TÌNH ĐỒNG ĐỘI, NGHĨA ANH EM ….NGOÀI CHIẾN TRƯỜNG (Captovan-K19)

TÌNH ĐỒNG ĐỘI, NGHĨA ANH EM
….NGOÀI CHIẾN TRƯỜNG

Captovan K19

(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 101- Tháng 5/2014 – 39 Năm Quốc Hận )

Tôi xin kể tình anh em ngoài đơn vị cho các anh em hậu phương nghe những chuyện vụn vặt có thật, hai nhân chứng sống còn đây là các Thiếu Úy Lê Đình Quỳ K20 và Huỳnh Vinh Quang K22. Mà dù không có Quý và Quang thì cũng không thể “nổ” với những người đã khuất như các anh Nguyễn Xuân Phúc .16, Trần Văn Hợp .19, Nguyễn Quốc Chính .20, và các HS1 Bùi Ngọc Đường, Nguyễn Văn Thà.

Khi Đại Đội Trưởng ĐĐ4/TĐ5 “nói nặng” Quỳ, vì tôi là đại đội phó nên vào can, vô tình chạm vào khiến anh chảy máu…mũi, tôi liền bị 15 ngày trọng cấm, bị nhốt Quân Cảnh 202/BTL/TQLC của NT Trần Ngọc Toàn K16, nhưng tối đến thì chúa ngục TNT lấy jeep chở tù tôi ra Saigon chơi, cho thêm tí tiền lẻ, chừng nào hết tiền thì liệu tìm cách mà tự trở về phòng giam. Mãn hạn tù, tôi bị đuổi khỏi TĐ5/TQLC, thuyên chuyển về ĐĐ4/TĐ2/TQLC, gặp ĐĐT là Đ/úy Nguyễn Xuân Phúc, ĐĐP Tr/Úy Trần Văn Hợp và Th/Úy Chính. Anh Phúc và Hợp đối xử lạnh nhạt, coi tôi như “cùi” khiến tôi bực, muốn đào ngũ, (sau này tôi mới biết anh Phúc giao cho Hợp săn sóc, thử lửa tôi). Thấy tôi buồn, Chính đến an ủi, thấy tôi tuyệt thực.. hút thì Chính mồi điếu Ruby Queen nhét vào miệng tôi nói: “thuốc trị bệnh buồn, bia trị bệnh câm”.

Sau những tháng ngày gian nan bên nhau với súng đạn và quân thù, 4 anh em tôi, Phúc Hợp, Cấp, Chính sống với nhau thân tình hơn anh em ruột thịt. Rất buồn là ngày nay, cả ba anh Phúc, Hợp Chính không còn nữa! Các anh là những cấp chỉ huy lý tưởng của Quân Đội, là niềm tự hào của TQLC, các anh đã sống, chiến đấu và hy sinh như thế nào thì tôi đã viết nhiều rồi, nay chỉ xin tóm gọn như thế này:

Binh nghiệp của hai anh Nguyễn Xuân Phúc và Trần Văn Hợp đều đi từ trung đội trưởng lên đến TĐT/TĐ2/TQLC, tiểu đoàn mang danh “Trâu Điên”, hai anh đã góp công cho TĐ2 được 8 lần tuyên dương công trạng trước Quân Đội (với nhành Dương Liễu), mang dây biểu chương màu Tam Hợp và đã được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, PTT, Đại Tướng TTMT cùng phái đoàn tướng lãnh cao cấp đến hậu cứ (trại Lê Hằng Minh, Thủ Đức) để tưởng thưởng. Nhưng vào những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến thì các anh ở đâu?

Anh Nguyễn Xuân Phúc: Anh là Lữ Đoàn Trưởng LĐ369/TQLC, gồm TĐ2 của Th/Tá Trần Văn Hợp, TĐ6 của Tr/Tá Lê Bá Bình.12/TĐ và TĐ9 của Th/Tá Lâm Tài Thạnh.17/TĐ, Lữ Đoàn đang hành quân bảo vệ vòng đai Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3/75.

Sáng ngày 29/3/1975, LĐT Nguyễn Xuân Phúc, LĐP Đỗ Hữu Tùng đã điều động được TĐ2 của Hợp và TĐ6 của Bình về bãi biển Non Nước (ĐN) và sau đó thì cả Hợp và Bình đã lần lượt lên tàu HQ, còn hai anh Phúc và Tùng thì vẫn ngồi trên bãi biển để chờ TĐ9 của Thạnh từ xa đang rút về, và rồi bãi biển Non Nước bị VC pháo kích mù trời, tàu HQ đang đậu gần bờ để vớt anh em TQLC, cũng phải vội vàng tháo lui ra khơi!

Anh Phạm Văn Sắt và tôi đứng trên tàu nhìn xuống mặt nứơc, nhìn quanh sườn tàu HQ, những đám lục bình trôi… những “xác” của anh em tôi bị cuốn theo dòng nước! Ngước nhìn vào bờ, mắt tôi mờ đi vì khói lửa cát bụi mịt mù, hai anh Phúc và Tùng trở về với cát bụi hay không thì không ai biết, các anh mất tích từ đó. Tại sao hai anh không lên tàu HQ như chúng tôi?

Trách nhiệm chỉ huy, tình đồng đội của TQLC Nguyễn Xuân Phúc, Đỗ Hữu Tùng là những tấm gương sáng cho chúng ta soi, những Người Hùng cho thế hệ sau noi theo.

Tôi không “thần thánh hóa” các anh, tôi không nghe tin đồn, tôi nói lại những gì tôi thấy với hy vọng tinh thần đồng đội của các anh cần được nêu cao, không phải vinh danh cá nhân.

Trần Văn Hợp: Tiểu Đoàn Trưởng Trâu Điên cuối cùng. Hợp là bạn tôi, là đồng đội, là thầy tôi, là người Hùng TQLC của tôi, tôi và “nó” cùng ở chung trong trại gia binh Cửu Long, Thị Nghè, sau 30/4/75, nằm cùng chiếu, uống chung một ca nứơc vo gạo mục trong ngục tù CS, rồi chia tay nhau ở rừng núi Bắc Việt, rồi “nó” tử nạn trong ngục tù! Ai biết nguyên nhân chính xác? Tôi không biết, nhưng tôi biết chắc chắn một điều VC rất thù Trâu Điên. Trong buổi “lên lớp” tháng 8/75 ở Long Giao, tên giảng viên nhai “tội ác của ngụy quân” rồi hắn hét lên: “Những cái gọi là Cọp Ba Đầu Rằn, Trâu Điên thì phải thẳng tay trừng trị”.

Có tù nào còn nhớ không? Chắc không, vì có ai thèm nghe chúng sỉ vả mình, nhưng tôi nghe, Hợp nghe vì chúng tôi là “Trâu Điên”, nghe VC nói xong, tôi thúc cùi chõ vào ba sườn Hợp rồi liếc Trâu Điên Trưởng mỉm cười, khẽ nói: “nó đòi thiến mày”. Nào ngờ Trâu Điên “tử nạn” trong vũng bùn, chết trong ngục tù như lời đã báo trước, chính sách “ khoan hồng XHCN” “tao sẽ giết mày”.

Võ Bị/TQLC Trần Văn Hợp đã sống, chiến đấu và “tử nạn” như thế, nếu tôi có nhắc lại thì không phải là vinh danh cá nhân, tôi nhắc lại để vợ con Hợp, thế hệ sau hãnh diện có những chồng, cha, ông TQLC là như thế, như thế.

Xin kể tiếp về đàn em khác, đó là Nguyễn Quốc ChínhHuỳnh Vinh Quang.

Cuối năm 1967, Huỳnh Vinh Quang/22 (A) về trình diện ĐĐ1/TĐ2/TQLC, tôi bảo với Chính, ĐĐP, săn sóc kỹ “chú em này” như khi xưa anh Phúc đã bảo Hợp săn sóc tôi. Lúc đó ĐĐ1 của tôi có 3 trung đội trưởng là các thiếu úy thâm niên, kinh nghiệm chiến trường đầy mình nên tôi cũng cho Quang làm trung đội trưởng luôn, không cần đi OJT theo 3 thiếu úy kia, vì có đàn anh Chính làm thầy nên tôi miễn cho Quang thực tập.

Sau thời gian ngắn thử lửa, Quang dư sức bay solo, nhưng Chính vẫn chưa an tâm, vẫn kìm kẹp thẳng em, dù tôi bảo Chính “tha” cho Quang. Sáng 31/12/1967, ĐĐ1 đổ bộ trực thăng lên kinh Cái Thia, quận Cai Lậy thì đụng nặng, trứơc tình thế nguy hiểm, Chính đã chỉ huy thay Quang điều động và xung phong, rồi…đạn xuyên màng tang, Chính hy sinh!!!.

Quang nằm bên xác Chính khóc, tôi nằm sau lưng Quang khóc to hơn, tôi khóc trên máy khi báo cáo tình hình khiến Đồ Sơn, tiểu đoàn trưởng hoảng hốt. Làm sao quên được cái cảnh khi 3 anh em xà quần trong ruộng nước lúa cao khỏi đầu, trước họng súng địch. Rồi Quang xoay sở kéo được Chính về phía sau!!!

Hơn 40 năm rồi tôi vẫn như còn nhìn thấy những dòng máu chảy ra từ đầu thằng em K20! Nghĩ đến là ước mắt vẫn còn muốn ứa ra, thương thằng em K22. Tôi nghĩ thầm, không biết chừng nào tới phiên nó và mình đây?

Từ sau trận đó, Quang trở thành “tên sát Cộng”, tuy các trung đội luân phiên đi đầu nhưng cứ Quang đi đâu là đụng đó, mà đụng nặng, chỉ trong vòng chưa đầy một năm, cờ TĐ2 được gắn thêm 3 Dương Liễu, trong đó công của Quang không nhỏ.

Tháng 9/68, TĐ2 đổ bộ trực thăng xuống mật khu Bời Lời, nhưng mới xuống được ĐĐ1 của tôi và ĐĐ3 của Đ/Úy Trần Văn Thương thì lọt vào vòng vây của địch, bãi đáp không dùng được nữa nên Tiểu Đoàn 2 (-) đành ứng chiến tại bãi bốc…xin miễn kể chuyện hai bên đánh nhau mà kể chuyện Quang cứu cố vấn Mỹ.

Vì TĐP/TĐ2 là NT Nguyễn Kim Đễ đi học nên cố vấn Mỹ (CV) đi theo tôi, vừa xuống đến nơi thì CV bị thương, bằng mọi cách trực thăng Mỹ phải tải thương CV Mỹ ngay và thả “gà tây” khác xuống thay thế. Họa vô đơn chí, trực thăng Mỹ thả lầm CV Mỹ vào tuyến Việt Cộng (VC), lệnh từ trên cao hai ba tầng mây cho tôi:

– “Bằng mọi giá anh phải tìm và đem CV về ngay”.

– Nhận Đại Bàng 5/5, nhưng phải từ từ, dù sao thì CV đã mất tích hay chết rồi, vội vàng thì lính tôi chết! Kinh nghiệm Bình Giả còn đó. (bực mình vì bị hối nên tôi bạch văn luôn).

Tôi giao cho Quang nhiệm vụ này với lệnh:

– Dùng tối đa súng Mỹ cứu CV Mỹ, không dùng mạng lính mình cứu “xác Mỹ”.

Tôi tăng cường tất cả M60 và M79 của đại đội cho trung đội của Quang và Quang đã tìm, đã đem được CV về. Chàng CV còn sống nhưng bị bắn tét nách bên phải, còn “lính” của Quang thì an toàn 100%. Mỹ lại tải thương CV và Chiến Đoàn Trưởng Tôn Thất Soạn (anh ruột của Tôn Thất Trân/K20) phải cho CV thứ ba xuống thay thế. Mới có nửa ngày mà thay 3 CV thì trận chiến đâu phải nhẹ nhàng gì, mỗi khi trực thăng đến thì lại nghe tiếng nổ “cành, cành”, chắc là súng 12.7 ly đây, đơn vị VC được trang bị loại súng này thì phải là nặng ký lắm.

Chúng tôi chịu trận, suốt đêm, TĐT Đồ Sơn và TB3/TĐ2 là Lâm Đồng Đinh Xuân Lãm.17 bay C&C liên tục để hướng dẫn hỏa long và “lên dây cót” tinh thần thằng em.19 giữa vòng vây địch. Sáng hôm sau tiểu đoàn (-) mới xuống được hết và Tướng Tư Lệnh Nhẩy Dù Dư Quốc Đống, chỉ huy cuộc hành quân này (TQLC biệt phái), đã đáp trực thăng xuống ngay trận địa còn đầy khói súng, nhìn xác địch la liệt, ông gật gù: “tìm đựơc Cố Vấn là giỏi lắm”.

Cấp trên cho đại đội tôi một “bông-dơ-xì-ta”. Cứu CV từ cõi chết về mà chỉ có một bronze star! Silver cũng coi như “pha” chứ cần chi bronze, lính ta không chết vì kiếm xác CV là OK. Tôi ngó Quang, Quang ngó tôi, anh em mỉm cười và đưa tên HS1 Bùi Ngọc Đường, ngừơi cõng CV về, lãnh cái “bông” này. HS1 Đường còn đựơc BTL/SĐ tặng một chiếc xe honda

50. Rất tiếc vì còn hành quân, Đường chưa chưa kịp về phép để lái honda chở đào đi dạo phố thì Đường hy sinh! Đường là cận vệ của tôi, trước Đường, HS1 Thà, người mang máy của tôi cũng banh xác vì B40 sau khi cứu được cố vấn Mỹ.

Ranh giới tử sinh nơi chiến trường cách nhau từng phút giây, mỏng như sợi chỉ, chừng nào tới phiên mình, tới phiên Quang đây? Cái số “sát cộng” thế này thì quả thật tính mạng chúng tôi như “chỉ mành treo chuông”, nhưng đã chọn võ nghiệp, đã được đào tạo từ một quân trường được gọi là danh tiếng, đã tình nguyện là TQLC thì không có đường lui.

Sau mỗi cuộc hành quân, trên bàn nhậu thế nào cũng có những ly bia tràn bọt, đầy mãi mà không có người nâng, điếu thuốc đã đốt mà không có người hút! Bạn còn sống nhớ tới anh và em đã ở lại chiến trường nên cứ mời anh em nhậu và hút thuốc rôi ngâm nga qua hơi men:

-“TQLC sống hùng, sống mạnh nhưng không sống lâu”!

Sự hy sinh của những thằng em, Nguyễn Quốc Chính, HS1 Đường, HS1 Thà xẩy ra ngay trước mắt khiến tôi cứ áy náy mãi, giá như…giá như…Tôi nhớ buổi chiều hôm trước, Chính và tôi nằm trên võng song song với nhau bên bờ kinh, “nhớ nhà châm điếu thuốc” thì Chính còn thêm nỗi nhớ “nhà tôi” mới cưới nên hơi buồn, tôi bảo:

– Mai đổ bộ trực thăng, chú mày đi với trung đội súng nặng, còn Quang thì nó bay solo được rồi.

– Nhưng là nhẩy trực thăng đầu tiên của nó, và tới phiên Trung Đội 14 nó đi đầu.

– Không sao, cả đại đội cùng lần lượt xuống một lúc, tao đi chiếc thứ hai, sẽ đáp xuống ngay sau lưng nó, trung đội vũ khí nặng đi sau cùng…

Thế rồi Chính thương “em mới” nên lại nhẩy lên trực thăng đầu để kèm Quang và nước mắt đã chảy ra. Đôi lúc tôi nghĩ đến câu: “thương phu trích lệ” của những hiền thê có nốt ruồi dưới khóe mắt, Lựu, vợ Chính cũng thế, nhưng đây chỉ là niềm tin, hay đúng hơn là dị đoan. Đã đôi lần tôi ghi lại ý nghĩ này khi viết về Chính, nhưng rồi lại xóa đi cái dị đoan này đi.

Đành rằng những ai lăn lộn với súng đạn thường có những niềm tin, đúng hơn là dị đoan. Trước khi xuất quân mà cần ăng-ten bị gẫy, dây kéo cờ bị kẹt là đơn vị trưởng lo “xón đé”, nhưng dù gẫy hay không gẫy, không kẹt mà đã có súng nổ thì có thương vong.

Một điều chắc chắn, tiền tuyến hy sinh vì nước nhiều hơn hậu phương, chắc chắn Nguyễn Quốc Chính hy sinh vì tinh thần trách nhiệm, vì tình đồng môn chứ không phải vì cái nốt ruồi nào cả, tin dị đoan mà làm mờ tấm gương hy sinh cao quý thì có lỗi với các anh linh rồi.

Trở về với Huỳnh Vinh Quang, tính tình hiền lành mà sao nó “sát” Cộng quá, chưa biết giờ nào, ngày nào sẽ bị Cộng “sát”, tôi phập phồng mỗi khi điều động thằng em lên tuyến đầu, nhưng biết làm sao hơn, TQLC mà.

Từ cuối năm 1968, KQ mở rộng thêm vài sư đoàn nên được TTM cho phép KQ tuyển các thiếu úy và chuẩn úy ở các quân binh chủng khác, TQLC nhận được văn thư này, cũng thông báo các thiếu úy nào muốn thuyên chuyển thì nạp đơn và đã có nhiều thiếu úy nạp, trong đó có Quang. Nhưng với TQLC thì đây chỉ là thủ tục, mấy khi thả gà nòi ra cho đơn vị khác, nạp đơn và nhận đơn cho vui vậy thôi chứ hy vọng gì, dù cho dư sĩ quan thì cũng cứ giữ lại để sẵn sàng thay thế, vì chết nhiều.

Rồi một hôm, khi TĐ2 đang hành quân ở Long Thành thì các đại đội nhận đựơc lệnh từ tiểu đoàn bảo rằng sau cuộc hành quân này, (dự trù kéo dài 7 ngày) thì các đại đội cho sĩ quan nào đã nạp đơn xin sang KQ về trình diện…

Nhân lúc dừng quân ven đường, tôi gọi Quang đến báo tin vui, nhìn mắt thằng em, dường như có nước, tôi nhớ lúc nó khóc Chính, tự nhiên chân tay tôi bủn rủn tôi chơi liều, bảo:

– “Sau hành quân chú mày về trình diện KQ, nhưng có muốn đi bây giờ không?”

Quang nhìn tôi với anh mắt nghi ngờ, không biết tôi nói đùa hay thật, nhưng tôi biết tôi nói thật, tôi sẽ cho Quang “nhẩy dù” ngay vì mấy lý do sau đây:

– Những anh chàng đã có lệnh thuyên chuyển mà còn bị giữ lại để bị vớt vát thêm cuộc hành quân chuyến chót thì thường dễ dính lắm, không tin cũng phải tin. Tôi không muốn Quang theo… đàn anh Chính.

-Tiểu đoàn trưởng biết khả năng của tôi, của Quang, nhất là sau vụ cứu CV Mỹ, và đó cũng là lý do tôi tự tin có thể thuyết phục TĐT khi cho Quang đi trước, coi như cho đi phép.

Không chờ Quang trả lời, tôi nói:

– “Cho chú mày zoọc ngay, ra đường đón xe, zoọc, mọi chuyện tao lo”.

Buổi chiều cùng ngày, sau khi đóng quân xong thì tiểu đoàn gọi máy báo cho các đại đội biết là hủy bỏ lệnh cho các sĩ quan TQLC xin về Không Quân! Tôi không ngờ lệnh thay đổi nhanh như thế. Có lẽ giờ đó Quang cũng chưa về tới Saigon, nếu lệnh hủy bỏ mà tôi cho Quang đi là sẽ rắc rối với ông tiểu đoàn trưởng, nhưng kệ, lỡ rồi, “im lặng là vàng”, sáng mai tính.

Dĩ nhiên là tôi bị “cạo” rồi, nhưng ăn thua gì, lính mà không bị ký củ, không hơi men, không xuống xóm thì họa có là thánh sống, miễn sao thằng em nó thoát cái vòng… con kiến bò quanh miệng chén. Tôi chả hiểu khi về Saigon, Quang đã xoay sở ra sao mà hắn là tên duy nhất lọt về KQ, tất cả những bạn đồng khóa khác cứ vẫn súng đạn trên vai qua 4 vùng chiến thuật, từ Cao Miên, Hạ Lào, Quảng Trị v.v.., đã có nhiều anh ra đi, ngừơi còn lại thì…, vì đất chật, sĩ quan đông, chức vụ đến ngày cuối cùng cũng vẫn luẩn quẩn đại đội trưởng với ban ba, vì đàn anh khóa trước đã mấy ai leo lên cái đỉnh vinh quang là tiểu đoàn trưởng đâu!

Những anh em tôi ngoài đơn vị, sống và chiến đấu bên nhau là thế, chết là thế nên thương vô cùng, nhớ vô cùng, phục vô củng những người đã ra đi, họ trả ơn trường mẹ đã dầy công đào tạo và nuôi dưỡng, không hổ danh là những sĩ quan TQLC xuất thân từ đồi 1515, đồi Tăng Nhơn Phú. Ước mong ở đâu đó, Đa Hiệu, Sóng Thần hay bản tin, tài liệu sách báo, cái danh các anh được nhắc đến, bởi vì các anh không phải là những “Chiến Sĩ Vô Danh”.

Little Saigon 14/3/14
Nhớ về 30/4/75.
Tô Văn Cấp
TĐ2/TQLC

This entry was posted in ***Mùa QUỐC HẬN, 2.Một thời để nhớ, MX Tô Văn Cấp, Người Lính VNCH, Đa Hiệu. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s