TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG và TỔNG HỢP ở SÀIGÒN-CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH trước năm 1975 (92…101)

Trường trung học kỹ thuật & Mỹ Thuật ở Sàigòn & Gia Định
(TM tổng hợp và bổ túc)

92-Trường kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ
Quận 1, Sàigòn

Tiền thân của trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ là lớp dạy nghề có tên là Cours d’Apprentissage thành lập vào năm 1898 ở số 25 đường Chasseloup Laubat (sau là đường Hồng Thập Tự). Đến năm 1969, trường Nguyễn Trường Tộ dời về địa chỉ số 65 đường Tự Đức.

Đây là trường kỹ thuật công lập đầu tiên và lâu đời nhất ở miền Nam Việt Nam, tính đến năm 1975 đã hiện hữu 78 năm ở Sàigòn. Trong suốt quá trình hoạt động, chương trình giảng dạy và đào tạo của trường đã được cập nhật ,cải tổ và hiện đại hóa liên tục theo những nhu cầu đòi hỏi nhân lực do sự phát triển của kỹ nghệ .

Vào thời Pháp, trường là Trường Dạy Nghề sau đổi tên là Trường Bá Nghệ. Đến thời Việt Nam Cộng Hòa trở thành trường Kỹ thuật công lập đệ nhất cấp chỉ nhận nam sinh , sau đó được nâng lên đệ nhị cấp kỹ thuật công lập cộng thêm hai ban họa kiến trúc và thương mại, từ đó trường có thêm thêm nữ sinh ban thương mại.

Chính vì vậy lịch sử thành lập của trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ có thể chia làm ba giai đoạn :

Giai đoạn 1- Trường Dạy Nghề hay Trường Bá Nghệ
Từ năm 1898 đến năm 1959.

Theo tài liệu [1,2] : Hai năm sau khi người Pháp chiếm Gia Định , năm 1861, Đô đốc Bonard đã ra lệnh thiết lập ụ tàu ở Xưởng Thủy (hay Thủy Xưởng) của nhà Nguyễn trước đây, nhưng do đất đá ở đó khó làm nên đến 28 tháng 6 năm 1864 mới hoàn thành để làm cơ sở sửa chữa tàu chiến tàu buôn từ Châu Âu sang, cũng như đóng tàu chiến mới. Cơ sở này được đặt tên là Asenal de Saigon trực thuộc Hải Quân Pháp, sau được gọi là Xưởng Ba Son. (Nguồn gốc danh từ Ba Son được trình bày trong Phụ đề 1).

Bản đồ Sàigòn trước năm 1859 đã ghi dấu vị trí của Xưởng Thủy (Thủy Xưởng)

Arsenal de Saigon ( Xưởng Ba Son) nhìn từ Thủ Thiêm

Cổng chính vào Arsenal de Saigon ( Xưởng Ba Son)

Để đào tạo thợ lành nghề phục vụ cho ngành đóng và sửa tàu bè của Hải quân Pháp, năm 1898, Arsenal de Saigon thành lập dưới hình thức một lớp dạy nghề có tên là Cours d’Apprentissage, tọa lạc tại số 25 đường Chasseloup-Laubat.

(Phụ chú : Cho đến thời Việt Nam Cộng Hoà, trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ hậu thân của Cours d’Apprentissage và trường kỹ thuật Cao Thắng vẫn là lò đào tạo và cung cấp thợ chuyên môn tốt nghiệp ban Chuyên Nghiệp cho Xưởng Ba Son).

Lần lần trường được xây cất thêm và ít lâu sau đổi tên là École D’Apprentissage de Cochinchine.

Năm 1904, trường được cải tổ mở rộng thêm và đổi tên là: École Professionnelle de Saigon. Trường chỉ thu nhận học sinh ngoại trú.

Nhưng đến năm 1919, Trường thu nhận học sinh nội trú.

Năm 1942, Trường đổi tên là: École des Métiers.

Tài liệu [3] cho biết thêm rằng từ năm 1904 đến năm 1942 , trường đã đổi tên nhiều lần như sau đây :

École Professionnelle d’Industrie , sau đổi tên là École Pratique d’Industrie trên đường Chasseloup-Laubat, ở ngã ba với đường Miche (sau là đường Phùng Khắc Khoan). Như thế, trường École Professionnelle d’Industrie chính là trường École Professionnelle de Saigon viết trong tài liệu [1].

Bởi nghị định số 477-1 B/2 của Thống Đốc Nam Kỳ ngày 27 tháng 1 năm 1942, trường École Pratique d’Industrie trở thành trường École Des Métiers.

Sau đó, bởi nghị định của Toàn Quyền Đông Dương , số 315-D ngày 5 tháng 7 năm 1942, trường École Des Métiers và trường École Rosel (sau là trường trung học kỹ thuật Cao Thắng) được họp lại dưới tên École Technique de Saigon (Trường kỹ thuật Sàigòn) và được ủy thác cho cùng một ban hành chánh quản trị.

Học trình của trường École Des Métiers là 3 năm nội trú. Học sinh tốt nghiệp ra trường được cấp văn bằng : Certificat d’Aptitude Professionnelle.

Lớp học xưa của trường
Giờ Kỹ Nghệ Họa

(Chú thích : Trong hình trên, thầy giáo mặc áo dài, đầu đội khăn đóng – Và mặc dầu có ghế ngồi nhưng phần lớn học trò đứng vẽ vì lý do là đứng vẽ sẽ có một cái nhìn tổng quát trên hình, dễ thấy được sai sót và vẽ nhanh hơn vẽ ngồi. Ngay cả sau này trước khi có máy AutoCAD, các hoạ viên chuyên nghiệp kỹ thuật cũng đứng vẽ.

Vào thập niên 1960, học môn kỹ nghệ họa này rất là tốn kém và nhiều nhiêu khê cho học sinh. Thật vậy,học trò phải tự mua sắm : một bảng vẽ bằng gỗ với kích thước cắt đúng tiêu chuẩn quốc tế ISO, một thước Tê, một cặp ê-ke, một hộp compas đủ cỡ lớn khác nhau, giấy vẽ đặc biệt, viết chì hai ba loại, gôm, lọ mực đen còn gọi là mực Tàu, bút viết mực, giấy chậm, một cây bút tire-ligne để vẽ với mực, lưỡi lam Gillette không phải để cạo râu mà để cạo giấy vẽ mực. Tất cả đều được nhập cảng từ Pháp. Thử tưởng tượng bằng cách nào học trò phải mang hết các thứ đồ lỉnh kỉnh này trong cặp, hay túi trên người để đến trường bằng xe đạp hay xe gắn máy trên đường phố Sàigòn.

Môn kỹ nghệ họa này hàm chứa hai lãnh vực: Nghệ Thuật và Kỹ Thuật :

-Nghệ Thuật : Hoạ viên phải có đầu óc nhiều tưởng tượng để hình tượng ra một cơ phận hay một đồ vật chưa hiện hữu;

-Kỹ Thuật : Hoạ viên phải vẽ cơ phận này theo đúng các tiêu chuẩn quốc tế ISO, cho kích thước và dung sai (tolérance) như thế nào mà cơ phận này khi xử dụng có hiệu quả cao, có thể chế tạo ra được với một giá thành hợp lý để có thể mang ra thị trường).

Năm 1945, khi Nhật chiếm Sàigòn, Trường bị chiếm làm Công Binh Xưởng.

Năm 1946, khi Pháp trở lại, trường École Des Métiers tạm trú
và hoạt động lại trong cơ sở trường Collège Technique (kỹ thuật Cao Thắng)
và đổi tên là Centre d’Apprentissage. Trong khi đó, trường École Des Métiers trên đường Chasseloup Laubat bị quân đội Pháp tiếp thu và bị chia ra làm đôi, một phần để cho Cảnh Sát sử dụng (Thời Việt Nam Cộng Hòa là trụ sở cảnh sát Quận 1). Cơ sở của trường chỉ còn một phần tư, gồm một nhà hai tầng làm văn phòng, một dãy lớp học có một tầng lầu chạy dọc theo hàng rào với tòa nhà sau là Tòa Đại Sứ Pháp, và một phần xưởng với sân chơi. Phần còn lại của Trường lấy địa chỉ mới là: 25 bis Chasseloup-Laubat.

Năm 1948, Centre d’Apprentissage cải tiến thêm và đổi tên là École Pratique d’Industrie de Saigon. Trường này tuyển học sinh có bằng Sơ học (Certificat d’Études Primaires Complémentaires) với học trình 3 năm nội trú.

Chương trình học gồm hai phần: Văn hóa và Tập nghề .

Văn hóa: Tất cả học sinh học chung các môn:

  • Đại số,
  • Hình học,
  • Lý hóa,
  • Cơ khí,
  • Điện, Kỹ nghệ Họa,
  • Kỹ thuật học,
  • Quốc văn,
  • Pháp văn.

Thực tập nghề: Mỗi học sinh học một trong các nghề sau đây:

  • Nguội,
  • Tiện,
  • Mộc,
  • Hàn,
  • Gò,
  • Đúc
  • và Kỹ nghệ Họa.

Học sinh tốt nghiệp ra trường được cấp văn bằng : Certificat d’Étude Pratiques Industrielles (CEPI). Văn bằng này được công nhận tương đương với bằng Brevet Professionnel IndustrielDiplôme D’Études Primaires Supérieures Indochinoises bởi Circulaire No 77/P4 ngày 05/03/1942 và Note Postale No 144/P4 ngày 08/04/1942 của Phủ Toàn Quyền Đông Dương.

Đến năm 1949, Trường École Pratique d’Industrie de Saigon trở về cơ sở cũ số 25 đường Chasseloup-Laubat.

Năm 1952, Trường bãi bỏ chế độ nội trú.

Năm 1957, Trường đổi tên là: Trường Thực Nghiệp Sàigòn.

Giai đoạn 2 – Trường Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhất Cấp Nguyễn Trường Tộ
Từ năm 1959 đến năm 1972.

Theo tài liệu [1,2] :

Năm 1959, Trường Thực Nghiệp Sàigòn đổi tên là Trường Trung Học Thực Nghiệp. Học trình của trường là 4 năm ngoại trú.Học sinh tốt nghiệp ra trường được cấp văn bằng Trung Học Kỹ Thuật Đệ nhất Cấp.

Năm 1960, qua kế hoạch viện trợ Colombo, nước Tân Tây Lan viện trợ cho Trường một chương trình dài hạn trang bị máy móc và dụng cụ cho các Ban trong Xưởng.

Năm 1962, Trường Trung Học Thực Nghiệp đổi tên là Trường Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ, đặt theo tên của ông Nguyễn Trường Tộ – văn sĩ, nhân sĩ, kiến trúc sư và nhà cải cách xã hội Việt Nam ở thế kỷ 19. (Sơ lược tiểu sử Nguyễn Trường Tộ được trình bày trong Phụ đề 2).

Cổng trường tại địa chỉ số 25 bis đường Hồng Thập Tự

Theo một cựu giáo sư của trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ, tác giả tài liệu [4] :

‘’Lúc mới thành lập chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Kể từ niên khóa 1955-1956, tiếng Việt được dần dần dùng trong việc giảng dạy từ cấp lớp Đệ Thất (Lớp 6 sau này) sau đó tiếng Việt được dùng hoàn toàn cho việc giảng dạy cho tất cả các môn học ở mỗi cấp lớp.

Muốn vào học trường trung học kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ, học sinh phải có Văn Bằng Tiểu Học (hay văn bằng Certificat của Pháp) để được thi tuyển vào các lớp Đệ Thất.

Kể từ niên học 1964-1965,Trường chỉ tuyển sinh vào cấp lớp Đệ Ngũ (lớp 8 sau này). Học sinh muốn dự thi phải có ít nhất chứng chỉ lớp Đệ Lục (lớp 7 sau này) hoặc có Văn Bằng Tiểu Học tính đến ngày nộp đơn thi ít nhất là hai năm. Về tuổi tác có thể lớn hơn học sinh trường phổ thông 1 năm’’.

Cũng cần ghi thêm là , trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ mặc dầu là trường công lập trực thuộc Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ, nhưng trường có hai loại học sinh :

Học sinh Nguyên Công thi đậu qua các kỳ thi tuyển chính thức tổ chức hàng năm, học miễn phí . Ngoài ra ,các học sinh Nguyễn Công ưu tú nhà nghèo còn được cấp học bổng hàng tháng, không nhiều lắm, nhưng đủ tiền mua sách vở và tiêu vặt;

Và học sinh Bán Công, không qua thi tuyển ,xin vào học phải đóng tiền học phí. Tuy nhiên số học sinh Bán Công rất ít so với số học sinh Nguyên Công. Hơn nữa trong lúc học tập, không có sự phân loại cá biệt.

Trong chương trình giảng dạy, trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ có hai ban: Ban Chuyên Nghiệp và Ban Kỹ Thuật Toán.

1/ Ban Chuyên Nghiệp : Học nghề chuyên môn 3 năm. Chương trình gồm 2 phần:

– Học Văn Hóa : Việt Văn, Công Dân, Sử Địa, Toán, Sinh Ngữ (Anh hay Pháp), kỹ Nghệ Họa, Thể dục, Thể thao;

– Học Nghề: Mỗi học sinh chuyên học một trong các nghề sau đây: Nguội, máy Dụng Cụ, kỹ Nghệ Gỗ, kỹ Nghệ Sắt, Điện kỹ Nghệ, Động Cơ (máy xăng và máy dầu cặn), Đúc và kỹ Nghệ Họa.

Các học sinh ban Chuyên Nghiệp học nhiều giờ các môn nghề chuyên môn và ít giờ các môn văn hóa phổ thông.

Sau 3 năm , học sinh Ban Chuyên Nghiệp thi lấy bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp Kỹ Thuật Ban Chuyên Nghiệp.

Học sinh tốt nghiệp có thể: Xin làm thợ chuyên môn trong Hải Quân Công Xưởng Ba Son hay các xí nghiệp khác hoặc Thi tuyển vào Trường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ để ra làm việc với chức Cán Sự.

2/ Ban Kỹ Thuật Toán : Đệ nhất cấp, 2 năm từ đệ ngũ tới đệ tứ. Chương trình gồm 2 phần:

– Học Văn Hóa: Gồm các môn Việt Văn, Công Dân, Sử Địa, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ (Anh hoặc Pháp) kỹ Nghệ Họa, Mỹ Thuật Họa, Thể dục, thể thao;

– Thực tập nghề: Mỗi học sinh lần lượt học qua các nghề: Nguội, Mộc, Gò, Điện nhà, Cơ khí (Máy nổ 2 thì).

Các học sinh Ban Kỹ Thuật Toán học nhiều giờ văn hóa phổ thông và ít giờ các môn nghề.

Học sinh tốt nghiệp ra trường được cấp văn bằng Trung Học Kỹ Thuật Đệ nhất Cấp Ban Toán và được chuyển lên học Đệ Nhị Cấp ban Toán ở Trường kỹ Thuật Cao Thắng. (Xem thêm chi tiết trong bài Trường Trung Học Kỹ Thuật Cao Thắng của cùng tác giả).

Vào khoảng giữa thập niên 1960, hai văn bằng Trung Học Kỹ Thuật Đệ nhất Cấp Ban Chuyên Nghiệp và Ban Toán được bãi bỏ. Học sinh chỉ cần đủ điểm trong hai kỳ thi lục cá nguyệt trong năm là được cấp bằng.

Theo tài liệu [4] : ‘’Số giờ học hàng tuần cho tất cả các môn, kể cả việc thực tập ở các xưởng thường từ 40 đến 44 giờ, chia ra ngày 2 buổi.

Các em học sinh kỹ thuật cặm cụi học các môn phổ thông và lý thuyết kỹ thuật các môn chuyên nghiệp ở lớp , sau đó khệ nệ mang bảng vẽ sang phòng Kỹ Nghệ Họa, rồi lầm lũi mang đồ nghề xuống để thực tập. Một tuần các em phải quần quật ít nhất là 40 giờ … Còn sức đâu mà quậy để mang tiếng là học sinh của trường “dao búa”. Những mỹ từ dao búa vẫn đeo đẳng theo với học sinh Kỷ Thuật cho mãi đến tận bây giờ’’.

Cũng xin bổ túc thêm là danh từ Dao Búa này có thể đến từ sự việc sau : Các học sinh ban kỹ thuật Toán đệ nhất cấp một tuần một ngày và học sinh ban Chuyên Nghiệp gần như mỗi ngày, phải mang theo đồ nghề cá nhân như dũa, búa… (tuyệt nhiên không có dao) khi đi học thực tập làm công tác xưởng. Học trò trường phổ thông khác, trông thấy các dụng cụ nầy nên mới đặt ra chữ trường “dao búa “?

Ban giám hiệu và giáo sư giảng huấn năm 1966 trong ký ức tác giả bài này, gồm có :

  1. Hiệu Trưởng : Ông Phan Kim Báu;
  2. Tổng Giám thị : Ông Trần Văn Sáng;
  3. Giám Thị : Ông Bùi Khắc Triệu ;
  4. Giám Xưởng : Ông Lâm Văn Trân ;
  5. Việt Văn :
    -Nguyễn Phấn,
    -Nguyễn Thế Xương ;
  6. Toán :
    – Phan Đình Du (lớp đệ ngũ),
    – Vũ Duy Thuận (lớp đệ tứ) ;
  7. Kỹ Nghệ Họa:
    – Phạm Minh Phước,
    – Nguyễn Mai Ninh (lớp đệ ngũ),
    – Ông Xuân (lớp đệ tứ) (Giáo sư Xuân nổi tiếng là khó tính nhưng ông dạy rất dễ hiểu, học trò lĩnh hội rất nhanh chóng các phương pháp vẽ kỹ nghệ họa, vẽ được và vẽ đúng và từ đó không còn sợ môn này nữa);
  8. Xưởng Nguội : Tạ Quan Mùi;
  9. Xưởng Kỹ Nghệ Sắt :
    -Hồ Văn Dầy,
    -Hồ Ngọc Thu;
  10. Xưởng Điện : Bùi Danh Dinh.

Tổng Giám thị : Ông Trần Văn Sáng
Giáo sư Phan Đình Du
chụp trước của xưởng
Giáo sư Phan Đình Du
chụp với học sinh

Sau đây là phần miêu tả cơ sở trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ vào giữa thập niên 1960.

Trường Nguyễn Trường Tộ tọa lạc trên đường Hồng Thập Tự ngó xéo ra ngã ba đường Phùng Khắc Khoan.

Từ ngoài đường nhìn vào cổng trường, bên trái về hướng đường Mạc Đỉnh Chi là Ty Cảnh sát Quận Nhất, bên phải về phía đường Hai Bà Trưng là khu vực Toà Đại Sứ Pháp.

Toà Đại Sứ Pháp Toà Đại Sứ Pháp
trên đường Thống Nhất năm 1968
Xa hơn là tòa Đại Sứ Hoa Kỳ

Ở ngã tư đường Phùng Khắc Khoan với đường Trần Cao Vân có biệt thự của trung tướng Đặng Văn Quang và nhiều biệt thự sang trọng khác. Khu vực có rất nhiều cây cao bóng mát lại ít xe cộ lưu thông. Đặt biệt là hai bên đường Phùng Khắc Khoan, trồng toàn những cây me. Khi có gió nhẹ và nắng vàng,những chiếc lá me rơi rơi, trông dễ thương và thơ mộng vô cùng !

Vì vậy vào buổi trưa trong lúc chờ giờ trường mở cửa, học sinh trường hay tụ tập, nói chuyện ,đùa giỡn ồn ào, tuy vậy chủ nhân các ngôi biệt thự này chưa bao giờ lên tiếng khiếu nại với trường.

Xa hơn cuối đường là tư dinh của Đại Sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam. Do đó xe cộ của nhân viên tòa đại sứ Mỹ thường di chuyển qua lại trên đường này. Tuy nhiên hình như họ không có quan tâm đến sự hiện diện đông đảo của học sinh trường trên đường này. Ôi một thời thanh bình.

Cổng trường được trang bị với một cổng sắt cao rộng chỉ mở lúc học sinh vào học và tan trường. Kế bên cổng sắt này có một cửa nhỏ cũng bằng sắt. Sát bên cổng này, bên trái, là phòng giám thị để tiện việc canh chừng mấy học sinh đi học trễ hay cúp cua đi ra ngoài trong giờ học (Xem hình dưới đây). Mỗi buổi sáng, ông giám Thị Bùi Khắc Triệu đứng ngay đây quan sát đồng phục học sinh và kiểm soát các đồ cấm mang vào trường như thuốc lá… Sau lưng phòng giám thị là nơi để xe của nhân viên nhà trường.

Bên phải là một tòa nhà một từng lầu.
Tầng trệt được dùng làm văn phòng hiệu trưởng, phòng giáo sư,
phòng hội Phụ Huynh học sinh và vài lớp học.
Lầu trên là các phòng học.

Giáo sư Phan Đình Du
Sau lưng là tòa nhà lớp học ngó ra đường

Sau lưng và song song với tòa nhà này là nhà để xe đạp cho học sinh. Nhà này rất đặc biệt bởi vì nó có mái che mưa che nắng, không có tường, trên trần có nhiều móc để học sinh dựng đứng xe. Gần đó có một chỗ bán bánh kẹo, đồ ăn vặt cho học trò.Nhà vệ sinh công cộng cũng nằm trong khu này.

Trên đường vào cổng chính của xưởng, bên trái có một phòng học dùng làm phòng dạy kỹ nghệ hoạ.

Bên trái của hình là phòng dạy kỹ nghệ họa

Ngay trước mặt là khu xưởng gồm có xưởng Gỗ, xưởng Nguội, xưởng Sắt, xưởng Điện và xưởng Cơ khí . Lưng của khu xưởng nầy dính liền với tường sau của Tòa Đại Sứ Mỹ có cổng chính phía bên đường Thống Nhất. (Xem hình dưới đây).

Không ảnh Tòa Đại Sứ Mỹ – Góc trái trên hình là trường Nguyễn Trường Tộ

Phía trên hình là một phần mé sau của tòa nhà Đại Sứ Mỹ

Mé sau của tòa nhà Đại Sứ Mỹ-
Bên dưới hình là mái xưởng trường Nguyễn Trường Tộ (mũi tên đỏ)

Mỗi năm trước ngày Tết, trường cho phép tất cả các lớp được tổ chức Tiệc Tất Niên.

Tiệc Tất Niên

Học trò hùn tiền mua đồ trang trí phòng học cho có không khí Tết, mua bánh mứt, kẹo thèo lèo, nước ngọt Xá Xị hay con Nai Phương Toàn, tổ chức văn nghệ ca hát mừng Xuân. Ban giám hiệu và giáo sư sẽ đi viếng từng lớp, chúc Tết học trò và nếm bánh trái học trò bưng mời. Học trò cũng nhân dịp này Cung Chúc Tân Xuân các giáo sư và nhân viên trường. Vui như ngày Tết.

Học sinh lớp đệ tứ ban kỹ thuật Toán niên khoá 1967-68
chụp hình trước lớp học, sau Tiệc Tất Niên 1968 –
(Hình sưu tập của một cựu học sinh,ông TQ)

Học sinh lớp đệ tứ ban Kỹ Thuật Toán niên khoá 1967-68
chụp hình trước cổng chính của Xưởng , sau Tiệc Tất Niên 1968

(Hình sưu tập của một cựu học sinh,ông TQ)

Giờ tập thể dục thể thao của học sinh :

Học sinh tập võ trong sân trường trước cổng xưởng

Học sinh tập đá banh trong sân vận động Hoa Lư đường Đinh Tiên Hoàng
Đứng giữa hình là thầy hiệu trưởng Phan Kim Báu (?)

Một đội đá banh Trường trong sân vận động Hoa Lư
Trên cao của hình là tòa nhà của đài Phát Thanh Sàigòn

Năm 1966, thành lập dự án xây cất Trường kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ mới ở trên khu đất địa chỉ số 4 đường Hùng Vương, bao quanh bởi khu nhà Chú Hỏa trên đường Lý Thái Tổ, đường Hùng Vương và đường Pétrus Ký , để lại bởi Trường Quân Y sau khi trường này dời về đường Nguyễn Tri Phương nối dài, từ năm 1964. Khi ấy, nơi đây đã có gắn bảng ghi rõ địa điểm xây cất Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ.

Nhưng vào Tết Mậu Thân năm 1968, bọn việt cộng tổng tấn công thành phố Sàigòn và Gia Định, nhiều nhà dân khu Vườn Lài, Sư Vạn Hạnh bị cháy, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa dùng khu đất địa chỉ số 4 đường Hùng Vương làm khu tạm trú và cứu trợ cho đồng bào bị hỏa hoạn, sau này không thể lấy lại ,nên chánh phủ xây Trung Tâm kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ ở Thủ Đức để đền bù cho Trường.

Cũng trong cuộc tổng tấn công này , Toà Đại Sứ Mỹ bị việt cộng đột nhập. Vì vậy sau đó, để được an ninh, Toà Đại Sứ Mỹ mua lại toàn bộ khu đất và cơ sở của Trường và bằng lòng đền cho cơ sở mới ở Thủ Đức.

Trong khi chờ đợi xây cất, ngày 10 tháng 9 năm 1969, Trường dọn tạm về khuôn viên Nha Kỹ thuật và Chuyên Nghiệp Học Vụ, vì nơi nầy từng là cơ sở của các Trường Kỹ thuật Phan Đình Phùng, Quốc Gia Âm nhạc, Thương mại, Nữ công Gia chánh và cả Kỹ sư Công nghệ, địa chỉ 65 Tự Đức, Quận Nhứt, Sàigòn.

Ngày 14 tháng 9 năm 1969, trường kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ khai giảng niên khóa đầu tiên tại cơ sở tạm, học sinh chỉ còn ban Toán với 2 cấp: Lớp 8 (đệ ngũ) đệ tứ và Lớp 9 (đệ tứ) ban kỹ Thuật Toán. Ban Chuyên Nghiệp tạm thời sáp nhập vào Trung Học kỹ Thuật Cao Thắng.

Ngoài Lớp 8 và Lớp 9 ban kỹ Thuật Toán, trường Nguyễn Trường Tộ còn có Lớp Sinh Công. Sinh công là các học sinh học nghề nhiều hơn văn hóa, do công ty Air Việt Nam gửi sang cho Trường huấn luyện. Mỗi năm Air VietNam trả cho trường một số tiền, các học sinh này sau 2 năm huấn luyện, được Air ViệtNam thu dụng, vì đó là con em của họ gửi đi học. Lúc đó Trường không có nữ sinh.

Theo tài liệu [2] : Tháng 10 năm 1970, ông Phan Kim Báu,hiệu trưởng trường Nguyễn Trường Tộ cho xây thêm một dãy có hai tầng lầu để làm văn phòng trường và lớp học, mỗi tầng có 4 phòng. Xưởng cũ của trường Kỹ Thuật Phan Đình Phùng được ngăn chia thành nhiều xưởng nhỏ, có cửa và cửa sổ, cắt một phần xưởng nầy dành làm xưởng cho Trung tâm Chuyên nghiệp Phan Đình Phùng dạy các nghề tiểu, thủ công nghiệp như Dệt, Sơn mài, In ấn… Học sinh có cả nam và nữ. (Xem thêm chi tiết về Trung tâm Chuyên nghiệp Phan Đình Phùng trong phần Phụ đề 3) .

Những lớp học Trường Kỹ thuật Phan Đình Phùng ngày xưa, nay được dùng làm văn phòng Giám Đốc, Phó Giám Đốc Nha, phòng Khảo thí, phòng Cố vấn Mỹ, có xây thêm Xưởng Máy Dụng Cụ, làm cổng ra vào tại số 55 C trên đường Tự Đức.

Theo tài liệu [5] : Cũng vào khoảng những năm này, chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa phủ đã giải tỏa khu nghĩa địa rộng lớn ở Thủ Đức để cất Trung Tâm Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ, gồm có một giảng đường nối liền với phòng hành chánh, thư viện, bốn dãy lớp học, một số xưởng và bốn dãy ký túc xá với một nhà Hiệu Trưởng. Trung Tâm này do Mỹ viện trợ, Đại Hàn trúng thầu xây cất.

Năm 1972, Bộ Giáo Dục giao cho Trung Tâm Giáo Dục Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ mở tại Thủ Đức nhiệm vụ sáp nhập hai trường Trung Học kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ và Ban Cao Đẳng Sư Phạm kỹ Thuật (Phú Thọ). Nhưng vì sau đó Trung Tâm này được giao hoàn toàn cho Ban Cao Đẳng Sư Phạm kỹ Thuật, trường Trung Học kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ vẫn tiếp tục hoạt động trong khuôn viên Nha kỹ Thuật Học Vụ.

Giai đoạn 3 – Trường Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhị Cấp Nguyễn Trường Tộ
Từ năm 1972 đến năm 1975

Theo tài liệu [4] : Kể từ niên khóa 1972- 1973, Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ, chuyển thành Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhị Cấp, bao gồm học sinh Nguyễn Trường Tộ và Kỹ Thuật Gia Định .

Trong năm học đó, dưới đường lối chủ trương của ông Phạm Văn Tài ,Hiệu Trưởng, trước đó có theo học Đại Học Kiến trúc , mở thêm 1 lớp Họa viên Kiến Trúc và 1 lớp Thương Mại. Do có lớp Thương Mại nầy mà trường có chừng 10, 15 nữ sinh theo học chung với nam sinh. Theo tài liệu [4] : Lớp Thương Mại được tổ chức dựa theo Plan 1957 (chương trình) của Pháp giống như Trường Quốc Gia Thương Mại của Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ .

Theo ký ức của một cựu học sinh niên khóa đầu tiên ban Thương Mại ,ông QHN : ‘’Năm 1973, trường Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhị Cấp Nguyễn Trường Tộ mở cuộc thi tuyển lần đầu tiên để tuyển học sinh vào lớp 10 của Ban Thương Mại vừa được mở ra. Chương trình thi gồm có Toán, Vật Lý, Hóa Học và Sinh Ngữ. Cuộc thi tuyển rất là gay go vì dự thi có hơn cả trăm thí sinh nhưng trường chỉ nhận khoảng trên 30 học sinh .

Các học sinh Ban Thương Mại phải theo học một chương trình 3 năm : Lớp 10 (đệ tam), lớp 11 (đệ nhị) và lớp 12 (đệ nhất). Học trình giảng dạy gồm có các môn Toán Đại Số (do giáo sư Vũ Thuận của Ban Kỹ Thuật Toán phụ trách) , Vật Lý, Hóa Học, Việt Văn, Lịch Sữ, Địa Lý, Công Dân Giáo Dục, Thể Dục Thể Thao, Sinh ngữ Pháp, Anh, Kế Toán Tư Bản, Đánh Máy Chữ Tốc Ký theo Mẫu Tự Việt Nam, Thương Mãi Thực Hành ,Nghệ Thuật Viết Hợp Đồng và Thơ Từ Thương Mại… (Sau năm 1975, môn Kế Toán Tư Bản bị bãi bỏ và thay thế bằng môn Kế Toán xhcn). Vì không qua các xưởng thực hành nên không học môn Kỹ Nghệ Họa .

Học sinh tốt nghiệp lớp 12 Ban Thương Mại không được cấp văn bằng tú tài 2 như Ban Kỹ Thuật Toán, thay vào đó là văn bằng tốt nghiệp Kế Toán Viên. Chính vì lý do này, phần lớn học sinh Ban Thương Mại đều học thêm ở trường phổ thông bên ngoài để thi lấy bằng tú tài 2 phổ thông.

Những học sinh Ban Thương Mại với bằng tốt nghiệp Kế Toán Viên có thể đi làm trong các xí nghiệp công cũng như tư. Còn những học sinh Kế Toán Viên nào có thêm bằng tú tài 2 phổ thông thì có thể dự thi vào trường Cao Đẳng Thương Mại’’.

Theo tài liệu [4] : Học sinh ban Thương Mại được tuyển thẳng vào Trường Quốc Gia Thương Mại (còn được gọi là Trường Cán Sự Thương Mại).

Trường Trung Học Kỹ Thuật Đệ Nhị Cấp Nguyễn Trường Tộ có : 5 lớp 11, 5 lớp 10 Kỹ thuật, 1 lớp 10 Họa viên Kiến trúc, 1 lớp 10 Thương Mại, 2 lớp 9 và 2 lớp 8 kỹ thuật, 2 lớp Sinh công 1 và 2. Tổng số học sinh trên dưới 500. Giáo sư và nhân viên Trường khoảng 85 người, không kể giáo sư dạy giờ.

Trường có 9 phòng học, văn phòng, phòng học vụ, thư viện. Nha Học Chánh vừa mới cơi lầu xây thêm 1 tầng, được ngăn thành 2 lớp dạy Kỹ nghệ họa. Xưởng có Máy Dụng Cụ, Cơ khí Ô-tô, Gò Rèn Hàn, Kỹ nghệ Gỗ, Điện và Xưởng Nguội.

Ngày truyền thống học đường tại trường Nguyễn Trường Tộ năm 1973
Giáo sư Hoàng Văn Việt điều khiển ban hợp ca

Theo tài liệu [5] : Năm 1974, Trường cơi thêm lầu bốn, gồm bốn lớp học, với vách ngăn có thể tháo ra biến thành hội trường dễ dàng. Nơi đây đã tổ chức Đại Hội Hội Phụ Huynh Học Sinh và Giáo Sư, còn những phiên họp của nhà Trường, như họp Hội Đồng Giáo sư, Hội Đồng Kỷ luật, Hội Đồng thi, thường họp ở Thư viện.

Cựu học sinh thành danh tiêu biểu của trường Nguyễn Trường Tộ có :

  1. Lê Văn Giệp : Kiến trúc sư, với luận án ra trường đặc biệt : Dự án xây ngôi trường Cao Thắng khi ra trường Đại Học kiến Trúc Sàigòn-Tác giả của kiến trúc nhiều ngôi chùa ở Little Sài Gòn, như chùa Bảo Quang, Santa Ana và chùa Điều Ngự, Westminster;
  2. Trương Quyên : Niên khóa 66-68- Du học Tây Đức-Tiến Sĩ Y Khoa, Bác Sĩ gia đình;
  3. Bạch Quang Minh : Niên khóa 66-68- Con giáo sư Bạch Quang Đôi, giám xưởng Động Cơ trường kỹ thuật Cao Thắng-Đậu Ưu tú tài 2 kỹ thuật Toán- Học bổng quốc gia-Du học Tây Đức-Đậu hai bằng Tiến Sĩ : Tiến Sĩ Kỹ Sư và Tiến Sĩ Y Khoa, Bác sĩ chuyên môn về Tai, Mũi Họng;
  4. Nguyễn Quốc Túy : Niên khóa 66-68- Du học Bỉ Quốc -Kỹ sư Điện Cơ đại học Liège, Bỉ Quốc- Maîtrise en Sciences Appliquées (Master), École Polytechnique de Montréal, Québec, Canada;
  5. Nguyễn Quốc Thể : Niên khóa 67-69- Đậu Ưu tú tài 2 kỹ thuật Toán- Học bổng quốc gia-Du học Bỉ Quốc- Tiến sĩ đệ tam cấp về điện tử ở Pháp;
  6. Lê Cẩm Tú : Con Tổng Giám Thị trường kỹ thuật Cao Thắng Lê Văn Thống, Bác sĩ;
  7. Ngô Đình Học : Tiến Sĩ , PhD, là một trong những người từ năm 1991, đã tham gia góp phần sáng tạo bộ gõ chữ Việt WinVNKey, để gõ chữ Việt, Hán, Nôm, Pali;
  8. Lê Thanh Bảo Đức : Tiến sĩ ;
  9. Bùi Huy Hảo : Cựu học sinh lớp Thương Mại sau theo học Y khoa, Bác sĩ Khoa thần kinh.

Sau 30 tháng 4 năm 1975, Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ bị ngụy quyền cộng sản tịch thu. Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ và Trung Tâm Chuyên Nghiệp Phan Đình Phùng sát nhập chung dưới danh xưng mới là Trường Trung Học Công Nghiệp Thành Phố dùng cổng Trường Kỹ Thuật Phan Đình Phùng xưa ra vào, địa chỉ số 2 Phạm Đăng Hưng Quận 1. Trường được sử dụng thêm 6 lớp học, sát đường Phạm Đăng Hưng (tài liệu [6]).

Năm 2011, Trường Trung Học Công Nghiệp Thành Phố được nâng cấp đào tạo trình độ cao đẳng nghề và lấy lại tên trường Nguyễn Trường Tộ trước đây, là Trường Cao Đằng Nghề Nguyễn Trường Tộ .

Phụ chú : Ngôn ngữ của các đỉnh cao trí tuệ của loài đười ươi thật là lục cục lòn hòn. Thật vậy :

Thông thường danh từ Cao Đẳng được dùng chung với các môn học chuyên môn đòi hỏi phải có nhiều kiến thức khoa học cao chẳng hạng như Cao Đẳng Thượng Mại ,Cao Đẳng Điện Học, Cao Đẳng Hoá Học, Cao Đẳng Hàng Không…

Trong khi đó, Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Thí dụ như nghề Nông, nghề thợ Bạc ,nghề thợ Mộc, thợ Sơn, thợ Điện, thợ Máy, thợ Hàn, thợ Tiện Nguội, thợ Gò Đồng Sắt, nghề Đổ rác , nghề Làm Báo, Thầy Cô Giáo, nghề Cứu Thương, Y tá, Bác Sĩ, Nha Sĩ, Dược Sĩ ,Kỹ Sư, Luật sư…

Thử ráp chữ Cao Đẳng với với các nghề kể trên : Cao Đẳng Đổ rác , Cao Đẳng Tiện Nguội, Cao Đẳng Gò Đồng Sắt, Cao Đẳng Dược Sĩ … Chẳng có nghĩa gì cả !

Phụ đề 1 : Nguồn gốc danh từ Ba Son

Theo tài liệu [7] : Cơ xưởng Thủy Quân có tên là Arsenal có từ năm 1861 (tức là dưới 2 năm khi Pháp chiếm được Sàigòn), trước kia quen gọi với danh từ ngoại lai Ba Son. Diện tích Arsenal khoảng 22 mẫu tây, chu vi 2 cây số, đường kính (ở nơi dài nhất) là 850 thước.

Nhà của viên giám đốc sở Ba Son sau là dinh của Đại tướng Lê Văn Tỵ ,Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, góc đường Cường Để-Nguyễn Du. Dinh này xây từ năm 1877.

Nguồn gốc hai chữ Ba Son cũng ở trong vòng định chừng :

Một thuyết cho rằng Ba Son do danh từ Pháp Mare aux poissons gọi tắt lại , đành rằng thưở trước kia giữa Arsenal có một con kinh đào tay, nhỏ nhưng rất nhiều cá tôm, thưở ấy người Pháp thích câu cá tại đây, về sau xẻo nhỏ lấp đi nhưng danh vẫn còn, cho nên sự Việt Nam hóa tiếng Pháp Mare aux poissons ra tiếng việt có phần đứng vững.

Theo thuyết khác lại đổ thừa hồi xưa, đã có một anh thợ nguội tên Son thứ ba, vô làm sở này rồi lấy đó đặt tên sở nọ, thuyết này vô căn cứ.

Thuyết thứ ba thì cho rằng Ba Son do danh từ Pháp Bassin de raboub (ụ sửa tàu) mà có, Bassin : Ba Son, theo tác giả tài liệu [7] cũng có phần đứng vững như thuyết thứ nhứt Mare aux poissons.

Một thuyết khác, theo ông Trần Văn Hương,giáo sư cựu Đô Trưởng Sàigòn (Sau là cựu Thủ tướng và cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà), thì Réparation biến thành Ba Son.

Theo quyển Promenades dans Saigon, tác giả bà Hilda Arnold ghi rằng buổi đầu người Pháp đã xuất ra trên bảy triệu quan thời ấy để lấp đất và xây cái ụ tàu Bassin de raboub này, để có thể sửa chữa các thứ tàu chiến, tàu buôn tại đây mà khỏi đem về tận Pháp quốc.

Ụ tàu nổi được mang từ Pháp sang Sàigòn để thành lập xưởng Ba Son
(Ảnh: LIFE)

Phụ đề 2 : Sơ lược tiểu sử Nguyễn Trường Tộ

Theo tài liệu [8] : Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830 tại làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, qua đời ở Xã Đoài, năm 1871.

Ông là văn sĩ, nhân sĩ, kiến trúc sư và nhà cải cách xã hội Việt Nam ở thế kỷ 19.

Thưở thiếu thời, Nguyễn Trường Tộ học chữ Hán với cha và các thầy ở trong vùng: Tú Giai ở Bùi Ngõa, Cống Hữu ở Kim Khê và quan huyện Địa Linh về hưu ở Tân Lộc.

Ông thông minh, học giỏi, nên được truyền tụng là “Trạng Tộ” . Thế nhưng, ông không đỗ đạt gì, có thể vì ông là người công giáo nên không được đi thi, hoặc là ông không muốn đi theo con đường khoa cử.

Sau khi thôi học, ông mở trường dạy chữ Hán tại nhà, rồi được mời dạy chữ Hán trong Nhà chung Xã Đoài (nay thuộc xã Nghi Diên, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An). Tại đây, ông được giám mục người Pháp tên là Gauthier (tên Việt là Ngô Gia Hậu, về Xã Đoài nhận nhiệm vụ từ năm 1846) dạy cho học tiếng Pháp và giúp cho có một số hiểu biết về các môn khoa học thường thức của phương Tây.

Cuối năm 1858, ông đi cùng giám mục Gauthier vào Đà Nẵng tránh nạn “phân tháp” (sáp nhập hai ba gia đình Công giáo vào trong một làng không công giáo, chứ không cho ở tập trung như trước).

Khoảng năm 1861, ông nhận làm “từ dịch” (phiên dịch các tài liệu chữ Hán) cho Pháp.

Trong bài “Trần tình” (viết xong ngày 7/5/1863), Nguyễn Trường Tộ phân trần rằng: Lúc bắt đầu khởi hấn (đầu năm 1859, tức lúc quân Pháp chuẩn bị tấn công thành Gia Định), quân Pháp có mời ông cộng tác, nhưng ông một mực từ chối. Sau khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (tháng 2 năm 1861), ông thấy rằng phải tạm hòa theo đề nghị của Pháp, để dưỡng quân và củng cố lực lượng. Chính vì thế mà Nguyễn Trường Tộ đã nhận làm từ dịch cho Pháp để mong góp phần vào việc hòa đàm…

Ngày 29 tháng11 năm 1861, Đô đốc Louis-Adolphe Bonard lên thay Đô đốc Léonard Charner, và ông này liền xua quân mở rộng cuộc chiến. Thấy vậy, Nguyễn Trường Tộ không trông mong gì ở cuộc “nghị hòa” nên xin thôi việc.

Theo tài liệu [9] : Tuy xuất thân từ cửa Khổng nhưng Nguyễn Trường Tộ đã dần dần xa lìa lối suy nghĩ Tống Nho. Ông đòi hỏi mọi việc làm phải thiết thực, phải thích nghi và đáp ứng nhu cầu phát triển của dân tộc. Ông không chấp nhận lối suy nghĩ giáo điều, trì trệ, rập theo khuôn sáo cổ nhân.

Sau khi thôi việc, Nguyễn Trường Tộ đã dồn hết tâm trí vào việc thảo kế hoạch giúp nước. Nhờ sự hiểu biết sâu rộng về các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật…, đến đầu tháng 5 năm 1863, thì ông đã thảo xong 3 bản điều trần gửi lên Triều đình Huế là: “Tế cấp luận”, “Giáo môn luận” và “Thiên hạ phân hợp đại thế luận”.

Ngoài ra các bản điều trần khác của ông như Trần Tình khải, Giáo Môn luận và Tế Cấp bát điều, đề xuất rất nhiều kế hoạch cải cách táo bạo, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cảnh trì trệ, tiến lên trở thành một quốc gia dân giàu nước mạnh. Đáng tiếc, những bản điều trần của ông thời đó đã không được được phúc đáp và trọng dụng.

Trong quãng thời gian đó, năm 1862-1864, bằng sự hiểu biết của mình, ông đã thiết kế và chỉ huy việc xây cất tu viện Dòng Thánh Phaolô (Saint Paul) Sàigòn ở 6 đường Cường Để.

Trên tập san Missions Catholiques năm 1876, trong bức thư của vị thừa sai Le Mée, Nguyễn Trường Tộ được nhắc đến với tên gọi là Lân, người được Đức Giám mục Gauthier và linh mục Croc đưa vào Sàigòn.Ông là người được miêu tả rất thông minh và nhân lành đã không nhận bất kỳ khoản thù lao nào khi thực hiện công việc xây dựng tu viện. Ông đã phác họa sơ đồ và là người trực tiếp trông nom việc xây dựng công trình tu viện. Tháng 7 năm 1864, Đức cha Lefèbvre khánh thành nhà nguyện và các cơ sở của Dòng Thánh Phaolô. Các kiến trúc cơ bản của thiên tài họ Nguyễn cách đây gần 150 năm vẫn còn sừng sững cho tới ngày nay (tài liệu [10]) – (Xem thêm chi tiết tu viện Dòng Thánh Phaolô trong bài Trường Saint Paul của cùng tác giả).

Khoảng cuối năm 1864 cho đến đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ đã gửi liên tiếp ba bản điều trần cho đại thần Trần Tiễn Thành, có thể là các bài: “Góp ý về việc mua và đóng thuyền máy” (cuối 1864), “Góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy” (tháng 2, 1865) và “Khai hoang từ” (tháng 2, 1866).

Trong khoảng 3 tháng ở quê nhà, ông giúp Tổng đốc Nghệ An Hoàng Tá Viêm đào kênh Sắt ở Hưng Nguyên.

Tháng 10 (âm lịch) năm Tự Đức thứ 23 (1870), Nguyễn Trường Tộ gửi thư lên Triều đình đề nghị lập lãnh sự ở Sài Gòn và sứ quán ở Pháp để nắm tình hình. Đầu tháng 11 năm đó, ông lại xin được vào Nam tổ chức đánh úp quân Pháp để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ, nhân lúc Pháp đang thua Phổ (Đức) và Cách mạng Pháp đang nổi dậy.

Đầu năm 1871, ông nhận được lệnh cấp tốc ra Huế với lý do “đưa học sinh đi Pháp”, nhưng kỳ thực là để bàn bạc với vua Tự Đức về phương lược quân sự và ngoại giao mà ông đã trình bày trong các văn bản gởi cho Triều đình cuối năm 1870. Nhưng Triều đình Huế bàn đi tính lại mà không đi đến được một quyết định nào: Sứ bộ không được cử đi các nước, kế hoạch đánh úp Pháp để thu hồi 6 tỉnh ở Nam Kỳ cũng không được thực hiện…

Sau mấy tháng ở Huế, có thể là vì không có việc gì để làm, hoặc có thể vì bệnh cũ tái phát, Nguyễn Trường Tộ đã xin phép trở về Xã Đoài (Nghệ An).

Giữa năm ấy, ông về lại Xã Đoài, và đến ngày 22 tháng 11 năm 1871 thì đột ngột từ trần. Lúc ấy, ông chỉ mới khoảng 41 tuổi.

Con ông là Nguyễn Trường Cửu, trong sự tích ông Nguyễn Trường Tộ chỉ nói ngắn gọn rằng: “Qua năm sau, Tự Đức 24 (1871), ngày 10 tháng 10, ông Tộ làm câu thơ rằng: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ” (Một kiếp sa chân, muôn kiếp hận / Ngoảnh đầu cơ nghiệp ấy trăm năm) đoạn thì qua đời. Thọ 43 (41?) tuổi”.

Nhiều chứng cứ cho thấy ông mất vì bệnh xuất huyết bao tử. Riêng giám mục Gauthier cho rằng ông bị đầu độc .

Sau đó, thân xác ông được an táng tại thôn Bùi Chu. Phần mộ của ông xưa kia chỉ là một nấm mộ đất thấp. Năm 1943, với sự đóng góp của ông Từ Ngọc Nguyễn Lân và một số thân sĩ ở Nghệ Tĩnh, một ngôi mộ bằng đá cẩm thạch đã được dựng lên trên một gò đất cao, giữa một cánh đồng rộng.

Theo tài liệu [9] : Tất cả những điều trần Nguyễn Trường Tộ đều rất thứ tự, rất toàn diện, rất hệ thống và đặc biệt là rất trí tuệ. Với tư cách một người trí thức nhiệt tình bàn việc nước, hầu như ông đã bàn không sót một vấn đề hệ trọng nào, không lĩnh vực nào không đề xuất những ý tưởng mới lạ, độc đáo, bổ ích. Chính trị, quân sự, ngoại giao, nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, cải cách phong tục, cải cách giáo dục, khoa học kỹ thuật… ông bàn tất, bàn một cách thấu đáo, sáng suốt lạ lùng.

Nguyễn Trường Tộ của Việt Nam chúng ta quả thật là vĩ đại nhường nào. Tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ đến trước tư tưởng canh tân của Khang Hữu Vi – Lương Khải Siêu (Trung Quốc). Tư tưởng Nguyễn Trường Tộ – Việt Nam là ngang tầm với tư tưởng Y-đằng-bác-văn (Ito Hirobumi) (Nhật Bản) được thực thi đã tạo ra một Nhật Bản hùng cường như ngày nay…

Thật đáng khâm phục cái nghị lực phi thường của Nguyễn Trường Tộ! Giữa một xã hội đặc sệt tư tưởng Tống Nho giáo điều trì trệ. Ông đã viết hàng trăm bản điều trần đề xuất kế sách giữ nước và dựng nước với những ý tưởng mới lạ, táo bạo. Suốt đời, ông đã tâm niệm: “Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa”.

Phụ đề 3 : Trung tâm Chuyên nghiệp Phan Đình Phùng

Theo tài liệu [11] : Trung tâm chuyên nghiệp Phan Đình Phùng được thành lập và khai giảng khóa 1 năm 1969.

Trung tâm này nằm trong khuôn viên của Tổng Nha Kỷ Thuật Chuyên Nghiệp và Học Vụ chung với trường kỷ thuật Nguyễn trường Tộ. Ba cơ sở này có ba cổng ra vào khác nhau :

– Trung tâm chuyên nghiệp Phan Đình Phùng : cổng ra đường Phạm Đăng Hưng;
– Tổng Nha Kỷ Thuật Chuyên Nghiệp và Học Vụ : cổng ra đường Phan Đình Phùng;
– Trường kỷ thuật Nguyễn Trường Tộ : cổng ra đường Tự Đức.

Tác giả tài liệu [11] dùng một hình chụp ngã tư đường Tự Đức và đường Phạm Đăng Hưng hiện nay để chỉ vị trí trước năm 1975 của 2 cổng trường : Cổng Trung tâm chuyên nghiệp Phan đình Phùng (đánh dấu X) trên đường Phạm Đăng Hưng, cổng Nguyễn Trường Tộ (đánh dấu Y) trên đường Tự Đức. (Chú thích : Như đã viết , sau năm 1975 ,Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ và Trung Tâm Chuyên Nghiệp Phan Đình Phùng sát nhập chung dưới danh xưng mới là Trường Trung Học Công Nghiệp Thành Phố dùng cổng Trường Kỹ Thuật Phan Đình Phùng xưa ra vào, địa chỉ số 2 Phạm Đăng Hưng).

Trung tâm Chuyên nghiệp Phan Đình Phùng còn được gọi là Trung Tâm Tiểu Công Nghệ Phan Đình Phùng (tài liệu [4] ) dạy các nghề tiểu, thủ công nghiệp như Dệt, Sơn mài, In ấn… Học sinh có cả nam và nữ.

  1. Hiệu trưởng : Thầy Đổ Văn Bình
  2. Giáo vụ kiêm Giám Thị : Thầy Lê Quyên

Sau đây là hình Thầy Cô Trung tâm Chuyên nghiệp Phan Đình Phùng :


Học sinh Thu Hiền tặng hoa Thầy Hiệu trưởng Đổ văn Bình dịp Tết.

Cô Phùng Thanh Tuyết
và Ông Giám đốc Tổng nha Kỹ Thuật Chuyên Nghiệp Học Vụ

Sau đây hình ảnh học sinh Trung tâm chuyên nghiệp Phan Đình Phùng- 1970:

Lớp Trang Trí và Lớp Sơn mài
(khóa 1970 )
Lớp Ấn Loát và Sơn Mài
(khóa 1970 )

Một vài hình ảnh khác-năm chưa xác định được :

Học sinh Trung tâm chuyên nghiệp Phan Đình Phùng- 1975

Sân trường Phan đình Phùng – xưa và nay năm 2014

Bên hông dãy văn phòng cũ, xưa có cổng trường Phan đình Phùng ra đường Phạm đăng Hưng -Giờ còn khoảng trống.

Sàigòn 300 năm còn bị đổi tên , đường xưa không còn nữa, ngôi trường thân yêu Phan đình Phùng lúc đó chỉ mới lên 5 và dấu tích trường xưa bây giờ có nguy cơ bị xóa sạch !

Tài liệu tham khảo :

  1. Huỳnh Ái Tông – Trường Trung học kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ-Hội Ái Hữu Liên Trường Kỹ Thuật Việt Nam Úc Châu.
  2. Huỳnh Ái Tông -Vài Kỷ Niệm Với Trường Kỹ Thuật Việt Nam – Phần 5 Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ- Hội Ái Hữu Liên Trường Kỹ Thuật Việt Nam Úc Châu.
  3. André Baudrit-Guide historique des rues de Saigon-1re édition-S. I. L. I. Saigon-1943.
  4. Nguyễn Phấn-Nhớ về trường Kỹ Thuật- Hội Ái Hữu Liên Trường Kỹ Thuật Việt Nam Úc Châu-05/07/2009.
  5. Huỳnh Ái Tông-Tản Mạn Về Trung Học Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ.
  6. Facebook-Sàigòn Xưa – Ngôi trường đầu tiên ở Sàigòn mang tên ông Nguyễn Trường Tộ -12/02/2019.
  7. Vương Hồng Sển- Sàigòn Năm Xưa-Sống Mới-1968.
  8. Bách khoa toàn thư-Nguyễn Trường Tộ.
  9. Trần Khuê Kỷ – Nguyễn Trường Tộ – nhà kiến trúc tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XIX.
  10. GB Lê Minh Tâm- Lịch sử Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sàigòn-Báo Công Giáo- 08/07/2016.
  11. Tìm bạn TTCN Phan Đình Phùng Sàigòn-miniblog Thầy Cô và Học sinh trung tâm chuyên nghiệp Phan Đình Phùng Sàigòn Xưa-Tranviethung08@yahoo.com.vn – niên khóa 1970.

—>93-Trường Kỹ Thuật Cao Thắng
<—Mục lục

This entry was posted in 5.Tài-liệu - Biên-khảo, 6.Bạn đọc viết, TM, TM: Trường Trung Học Phổ Thông và Tổng Hợp ở Sàigòn - Chợ Lớn và Gia Định trước năm 1975. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s