học công lập đầu tiên được thành lập ở xứ Bắc kỳ (Tonkin) mang tên trường trung học Paul Bert (Collège Paul Bert) dành cho số ít con em gia đình của công chức, sĩ quan, nhân viên người Pháp đầu tiên đến Hà Nội.

Trường dạy hai cấp Tiểu học và Cao Đẳng Tiểu học hổn hợp nam sinh và nữ sinh. Trường Paul Bert tiếp nhận dạy hầu như toàn bộ số học sinh Pháp ở Bắc kỳ, trước là dạy chương trình tiểu học rồi dạy chuyển tiếp qua chương trình trung học .

Ngôi trường được xây dựng trong những năm 1897-1898 ( trên viết là 1886 ?), trên thửa đất ở ngã tư đại lộ Đồng Khánh, dài 100 mét và đại lộ Carreau, dài 87 mét, phố Hàng Bài (đường Đồng Khánh) và phố Lý Thường Kiệt, Hà Nội.

Trường này được thiết kế và xây dựng theo theo nguyên tắc đối xứng của lối kiến trúc cũ , mái ngói một tầng, phần giữa và hai cánh ở hai đầu xây sâu hơn, rộng hơn và lên cao tầng. Bên cánh phải (nhìn từ trường ra cổng) dành cho giám hiệu và bên cánh trái dành cho các phòng quản lý trường.

Bản vẽ mặt chính của trường Paul Bert (Collège Paul Bert) năm 1897,
phần tường trên cửa vòm ở giữa có đắp nổi
chữ “École des Garçons” (Trường học Con Trai)
[Ảnh trích xuất từ sách Kiến trúc các công trình xây dựng tại Hà Nội 1875-1945 – Traits d’Architecture, Hanoi à l’heure française.]

Bản vẽ mặt bên của trường Paul Bert năm 1897
[Ảnh trích xuất từ sách Kiến trúc các công trình xây dựng tại Hà Nội 1875-1945 – Traits d’Architecture, Hanoi à l’heure française.]

Theo thiết kế ban đầu, ngôi trường được xây dựng như một trường hổn hợp nam sinh và nữ sinh. Khu chính nhìn ra đại lộ Đồng Khánh là khu trường học nam sinh nên ngay trên tường ở chính giữa, mặt chính có đắp nổi chữ “École des Garçons” – Trường học Nam Sinh. Mặt chính trên đại lộ Đồng Khánh có ba cổng mang ba số 26, 28 và 30 nhưng địa chỉ chính thức của trường là số 30.

Năm 1904, các lớp nữ sinh của trường Paul Bert chuyển sang cơ sở nằm trên phố Thợ Nhuộm (rue des Teinturiers), rồi phát triển thành một trường độc lập dành riêng cho học sinh nữ người Pháp ở đại lộ Hai Bà Trưng (boulevard Rollandes). Từ đây trường Paul Bert (đại lộ Đồng Khánh) chỉ còn nam học sinh nên còn gọi là Trường Nam Sinh, hay Trường học Con Trai. Trường Nam Sinh rất nổi tiếng, một số bản đồ thành phố Hà Nội đương thời đã cho ghi vào phần chỉ dẫn là Trường Nam Sinh (École des Garçons).

Năm 1912, chính quyền Pháp ở Đông Dương có kế hoạch sửa sang Trường Paul Bert (Trường Nam Sinh ) trên phố Đồng Khánh và nâng bậc học thành trường trung học Đông Dương ở Hà Nội. Tuy nhiên, vì địa điểm này quá chật hẹp nên dự án không thực hiện được phải chuyển về xây dựng ở Đại lộ République. (Trường trung học Đông Dương là tên gọi ban đầu của Trường Trung học Albert Sarraut sau này).

Năm 1917, theo nghị định 2229, ký ngày 10 tháng 11 năm 1917, chính quyền Pháp mở Trường Nữ Sinh Bản Xứ (Institution de Jeunes Filles Annamites) với hai bậc học Tiểu học và Cao đẳng Tiểu học. Các học sinh được học các môn chính là chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp, số học, địa lý, luân lý, phép xã giao, vệ sinh với các cô giáo người Pháp, còn các môn học nữ công gia chánh như quản lý gia đình, may vá, thêu, nấu ăn… với các cô giáo người Việt. Trường nhận nữ học sinh bắt đầu từ 8 tuổi.

Việc mở các trường Nữ Sinh Bản Xứ đòi hỏi phải tuyển giáo viên nữ để dạy môn Việt ngữ và vệ sinh phụ nữ. Ở Bắc kỳ, nữ giáo viên người Pháp không biết tiếng Việt nên gặp khó khăn trong việc giảng dạy, trong khi đó nữ giáo viên người Việt thiếu rất nhiều. Thời gian đầu chỉ có ít nữ giáo viên người Pháp và vài giáo viên người Việt tốt nghiệp Trường Tiểu học Hàng Cót.

Vì những khó khăn thiếu hụt giáo viên bản xứ, năm 1917, chính quyền Pháp cho mở Trường Sư Phạm Nữ Giáo Viên Bản Xứ (École Normale d’Institutrices Annamites) đặt tại phố Hàng Vôi. Trường này ban đầu hoạt động song song như một cơ sở phụ trợ cho Trường Nữ Sinh Bản Xứ.

Năm 1918, chính quyền Pháp cho xây dựng một khu trường học nằm trên phố Félix Faure dành cho hai trường : Trường Nữ Sinh Bản Xứ và Trường Sư Phạm Nữ Giáo Viên Bản Xứ .

Trong suốt khoảng chục năm, số học sinh các trường Pháp và trường bản xứ tăng lên, nhu cầu học sinh nội trú cũng tăng, khiến chính quyền Pháp ở Hà Nội phải xây dựng, sửa chữa, mở rộng nhiều trường, lớp, phòng ăn và phòng ngủ.

Dự án xây dựng và mở rộng Trường Cao Đẳng Tiểu Học Nam Sinh ở phố Đồng Khánh được thực hiện trong những năm 1927-1928. Ngôi nhà chính, phần một tầng lầu được nâng cao thành hai tầng lầu, để lầu trên làm phòng ngủ cho học sinh nội trú và lầu dưới làm phòng học. Có câu chuyện không vui là khi xây dựng lên lầu, sàn gác bê-tông bên trái bị sập đổ ngay khi mới dỡ giàn chống bên dưới, may không xảy tai nạn chết người. Vì vậy phải sửa lại ngay trong năm 1928.

Trong dịp này, Trường Nam Sinh (trường trung học Đông Dương) được xây và mở rộng thêm một số phòng ốc mới :

– Nhà ăn ở lầu dưới và phòng y tế trên lầu ở cánh nhà bên trái, xây tiếp vào ngôi nhà chính kéo dài, dọc theo sân,

– Nhà chơi và lớp học (hai lầu ở cuối sân),

– Nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh… và nhà sát vách với nhà giám hiệu.

Giữa tháng 8 năm 1928, công trình xây dựng và mở rộng ngôi trường này hoàn thành, được bàn giao cho nhà trường để kịp khai giảng ngày 11 tháng 9. Ngay năm học này, các trường Pháp và bản xứ có sự hoán đổi như sau :

– Trường Cao Đẳng Nữ Sinh Pháp chuyển dọn từ đại lộ Hai Bà Trưng (boulevard Rollandes) về phố Félix Faure ;

– Trường trung học Paul Bert (Trường Nam Sinh hay Cao Đẳng Tiểu học Nam Sinh Pháp) rời chuyển từ phố Hàng Bài (đường Đồng Khánh) về ăn, ở, học thế chỗ Trường Cao Đẳng Nữ Sinh Pháp ở đại lộ Hai Bà Trưng;

– Trường Cao Đẳng Tiểu Học nữ sinh người Việt gồm Trường Nữ Sinh Bản Xứ và Trường Sư Phạm Nữ Giáo Viên Bản Xứ (École Normale d’Institutrices Annamites), chuyển từ phố Félix Faure về trường Paul Bert vừa mới được sửa sang và mở rộng trên phố Hàng Bài, theo dự án kiện toàn và chuyển đổi trường và lớp do Nha Học Chính Đông Dương tại Hà Nội báo cáo và lập ngày 31 tháng 12 năm 1925.

Giờ tan học – Trường Sư Phạm Nữ Giáo Viên Bản Xứ tại Hà Nội
[Ảnh trích từ sách Le Tonkin scolaire, 1931]

Trường Sư Phạm Nữ Giáo Viên Bản Xứ trong giờ nữ công
[Ảnh trích từ sách Le Tonkin scolaire, 1931]

Năm 1937, do chương trình học thay đổi, Trường Cao Đẳng Tiểu Học Nữ Sinh bản xứ ở Đại lộ Đồng Khánh, gồm Trường Nữ Sinh Bản Xứ và Trường Sư Phạm Nữ Giáo Viên Bản Xứ (École Normale d’Institutrices Annamites) đổi tên, gọi là Trường Trung học Nữ Sinh Bản Xứ (Collège de Jeunes Filles Annamites), hay Trường Nữ Trung học Đồng Khánh.

(Nhưng theo tài liệu [2] : Trường Sư Phạm Nữ Giáo Viên Bản Xứ đổi tên thành Collège des Jeunes Filles tức trường Nữ Trung học Hà nội vào năm 1925).

Năm 1943, Trường nữ Trung học Đồng Khánh di tản về Hưng Yên. Đến tháng 10 năm 1945, trường dọn về khu học Hoàng Mai, khu Đại lý Hà Nội.

Nghị định của Bộ trưởng Quốc Gia Giáo dục
[Trích từ Việt Nam Dân Quốc Công báo, số 6, thứ bảy, 27/10/1945, tr.67.]

Ngày 14 tháng 2 năm 1946, Bộ Trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe ra Nghị định, số 85 đổi tên những trường trung học tại Bắc Bộ. Theo đó, Trường Nữ Trung học Hà Nội đổi tên gọi là Trường Trung học Hai Bà Trưng. (Hai Bà Trưng là thủ lãnh khởi binh chống lại chính quyền đô hộ Đông Hán, là hai vị anh hùng dân tộc tượng trưng cho độc lập tự do của dân Việt Nam.Xem sơ lược tiểu sử Hai Bà Trưng trong phần Phụ đề).

Đến đầu năm 1948, cơ sở của trường Đồng Khánh ( hay Trường Trung học Hai Bà Trưng) trên phố Hàng Bài vẫn chưa được lấy lại để làm trường học. Trường phải chuyển đến phố Hàng Than và đến cuối năm 1948, trường chuyển về trường Tiểu học Pháp ở số 9 đầu đại lộ Hai Bà Trưng và bắt đầu mở tới lớp Đệ Nhị. Năm ấy, 1948 , cũng là một mốc thời gian quan trọng, đánh dấu một lần đổi tên mới là Trường Nữ Trung học Trưng Vương.

(Tuy nhiên tài liệu [2] viết là : Sau năm 1945, đổi tên là trường Nữ Trung học Trưng Vương, nhưng trường sở bị chiếm làm cơ sở bộ Quốc phòng, nên học sinh phải học chung với trường Nữ Tiểu học ở phố Lò Đúc-tên cũ là Avenue Armand Rousseau).

Việc mang tên mới là Trường Nữ Trung học Trưng Vương, hay Trường Nữ sinh Trưng Vương được ghi lại trong những bài viết và hồi ký của nhiều thế hệ nữ học sinh ở Hà Nội, Huế và Sàigòn như một dấu ấn đáng nhớ của ngôi trường.

Theo tài liệu [2] : Bà Tăng Xuân An, tốt nghiệp Cao Đẳng Sư phạm Đông Dương làm Hiệu trưởng trường Trung học Trưng Vương đến ngày di cư vào Nam.

Năm học 1950-1951, ngôi trường trên phố Hàng Bài (đường Đồng Khánh) bắt đầu được dùng trở lại làm trường học. Tuy vậy, trường Trung học Trưng Vương chưa được về đây khai giảng năm học này mà là trường trung học Nguyễn Trãi. Trường Trưng Vương vẫn tiếp tục hoạt động ở số 9, phố Hai Bà Trưng đến năm 1956.

Theo tài liệu [3,4] : Năm 1954 sau hiệp định Genève, giáo sư và học sinh trường Trưng Vương Hà Nội di cư vào Sàigòn. Nhưng vì không có trường sở riêng để thiết lập lại, trường phải học nhờ trường Nữ Trung học Gia Long (khóa buổi chiều) trong 3 năm đầu.

Ban giám đốc đầu tiên trường Trưng Vương Sàigòn gồm có: bà hiệu trưởng Tăng Xuân An, bà giám học Nguyễn Thị Phú và bà tổng giám thị Nguyệt Minh.

Vì lý do trường Gia Long không đủ phòng học cho tất cả các học sinh trường, ban giám đốc đã gửi một số học sinh qua học ké ở hai trường Nam trung học : Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Hai trường nầy cũng mới di cư vào Nam , vào thời điểm nầy cũng đang học ké ở trường Petrus Ký và trường Nam tiểu học Trương Minh Ký. Tuy vậy hai trường nầy đã làm nhiều cố gắng để tương trợ trường bạn.

Theo tài liệu [5] : Niên khoá 1955-56,trong số khoảng 2000 học sinh trường Chu Văn An thu nhận, có 144 nữ sinh từ trường Trương Vương chuyển qua.

Theo tài liệu [6] : ‘’ Lớp chúng tôi hơn sáu chục người là những nữ sinh đã trúng tuyển vào lớp đệ thất trường nữ trung học Trưng Vương. Vì trường trong tình trạng mới di chuyển vào Nam và đang phải học nhờ trường nữ trung học Gia Long, nên thiếu phòng để cho các nữ sinh học, do đó bà hiệu trưởng của chúng tôi bèn gửi chúng tôi đến trường trung học Nguyễn Trãi để nhờ thầy hiệu trưởng Trần Văn Việt dạy dỗ lớp chúng tôi giúp bà. (Lúc đó, trường Nguyễn Trãi đang học ké ở trường Nam tiểu học Trương Minh Ký nằm trong khu vực đường Nguyễn Thái Học ,Trần Hưng Đạo và Hồ Văn Ngà).

Có thể, chỉ duy nhất lớp chúng tôi là con gái nên chúng tôi được là con cưng của trường Nguyễn Trãi . Thầy hiệu trưởng lo cho lớp chúng tôi rất nhiệt tình và chu đáo lắm nhưng cũng rất nghiêm, thầy sắp xếp cho lớp tôi học nơi phòng cuối cùng của dẫy nhà nằm quay mặt hướng vào sân trường còn lưng thì quay về đường Trần Hưng Đạo, chúng tôi không đi lối cổng chính cùng với nam sinh của trường, là cổng mở ra trên đường Nguyễn Thái Học.Lớp tôi được ưu tiên đi cổng nhỏ dành riêng cho quí vị giáo sư được mở ra ở bên hông của trường về phía đường Trần Hưng Đạo, ngay sau lưng lớp học của chúng tôi. Giờ ra chơi chúng tôi không bao giờ được phép ra sân mà chỉ quanh quần ở trong lớp hoặc ra mái hiên sau lưng lớp học về phía đường Trần Hưng Đạo. Tôi còn nhớ gần đến ngày nghỉ hè, sân trường Nguyễn Trãi vàng rực một mầu hoa điệp đẹp mê hồn. Sau hai niên khóa bà hiệu trưởng Tăng Xuân An đón cả lớp chúng tôi về lại trường nữ trung học Trưng Vương vì bà hiệu trưởng vừa lo được cơ sở mới, khang trang và rộng rãi tọa lạc trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm gần sở thú’’.

Đến năm 1957, trường Trưng Vương dời về số 3 (tài liệu [7] ghi là 3A ) đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, quận 1, Sàigòn.

Địa điểm này,ngày xưa là khu vực cơ sở của trường École Normale d’Instituteurs (“Nooc – man”). Đến tháng 7 năm 1947, khu vực này trở thành Quân Y viện Coste của quân đội Pháp. Bởi vậy không lấy làm lạ khi đây là một trong những ngôi trường mang đậm dấu ấn kiến trúc Pháp và được bình chọn là ngôi trường có kiến trúc đẹp nhất Sàigòn.Và vào khoảng năm 1954 (hay 1955?), chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chia khu vực Quân y viện Coste này thành 3 phần: dãy nhà bên trái là trường nữ trung học Trưng Vương , phần giữa là Nha Tổng Giám Đốc Trung Học (sau này là Nha khảo thí, lo việc thi cử ở bậc Trung Học), dãy bên phải góc Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Du là trường nam trung học Võ Trường Toản. (Xem thêm chi tiết trong bài Collège d’Adran và bài École Normale d’Instituteurs của cùng tác giả).

Mỗi thứ Hai đầu tuần, học sinh Trưng Vương trang nghiêm làm lễ chào cờ trong sân trường, sau đó xếp hàng nghe những lời dặn dò của cô tổng giám thị Vũ Thị Nguyệt Minh trước khi vào lớp (tài liệu [7]).

Nữ sinh Trưng Vương trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm
(hình trích từ tài liệu [8])

Nữ sinh trường Trưng Vương mặc đồng phục áo dài màu trắng. Những tà áo dài thướt tha của các nữ sinh trường như những cánh bướm lượn mãi trong ký ức về một thời thanh bình, tươi đẹp.

Con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa đã là chủ đề của một bài ca lời Việt của nhạc sĩ Nam Lộc , bâng khuâng với cảm giác nắng vương nhẹ gót chân, với lá rơi đầy sân. Cảm giác ấy có lẽ sẽ được những nữ sinh Trưng Vương ngày đó mang theo trong ký ức của họ đến mọi nẻo đường trong cuộc đời.

“Tim em chưa nghe rung qua một lần
Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
Tình trần mong manh như lá me xanh
Ngơ ngác rơi nhanh…”

(Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu – Lời Việt: Nam Lộc) (tài liệu [9]).

Khoảng giữa thập niên 1960, bài hát Con Đường Tình Ta Đi của nhạc sĩ Phạm Duy với những lời ca mộng mị: “…Lá đổ để đưa đường/Hỡi người tình Trưng Vương” đã làm xáo động những trái tim mới lớn (tài liệu [10]).

Sau đây là một đoạn văn viết bởi một ‘’nạn nhân từng bước chân âm thầm’’ của các cô nữ sinh Trưng Vương (tài liệu [11]) :

‘’Lớn lên một chút, vào trung học đệ nhất cấp, sau giờ tan học về nhà, tôi thích đạp xe tà tà dọc theo các con đường Cường Để, Nguyễn Bỉnh Khiêm… để được đi dưới những hàng me rợp mát và lượm những trái me chín rụng xuống, hồi xưa gọi là me “dốt” ngon “hết biết” .

Khi tôi lên lớp 12 , khi trái tim bắt đầu biết… rung rinh sau mỗi chiều tan học, cứ mãi đạp xe phía sau tà áo dài trắng của người con gái Trưng Vương, mà quên cả đường về nhà! Không gì đẹp hơn dáng hình người con gái “vóc hạc xương mai” trong tà áo dài trắng thong thả nhẹ nhàng đạp chiếc “mini” dọc theo con đướng Nguyễn Bỉnh Khiêm có hàng me cao rợp bóng. (Xe đạp mini là xe đạp có bánh xe đường kính 450 hoặc 550 mm, khác với xe đạp nam có bánh xe đường kính 650 hoặc 700 mm; tay cầm xe đạp mini cũng cong hơn, thích hợp với con gái).

Vào mùa Hạ , hàng me có đầy hoa phượng đỏ thắm đan xen, xào xạc cành lá đong đưa cùng tiếng ve sầu réo rắc’’.

Đẹp biết bao nhiêu hình ảnh cô nữ sinh Trưng Vương áo dài trắng đạp xe tan trường về nhà dọc theo hàng me cao tỏa rộng cành lá xanh tươi điểm những chùm hoa phượng đỏ thắm đó (tài liệu [12]).

Tác giả tài liệu [13] đã có một nhận xét khá lý thú như sau :’’ Ở khu Đa Kao, ngay góc đường Đinh Tiên Hoàng và Tự Đức là trường nữ tiểu học Đinh Tiên Hoàng. Trường Đinh Tiên Hoàng nằm xéo cổng sau trên đường Tự Đức của trường nam tiểu học Lê Văn Duyệt .Hai trường tiểu học này là hai trường láng giềng lân cận . Có một sự liên hệ rất đặc biệt là nhiều nữ sinh Trưng Vương có gốc gác từ trường tiểu học Đinh Tiên Hoàng trong khi nhiều nam sinh Võ Trường Toản lại xuất thân từ trường tiểu học Lê Văn Duyệt’’. Lên bậc trung học những học sinh nữ và nam này lại học ở hai trường kế bên nhau trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ! Do vậy, có rất nhiều mối tình thưở thiếu thời Trưng Vương – Võ Trường Toản, chúng vẫn đẹp mãi trong lòng những người cựu học sinh hai trường.

(Xin ghi thêm là trường Nguyễn Trãi sau khi di cư vào Sàigòn,trong 8 năm liên tiếp, từ năm 1956 đến 1964, cũng gửi học sinh trường đến học ké buổi chiều ở trường tiểu học Lê Văn Duyệt).

Tường mặt tiền trường
Gốc cây này là nơi nữ sinh Trưng Vương đã bu quanh chiếc xe đạp của ông bò khô để thưởng thức ôi biết bao mùi vị thơm ngon ngọt ngào cay chua cùng tụ lại… trên đĩa gỏi nhỏ. (Tài liệu [14]).

Hằng năm , nhờ là học sinh Trưng Vương, nên mỗi lần làm lễ kỷ niệm Hai Bà vào ngày 6 tháng 2 Âm Lịch, hai nữ sinh Trưng Vương được ưu tiên tuyển chọn làm Trưng Trắc, Trưng Nhị cưỡi voi trong lễ diễn hành.

Hai Bà Trưng oai phong lẫm liệt trên 2 con voi
Ngày Phụ Nữ 3 tháng 3 năm 1960 tại Sàigòn

Các Nữ Tướng và quân sĩ của 2 Bà Trưng
Ngày Phụ Nữ 3 tháng 3 năm 1960 tại Sàigòn

Ca đoàn trường Nữ Trung Học Trưng Vương đang hợp ca bài “Trưng Nữ Vương”
Ngày Phụ Nữ 3 tháng 3 năm 1960 tại Sàigòn

Xe hoa trường Nữ Trung Học Trưng Vương
Ngày Phụ Nữ 3 tháng 3 năm 1960 tại Sàigòn

Nữ sinh Trưng Vương diễn hành trong
Ngày Phụ Nữ 3 tháng 3 năm 1960 tại Sàigòn

Các phụ nữ đang đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm Hai Bà Trưng tại công trường Mê Linh- Ngày Phụ Nữ 3 tháng 3 năm 1960 tại Sàigòn

Các đại diện phụ nữ đang đứng trước đài tưởng niệm Hai Bà Trưng
tại công trường Mê Linh
Ngày Phụ Nữ 3 tháng 3 năm 1960 tại Sàigòn

Lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương
Ngày Truyền Thống Trưng Vương
(năm chưa xác định được)

Lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương
Ngày Truyền Thống Trưng Vương
(năm chưa xác định được)

Bà Hiệu trưởng Tuyết và các giáo sư cùng quan khách trên bộ Giáo Dục
tới dự lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương
(Tài liệu [14]).

Lễ Hai Bà Trưng tổ chức tại trường Trưng Vương – năm 1968
(hình trích từ tài liệu [8])

Theo tài liệu [15,16] : Vào năm 1963, giữa trường Trưng Vương và trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt có một sự thỏa thuận hoán chuyển học sinh lớp Đệ Nhất.

‘’Sau lớp Đệ Nhị, học sinh lớp Anh Văn sinh ngữ chính Lê Văn Duyệt được chuyển qua Trưng Vương học Đệ Nhất vì năm đó trường chưa có cấp lớp này, trong khi lớp Đệ nhất Pháp văn sinh ngữ chính của Trưng Vương thì lại được qua học tại Lê Văn Duyệt. Nhưng chỉ vài năm sau thì trường Lê Văn Duyệt có lớp Đệ Nhất và và học sinh tiếp tục học năm cuối tại trường’’.


Học sinh chụp hình với giáo sư
năm chưa xác định được
(Hình trích từ tài liệu [8])

Học sinh chụp hình lưu niệm với giáo sư – năm chưa xác định được

Học sinh chụp hình lưu niệm với giáo sư – năm chưa xác định được

Học sinh chụp hình lưu niệm với giáo sư năm 1969

Nữ sinh trường Trưng Vương
năm 1972

Nữ sinh trường Trưng Vương
năm 1974

Giáo sư Nguyễn Thị Đức, dạy môn Lý-Hóa từ năm 1961 cho đến 1975 của trường, trong buổi đại hội toàn cầu, kỷ niệm 100 năm thành lập trường Trưng Vương, cho biết các học sinh Trưng Vương, ngoài cố gắng học giỏi, còn có truyền thống do bà hiệu trưởng Tăng Xuân An để lại, đó là tinh thần tôn sư trọng đạo, trong nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa nói chung và trường Trưng Vương nói riêng (tài liệu [7]).

Theo tài liệu [17] : Năm 1975, trường trung học Tự Đức (hậu thân của trường Nam Tiểu Học Lê Văn Duyệt trên đường Phan Đình Phùng) bị giải tán và học sinh được chuyển sang trường Trưng Vương để học xong năm cuối cùng của bậc trung học (lớp 12).

Sau năm 1975, trường Trưng Vương đổi tên thành Trường Phổ thông Trưng Vương cấp 3 (đệ nhị cấp từ đệ tam đến đệ nhất) hỗn hợp nam và nữ học sinh ( tài liệu [3]).

Phụ đề : Sơ lược tiểu sử Hai Bà Trưng

Theo tài liệu [18,19,20,21,22] : Hai Bà Trưng là cháu ngoại vua Hùng,chị em sinh đôi sinh ngày 13 tháng 9 năm 14 sau Tây Lịch), quê ở Mê Linh (Yên Lãng, Phúc Yên nay thuộc vùng Hạ Lôi, Yên Lãng, Vĩnh Phúc). Cha là Trưng Định, làm quan Lạc Tướng ở huyện Mê Linh.Cha mất sớm, được mẹ giáo dưỡng chu đáo, thường gọi là bà Man Thiện ( còn gọi là bà Mèn Thiện) tên thực là Trần Thị Đoan, dòng dõi Hùng Vương, sau này là lão tướng của hai con gái, quê ở làng Nam Nguyễn, huyện Ba Vi, Sơn Tây.

Đất Mê Linh là đất bản bộ của các vua Hùng, kéo dài trên hai bờ sông Hồng từ phía trên của đỉnh tam giác châu Việt Trì (Phú Thọ) cho đến gần Hà Nội và trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Hà Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với phần lớn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hà Tây hiện nay.

Gia đình quan Lạc tướng làm nghề nuôi tầm ươm tơ cho nên lấy tên quen dùng của nghề nghiệp đặt cho con gái. Trong nghề nuôi tầm lấy kén, lứa kén đầu gọi là kén chắc, lứa kén sau gọi là kén nhì.Làng Hạ Lôi nơi có đến thờ Hai Bà dân làng vẫn còn kiến húy, không gọi là Chắc mà goi là Vững, không gọi là Nhì hay Nhị mà gọi là Nhợ.

Tương truyền Hai Bà là người có võ nghệ, cao lớn,đạo hạnh nhân từ, được mọi người kính phục.Bà Trưng từng hạ được voi,bắn được cọp.

Bà Chắc kết duyên cùng ông Thi Sách, con trai lạc tướng Chu Diên. Lãnh thổ Mê Linh và Chu Diên liền cõi, hai gia đình lạc tướng là thông gia, khiến thanh thế của họ càng thêm mạnh, uy danh càng thêm lớn.

Năm 34 sau Tây Lịch, nhà Hán cử thái thú Tô Định sang Giao Chỉ. Tô Định xóa bỏ chính sách của các thái thú thời trước dùng tục cũ để cai trị. Tô Định áp dụng luật Hán, hạn chế hoặc tước bỏ quyền hành của các Lạc tướng.Tô Định là kẻ tàn bạo, tham lam và hiếu sắc.Y ngang ngược giết nhiều hào trưởng và lạc tướng. Ông Thi Sách gửi thơ tố cáo hạch tội Tô Định.Thi Sách bị Tô Định bắt đem giết (Cũng có truyền thuyết nói Tô Định đem quan đến đàn áp, Thi Sách chống đỡ không nỗi nên bị giết). Cái chết của Thi Sách đã châm ngòi cho cuộc tổng khởi nghĩa. Cuộc nổi dậy đồng loạt của dân Việt Nam năm 40 đã âm ĩ trong khắp nước, chỉ chờ cơ hội bùng dậy.

Hai Bà Trưng là những bậc Minh Quân, có tài thu phục nhân tâm, bất kể là nam hay nữ.

Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, tất cả các cuộc khởi nghĩa địa phương được thống nhất lại thành một mặt trận dân tộc rộng khắp quần chúng, từ miền núi đến miền xuôi của nước Âu Lạc cũ.

Trong hàng tướng lĩnh của Hai Bà, đa số là tướng nữ như :

– Bà Thánh Thiên ở Bích Uyển (Hải Hưng), mang nặng thù nhà nợ nước, có tài thao lược, đứng lên chiêu tập nghĩa quân, lực lượng của bà đồn trú ở phía Bắc, áp đảo quân Tô Định ;

– Bà Bát Nàn, chỉ huy đội tiền quân ;

– Bà Lê Chân, nữ tướng vùng An Biên ,chỉ huy nghiã binh đánh quân Tô Định từ phía Bắc, lập được nhiều chiến công hiển hách ;

– Bà Thiều Hoa, ở Lăng Xương (Vĩnh Phúc), người có tài, đức nên được giao phó chỉ huy đạo quân tướng tiền phong mở những trận đánh làm quân Đông Hán khiếp sợ ;

– Bà Phật Nguyệt, chỉ huy thuỷ quân ;

– Nàng Tía ;

– Bà Lê Ngọc Trinh, đại tướng …

Các Nữ tướng đều là kiếm khách :

Tương truyền bà Bát Nànlà tay thần kiếm, người làng Tiên Lữ, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình. Chồng là Lạc tướng bị Tô Định giết chết. Bát Nàn và Bảo Châu cùng nhau chiêu mộ nghĩa bình vùng ven biển và dọc sông Hồng. Kiếm là khí giới chính. Theo truyền thuyết, Bát Nàn có riêng một kiếm pháp.

Bà Lê Chân, một danh tướng của Hai Bà Trưng, cũng là tay võ nghệ bội phần cao cường. Bà là người An Biên,huyện Đồng Triều, Quảng Ninh. Ái nữ của Lê Đạo, nhân sĩ tài đức, nổi danh ớ An Biên. Năm 20 tuổi nổi danh trang nhân sắc. Tô Định mưu bắt bà về làm tỳ thiếp. Tô Định cho người đến gặp Lê Đạo để nói chuyện cầu hôn bà Lê Chân làm vợ nhưng bị từ chối nên trả thù khép tội bội phản nhà Hán để thanh toán. Thân phụ bà chống lại nên bị giết . Bà bỏ làng ra đi cùng một số đồng hương đến vùng biển khai phá mà ngày nay là Hải Phòng. Ban ngày khai phá, ban đêm tập luyện võ ,sau năm năm thao luyện, đội nghĩa binh của bà Lê Chân đã có khả năng chiến đầu thuần thục.

Vùng Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay thờ 35 Nữ tướng , vùng Hà Tây, Hoà Bình, vùng Bắc Ninh thờ hơn 30 Nữ tướng …Và cả người dân Tày Nùng ở Việt Bắc, người dân Choang ở Quảng Tây (Trung Hoa) cũng còn giữ nhiều truyền thuyết và kỷ niệm về tổ tiên xưa tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Cuộc khởi nghĩa bùng lên ở huyện Mê Linh,đó là đất cũ của vua Hùng thuộc bộ Văn Lang.Theo truyền thuyết, ngày 6 tháng giêng năm Canh Tý (năm 40), nghĩa quân của Hai Bà Trưng kéo cờ giống trống đứng lên làm lễ tế cáo trời đất và Thánh thần. Bà Trưng uy nghi trong bộ binh phục màu vàng, khăn vàng, cầm kiếm bước lên lễ đài vào giữa đêm Xuân núi rừng Mê Linh, bà đọc bốn lời thề :

Một xin rửa rạch thù nhà ,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba, kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻn vẹn sở công lệnh này.

Lời thề này của Trưng Trắc đã được ghi lại trong Thiên Nam Ngữ Lục .

Trước mặt các lạc tướng, hào trưởng, hào kiệt, tướng sĩ yêu nước, Bà Trưng Trắc, vị lãnh đạo tối cao đọc lời tuyên cáo:

Tôi là nữ lưu nhưng đau xót nhân dân phải lầm than, vì có người nước khác là Tô Định giữ thói dê, ngược chính hại dân, Tôi là cháu ngoại triều Hùng, không thể điềm nhiên, mới đem nghĩa binh mà trừ bọn nghịch tặc, cúi xin trời đất, Thánh thần giúp cho lũ chúng tôi lấy lại giang sơn, đó là đại đức của trời đất nâng đỡ chúng tôi vậy.

Lễ xong chia các đạo quân cùng kéo đi, chiên trống ở dưới trận thuyền, cờ tán trên đường đến thẳng thành Tô Định.

Hai Bà Trưng là những thiên tài quân sự, “tốc chiến tốc thắng”. Tài trí của Hai Bà trong thiên hạ ít có ai sánh kịp (hàng ngàn năm sau này mới có thiên tài Quang Trung Nguyễn Huệ). Sử gia Ngô Thời Sỹ trong “Việt Sử Tiêu Án” đã viết: “Bà Trắc rất hùng dũng, đi đến đâu như gió lướt đến đấy…”.

Chính sử của ta ghi Hai Bà Trưng lấy 65 thành, tức 65 huyện theo hệ thống hành chánh dưới thời nội thuộc Đông Hán. Sau khi chiếm được Liên Lâu còn gọi là Luy Lâu, đuổi được Tô Định, nghĩa quân lui về dọc theo sông Đáy vừa tiếp tục cày cấy vừa chuẩn bị chiến đấu.

Mùa hè năm Canh Tý (40) Bà Trưng Trắc được tướng sĩ tôn lên làm vua, hiệu là Trưng Nữ Vương, đóng đô ở quê nhà là lỵ sở huyện Mê Linh cũ, chấm dứt 150 năm Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước Tây Lịch đến 39 sau Tây Lịch). Bà Trưng Nhị được phong là Bình Khôi Công chúa nắm giữ toàn thể quân lực. Các tướng sĩ khác đều được phong thưởng chức tước, tiền bạc, ruộng đất. Dân cả nước được xá thuế hai năm liền.

Cuộc khởi nghĩa năm 40 của Hai Bà Trưng làm rúng động triều đình nhà Hán. Vua Hán phải để 2 năm chuẩn bị, phong Mã Viện làm Phục Ba Tướng quân đi đánh Giáo Chỉ với quân số 12 ngàn tinh binh cộng thêm 12 ngàn lính bản xứ tuyển ở Giao Chỉ với 2 ngàn thuyền xe lớn.

Cuộc kháng chiến giữ nước khởi từ năm 43 dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng trải dài suốt dọc qua 4 mặt trận đẫm máu là 4 pho sử tuyết lệ anh hùng :

– Mặt trận từ vùng Lạng Sơn trở xuống phía nam và tây nam thuộc các huyện Yên Dũng, Quế Võ và Gia Lương- Bắc Ninh;

– Mặt trận Lãng Bạc thuộc huyện Tiên Sơn-Bắc Ninh;

– Mặt trận Mê Linh , kinh đô Mê Linh, huyện Yên Lãng, Vĩnh Yên;

– Mặt trận vùng Cấm Khê (Kim Khê) vùng Kim Đái-Ba Vì giáp ranh 3 tỉnh Sơn Tây, Hà Đông và Hòa Bình;

– Trận tử chiến trên cửa biển Thần Phù chỉ huy bởi Nàng Tía ;

Cuộc kháng cự cuối cùng, đẫm máu nhất ở các huyện Võ Thiết, Dư Phát, Võ Biên và Cư Phong từ Ninh Bình đến Cửu Chân.

Tại mặt trận Mê Linh mùa hè năm 43 , quân sĩ Hai Bà gặp hai sức tấn công một lượt, Mã Viện từ phía đông tấn tới, quân Thục từ phía Bắc kéo xuống. Hai Bà không lui về Mê Linh, mà rút quân về Kim Khê để dựng căn cứ kháng chiến lâu dài cự địch.

Mã Viện sau khi lấy Mê Linh, vây hãm Kim Khê. Cuối cùng quân Hán chiếm được Kim Khê. Hai Bà Trưng cùng chiến sĩ chiến đấu đến cùng vượt khỏi vòng vây Kim Khê tiến ra sông Hát đề về Hát Môn. Giặc đánh rất gắt, chúng dồn hết lực lượng đuổi theo đạo quân của Hai Bà, khi tiến đến sông Hát, thì bị địch quân vây kín. Thế cùng lực kiệt, Hai Bà trầm mình trên sông Hát để bảo toàn danh tiết vào ngày 6 tháng 3, nhằm ngày mồng 6 tháng 2 Âm Lịch năm Quý Mão – năm 43 (tài liệu [11] ghi là 5 tháng 3 năm 43 ) .Theo Nam Sử, Hai Bà hưởng dương 29 tuổi. Nhân dân nhớ ơn lập đền thờ tại xã Hát Môn. Để tỏ lòng tôn kính, hàng năm vẫn tổ chức lễ kỷ niệm hai vị anh thư Trưng Trắc và Trưng Nhị vào ngày mồng 6 tháng 2 Âm lịch.

Được tin Hai Bà tuần tiết, ở nhiều nơi, các nữ tướng và nghĩa quân vẫn anh dũng chiến đấu, không một cánh quân nào bỏ chạy. Các mặt trận chiến đấu đến giọt máu cuối cùng :

– Bà Bát Nàn đem quân chặn các cửa rừng hóc núi ;

– Bà Nữ tướng Thánh Thiên ở Bích Uyển (Hải Hưng) vẫn tiếp tục chiến đấu với quân của Mã Viện, bởi quân ít thế cô bà theo gương Hai Bà Trưng để giữ vững tiết tháo nhảy xuống sông tuần tiết;

– Bà Lê Chân ra sức lấp suối ngăn sông chặn đánh thuỷ binh địch. Năm 42, quân Mã Viện hai mũi giáp công với thủy bộ,.Tuy quân ít nhưng bà vẫn kiên trì cầm cự trong thời gian khá lâu cho đến khi thất thế bà tự vẫn để nêu cao khí tiết bậc nữ tướng;

– Nữ tướng Cao Thị Liên tự sát tại mặt trận;

– Năng Quốc, Ngọc Kính và nhiều tướng sĩ khác lần lượt hy sinh;

– Các nữ tướng Phùng Tú, Phùng Huyền, Hoàng Cát đều tự sát hay trầm mình dưới sông;

– Bà Xuân Nương đánh thục mạng, bị thương, chạy về đến quê nhà ở Hương Nộn thì mất;

– Đào Kỳ bị thương nặng , phóng ngựa về quê nhưng đến Cỗ Loa thì chết;

– Bà Phương Dung thấy chồng chết, rút gươm tự vẫn theo chồng;

– Bà Vĩnh Huy tự vẫn;

– Ông Nguyễn Tam Trinh lúc ấy 70 tuổi, tuần tiết;

– Nàng Tía vừa 20 tuổi,nhảy xuống cửa biển Thần Phù quyên sinh;

Đến tháng 11 năm 43, Mã Viện mới tiến quân được vào đến Cửu Chân, nơi tướng Dô Dương và Chu Bá cùng nghĩa quân vẫn cầm cự và chiến đấu đến giọt máu cuối cùng.. Các thủ lĩnh địa phương và nhân dân Cửu Chân tiếp tục chiến đấu.

Mã Viện tàn sát hàng nghìn nghĩa quân, hàng trăm tướng lĩnh của ta, hơn 300 thủ lĩnh bị bắt và bị đày về Tàu .

Sau gần 20 tháng chiến đấu anh dũng từ tháng 4 năm 42 đến tháng 11 năm 43, cuộc kháng chiến chống giặc Hán và Mã Viện của nhân dân Việt Nam mới tạm chấm dứt.

Cuộc chiến đấu bảo về độc lập tự do bị thất bại. Đất nước và nhân dân Việt Nam lại bị phong kiến phương Bắc đô hộ lần thứ hai kéo dài đến 5 thế kỷ (43-544).

Nhưng khởi nghĩa và chiến đấu lãnh đạo bởi Hai Bà Trưng đã mở đầu cho truyền thống đấu tranh chống các thế lực phương Bắc đô hộ nước Việt Nam . Là tấm gương để các bậc anh hùng hào kiệt dân tộc kế tiếp nhau đứng lên đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập chủ quyền dân tộc.

Giáo sư Phạm Cao Dương đã viết trong cuốn “Lịch sử dân Tộc Việt Nam ”: “Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của người Việt chống lại chế độ đô hộ của người Tàu, giành độc lập. Cuộc khởi nghĩa này thường được coi như là biểu dương cho tinh thần bất khuất của dân tộc ta trước sự tràn lấn thường trực và mãnh liệt của Hán tộc cũng như vai trò và khả năng lãnh đạo của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam thời cổ”.

Hai Bà Trưng là hai vị anh hùng dân tộc tượng trưng cho nền độc lập tự do của dân Việt Nam. Nhân dân Lưỡng Việt (Hoa Nam) cho đến sau này vẫn tôn thờ Hai Bà Trưng là bậc liệt nữ của họ .Theo Toàn Thư, thổ nhân cũng thương mến Trưng Nữ Vương làm đền thờ.

Hai Bà Trưng là “đàn bà nước Nam”, là những vị nữ anh hùng, nữ danh tướng không phải chỉ hiếm thấy trong lịch sử Việt Nam, mà cả trong lịch sử thế giới nữa !

So sánh sự nghiệp cứu nước của Hai Bà Trưng với bất luận nhân vật nữ kỳ tài nào của thế giới như Jeanne d’Arc của Pháp, Hai Bà Trưng là nhân vật vĩ đại nhất chưa từng có nhân vật nào lẫm liệt như Hai Bà. Cuộc tổng khởi nghĩa mùa Xuân năm 40 đã là anh hùng, có một không hai trong lịch sử Đông Phương và cả thế giới.

Tài liệu tham khảo :

  1. Nguyễn Văn Trường – Những dấu ấn lịch sử của trường nữ sinh đầu tiên và duy nhất tại Hà Nội-Trithucvn- 29/10/2019.
  2. Vũ Lục-Thủy- Trường Hồ Ngọc Cẩn-Quê Tôi.
  3. Bách khoa toàn thư – Trường Trung học phổ thông Trưng Vương, thành phố hcm.
  4. Cựu nữ sinh Trưng Vương Houston họp mặt -Thời Báo-12/05/ 2017.
  5. Lê Văn Lâm và Bùi Đình Tấn biên soạn- Bản dự thảo Kỷ Yếu Trung học Chu Văn An Sàigòn-Kỷ niệm : 50 năm thành lập (1954 – 2004) & 26 năm giải thể (1978 -2004).
  6. Lan Chi (NT+TV 55-62) Sân Trường Xưa- Đặc san Trung học Nguyễn Trãi Sàigòn 2012 – Cựu học sinh trường Nguyễn Trãi Sàigòn.
  7. Trưng Vương đại hội toàn cầu, kỷ niệm 100 năm thành lập trường -Người Việt 23/09/ 2017.
  8. Góc nhỏ sân trường – Ký ức những ngôi trường cũ tình xưa trước 1975.
  9. Sàigòn xưa- Nhìn lại các trường nữ trung học nổi tiếng của miền Nam trước năm 1975 (nguồn: https://nhacxua.vn/).
  10. Facebook – Sàigòn Xưa – 08/11/2019.
  11. Bạch Đằng – Những hàng me lưu luyến.
  12. Thu Duyên – Me Sàigòn.
  13. Nguyễn Như Sơn (VTT 66-73) – Mạng Hội ái hữu cựu học sinh Võ Trường Toản – Con Đường Kỷ Niệm – 12/2016.
  14. Mạng Cộng đồng người Việt Ottawa – Trường trung học Sàigòn xưa.
  15. Vũ Thị Mai – Sàigòn Lang Thang – Trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt.
  16. Hoàng Thụy Văn – Hội Ái Hữu trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt – Đại Hội Thế Giới 2017-28/09/2017.
  17. Mạng Ái Hữu Tự Đức- Tự Đức High School Alumi – Lịch sử Trường Trung học Tự Đức – Cô Hồ Thị Oanh và bạn M. Quý đã kể lại lịch sử trường.
  18. Cao Thế Dung -Chân Dung phụ Nữ Việt Nam trong Văn Hoa Sử-Nhà xuất bản Tiếng Mẹ-1990.
  19. Di sản văn hóa thế giới-Hoàng Thành Thăng Long-Chuyện kể về Hai Bà Trưng -20/08/2013.
  20. Song Thuận (Câu Lạc Bộ Hùng Sử Việt)-Hai Bà Trưng muôn thuở vẫn oai danh – Mạng Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Nam California.
  21. Vương Trùng Dương tổng hợp -Danh nhân Việt Nam Lược sử – Trưng Nữ Vương (40-43) – Mạng Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương Nam California.
  22. Bách khoa toàn thư – Hai Bà Trưng.

—>32-Trường Võ Trường Toản
<—Mục lục

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Trường Trung Học Phổ Thông và Tổng Hợp ở Sàigòn - Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s