TRÔI THEO DÒNG PHÚC-LẠC (Nguyễn Diễm Nga – K17/2 )

TRÔI THEO DÒNG PHÚC-LẠC
(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 115- Tháng 1/2019 )

Cô Diễm Nga, K17/2 trong buổi hội ngộ 55 năm (2017) của Khóa 17

Bỗng dưng, tôi chợt thấy mình trong vai cô nàng June Woo -người dẫn chuyện trong phim “The Joy-Luck Club” (Phúc Lạc Hội) – tên một bộ phim ra đời năm 1993 được dựng theo tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Mỹ gốc Hoa Amy Tan.

Đây là một phim mà tôi rất thích và đã tìm đọc tiểu thuyết để có thể hiểu rõ hơn tâm lý các nhân vật. Trong phim, nữ tài tử Kiều Chinh yêu mến của cộng đồng người Việt chúng ta đã thủ vai bà mẹ Suyuan Woo (mẹ của June Woo) – một trong bốn vai chính trong phim kể về cuộc đời của bốn bà mẹ trong thời Đệ Nhị Thế Chiến xảy ra tại Hoa Lục và sự kết nối giữa họ với thế hệ thứ hai trên xứ sở lưu vong. Một câu chuyện đẹp ghi lại tâm tư qua lăng kính của những người con gái những cảm nghĩ về cuộc đời các bà mẹ qua khói lửa chiến tranh và thời hậu chiến bằng một sự thấu hiểu, cảm thông và đầy kính trọng.

khác chăng là trong câu chuyện của tôi, không phải là bóng hình và cuộc đời của những bà mẹ, mà là của những người cha, người chú dưới màu áo chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà. Câu chuyện của tôi cũng không xoay quanh bàn mạt chược, mà xoay quanh sự nối kết về những đề tài văn bút thân tình. Vì thế, có lẽ là tôi đang… mạo muội, đưa các “ông bố” ngồi vào chiếc ghế của các “bà mẹ”, rất có thể họ sẽ… nổi giận!

Tuy nhiên, tôi có lòng tin rằng họ sẽ tha thứ cho tôi, một khi họ thấu hiểu được những cảm xúc “Phúc-Lạc” trong lòng tôi qua khoảng thời gian mấy chú cháu đã liên lạc cùng nhau trong một tinh thần tương thân tương ái.

Đầu tiên, xin cho tôi chia sẻ về chữ “Phúc” (Luck)

Người xưa thường nói “phúc họa khôn lường” và câu chuyện “Tái Ông thất mã” thường là một lời an ủi cho những ai không may mắn khi gặp… họa. Tái Ông gặp “họa” khi mất con ngựa đực, nhưng rồi lại có “phúc” khi con ngựa đực bỗng dưng quay về mang theo một con ngựa cái, rồi cặp ngựa sinh ra ngựa con. Con trai ông Tái cưỡi ngựa con lại bị cái “họa” ngã ngựa gãy chân. Nhưng vì gãy chân nên anh con trai lại có “phúc” không phải làm một anh lính Tàu… bành trướng. Thật đúng là một chuỗi phúc hoạ khôn lường!

Tôi cũng không may mắn, vì bố tôi không còn ở trên cõi đời này nữa. Nhưng tôi tin rằng bố tôi linh thiêng đã run rủi tôi gặp được những người bạn đồng môn huynh đệ của ông để họ thay thế ông dẫn dắt tôi trên con đường trước mặt.

Tôi cảm thấy tôi quả thật có phúc, vì giống hệt như vị thế của cô nàng June Woo trong Phúc Lạc Hội, tôi đã được ngồi vào chiếc ghế của bố tôi sau khi ông ra đi, để liên lạc, để đối thoại, để đọc và học hỏi từ các bậc cha chú của mình, mà mỗi một vị, vô hình chung, đại diện cho một quân binh chủng hào hùng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.

Các chú bác của tôi, sau bốn mươi ba năm, giờ đây họ đều đã bước vào ngưỡng cửa “xưa nay hiếm”. Có một bài thơ của nhà thơ Du Tử Lê mà tôi rất thích, đó là bài “Lục Bát, 70” với những câu sau:

tôi đi xuyên qua lời thề,
thấy tôi thơ ấu bèo nhèo chiến tranh.

tôi đi xuyên qua màu xanh
thấy trên khung vải nổi gân nỗi buồn.

tôi đi xuyên qua mùi nhang,
thấy như buổi sáng điệu đàng… vết thương.

tôi trôi theo tôi-con-sông…

Tôi thích những hình ảnh ẩn dụ sâu sắc mà nhà thơ đã dùng vì tôi cũng đã bắt gặp “tôi trôi theo tôi-con-sông” và “đi xuyên qua” hình bóng, những câu chuyện, những tác phẩm của cha chú để chợt nhận ra những cảm nghĩ, những nhận định của mình về lịch sử, về cội nguồn đã “trưởng thành” hơn trong khoảng thời gian rất gần đây.

Chính vì thế, tôi tin rằng đây chính là chữ “Lạc” (Joy) mà mình vừa… tìm được!

Nếu trước đây, tuy là “con nhà lính”, nhưng vì “nhi nữ thường tình”, tôi chỉ có một khái niệm khá chung chung về quân đội. Tôi không hiểu rõ nét cho lắm về các Quân/ Binh Chủng khi nghe nói đến. Thì giờ đây, tôi đã hiểu rõ hơn sự khác biệt giữa Quân Chủng và Binh Chủng. Có ba Quân Chủng chính: Không Quân – Hải Quân – và Lục Quân; mỗi Quân Chủng bao gồm nhiều Binh Chủng. Ví dụ như Lục Quân sẽ bao gồm các binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến, Nhảy Dù, Biệt Kích Dù, Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Động Quân, Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, vv…. và cho dù dưới màu cờ hoặc sắc áo nào, thì nhiệm vụ của tất cả những người lính trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà cũng đều là chiến đấu cho lý tưởng Bảo Quốc An Dân vô cùng cao đẹp.

Bố tôi khoác áo Thuỷ Quân Lục Chiến sau khi tốt nghiệp Võ Bị. Vì sao bố tôi lại chọn binh chủng này vẫn là một câu hỏi day dứt trong lòng tôi. Những đứa con như tôi vẫn thiếu sót như vậy đó! Bởi vì tôi đã luôn luôn nghĩ rằng bố tôi sẽ sống đời, sống mãi với chúng tôi, để mỗi khi cần, chúng tôi có thể chạy về bên cạnh để hỏi người. Thật đáng tiếc!

Tuy nhiên, trong cái rủi vẫn có cái may: “Sẩy cha còn chú”. Tôi vui vô cùng khi tìm thấy hình ảnh bố tôi dù chỉ thấp thoáng trong một vài bài viết, trong những lá thư, trong những mẩu chuyện khi liên lạc với các chú đồng môn và niên đệ của bố tôi.

Theo như lời kể của chú Tô Văn Cấp K19 thì bố tôi, cán bộ Nguyễn Tiến Đức Khóa 17, trong tám tuần lễ đầu “huấn nhục” đã dùng cái quyền làm “hung thần” mà “nẹt” các tân khóa sinh Khóa 19 trong đó có chú Cấp, như thế này:

-Chương trình văn nghệ dành cho các tân thiếu úy Khóa 16, các anh là tân khóa sinh K19, tôi đặc biệt cho phép tham dự, nhưng không được phép cười, cấm vỗ tay.

Ôi! Kết quả là các chú dù “vi phạm” vỗ tay hay không thì vẫn bị bố tôi phạt bồng súng Garant chạy mấy vòng sân quanh doanh trại. Về sau này, vì nhu cầu của chiến tranh, quân đội thuyên chuyển bố tôi qua Không Quân, ngành “Huấn luyện”, có lẽ cũng từ sự nổi tiếng vì kiểu “nẹt” rèn luyện tính “huấn nhục” thế này chăng? Xin bật mí một “nickname” của bố tôi là “Đức manh-xà-lam” mà các chú “lính mới” vẫn thường gọi khi bị… cạo!

Có một bài viết đã đưa tôi khởi sự tìm về với cội nguồn “Giống Cùi” của mình khi tôi đang thắc mắc “không biết hỏi ai”. Đó là bài “Thầy Cùi Có Linh Thiêng…” trong Tập San Đa Hiệu số 112 của cậu Bắc Đẩu Võ Ý K17. Và kể từ đó, như là một sự hữu duyên, “tôi trôi theo tôi-con-sông”… trong dòng “Văn Binh” từ nhánh sông này sang nhánh sông khác.

“Đi xuyên qua” các bài viết của cậu Võ Ý, tôi hiểu được rằng đằng sau lớp áo ngoài hào nhoáng thường được gắn nhãn “Hào hoa dưới đất –Hào hùng trên không”, lại có một lớp áo trong vô cùng hào hiệp và đầy nhân bản. Câu chuyện của Đại Uý Phi Công Phạm Văn Thặng, mùa Hè năm 1972, là một minh chứng. Trong một chuyến bay yểm trợ cho mặt trận Kontum, chiếc khu trục của Đại Uý Thặng bị trúng đạn phòng không của địch. Thay vì nhảy dù thoát thân, Đại Uý Thặng sợ máy bay còn đầy bom đạn của mình sẽ đâm vào khu đông dân cư, nên quyết định cố đưa chiếc phi cơ của mình đáp ép buộc (force landing) trên một thửa ruộng. Máy bay chạm mô đất và phát nổ, Đại Uý Thặng đã anh dũng hy sinh.

Nhạc sĩ Văn Cao có viết trong hành khúc “Không Quân Việt Nam”: Ta là đàn chim bay trên cao xanh… Đi không ai tìm xác rơi… Hối tiếc tấm thân mà chi…

Tôi đã vô cùng xúc động khi đọc những dòng này của nhà văn Quân Cảnh Hoàng Khởi Phong viết về… xác rơi:

“…Nhưng với những người còn hiện diện trên cuộc đời này, trong nước hay ngoài nước, tôi biết rõ một điều: Tuy họ còn sống, nhưng họ chính là những cái xác rơi khắp bốn phương trời. Không ai phải bận tâm đến chuyện đi nhặt xác họ. Bởi vì chính họ, kể từ khi không còn được làm bạn với bầu trời tổ quốc trên đầu, thì phần hồn mới là đáng kể. Cái phần hồn đó của ai nấy giữ.”

Đó cũng là tiếng hót bi thương ai oán mà nhà thơ Không Quân Cung Trầm Tưởng đã cất lên trong bài “Lệ Chuông”:

Nay muốn bay lên không có trời
Trong lồng gẫy cánh nằm im hơi
Chim vốn là tim, trời là máu
Không máu tim nào chẳng héo rơi…

“Đi xuyên qua” những bài viết của chú Tô Văn Cấp K19, tôi hiểu được nhiều thêm về Tiểu Đoàn 2/ Thuỷ Quân Lục Chiến từng được mệnh danh “Trâu Điên” và nhất là biết được vai trò của những cố vấn Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam. Sự thất bại cuả Miền Nam Việt Nam là do bị đồng minh Mỹ bỏ rơi, nhưng ký ức của những ngày chiến đấu sinh tử tại chiến trường Việt Nam luôn in sâu và vĩnh viễn được trân trọng trong lòng những người cố vấn Mỹ. Điều này làm tôi vô cùng cảm động.

“Đi xuyên qua” tác phẩm “Tàn Cơn Binh Lửa” của nhà văn Biệt Cách Dù Lê Đắc Lực, tôi cảm thấy thấm thía với hai câu thơ mà cô giáo Pha, một nhân chứng sống đã thốt lên qua máu và nước mắt:

An Lộc Địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Trong gia đình tôi có một người cậu ruột (em trai mẹ) đứng trong hàng ngũ “green beret” của LĐ81BCND. Cậu tôi là một trong số rất ít người vượt ngục tù cải tạo thành công và đến được bến bờ tự do, thế nhưng cậu tôi rất ít nói về mình. Đọc “Tàn Cơn Binh Lửa”, tôi mới thảng thốt nhận ra sự liều lĩnh gan dạ của nhiệm vụ “nhảy toán” trong lòng địch, cũng như sự chiến đấu thật sự “sát cánh kề vai” của những người lính Mỹ bên cạnh những người lính Việt Nam Cộng Hoà. Xin các bác, các chú trong Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù nhận nơi đây lòng ngưỡng mộ của một hậu duệ đối với một binh chủng anh hùng và bất khuất cho đến phút cuối cùng của cuộc chiến.

Tôi lại có một người cậu khoác áo phi công và cậu tôi đã quyết định chọn làm một hạt cát kiêu hùng bên bờ biển Sa Huỳnh vào cuối tháng Tư 1975, khi miền Trung thất thủ. Nhờ bài viết “Chuyến Bay Cuối Cùng” của bác Trần Ngọc Toàn K16/ TQLC, gia đình tôi được biết rõ hơn về diễn tiến trên chuyến bay định mệnh Chinook CH-47A và những phút cuối cùng anh dũng của cậu tôi.

Tôi rất thích lời chia sẻ của người chị em hậu duệ mang tên Yvonne Trần (con gái của cố Đại Úy Trần Đăng Túc Tiểu Đoàn 2/ TQLC) với thế hệ đi trước như sau: “Hãnh diện về cha chỉ là hãnh diện cá nhân, nhưng hãnh diện nhất của cháu là biết sự thật về chiến tranh đã có những người lính miền Nam hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc và đồng bào khiến cháu không thể nào quên được.” (Trích “Cha Ơi! Con Rất Hãnh Diện Về Cha” – Captovan K19/ Tập San Đa Hiệu, 114)

Gần đây nhất, hành trình trôi-sông lại đưa tôi đến với nhánh sông văn Bắc Âu để hạnh ngộ nhà văn Bộ Binh Phạm Tín An Ninh. Trong nhánh sông dẫn ra cửa biển bàng bạc ấy, chú Ninh có nhắc đến một con suối Tây Nguyên mang tên “Y-Broc Niê” đã chảy nhập dòng, một “Nhà Thơ Đi Lính” đã mang vần thơ người Kinh chuyển thể qua ngôn ngữ đi vào những tâm hồn những chiến sĩ xứ Thượng (Sau Cuộc Biển Dâu/ Phạm Tín An Ninh – Tập Truyện, 2017). Trong khói lửa chiến tranh, vị trí của thơ văn dạt dào và quan trọng đối với tinh thần những người chiến sĩ biết là bao!

Ngoài những tác phẩm mà tôi được đọc, tôi còn được “đi xuyên qua” những lời khuyên vô cùng quý báu từ một chú Mũ Nâu Biệt Động Quân Đỗ Mạnh Trường: Hãy tự tin và trưởng thành!

Tự tin và trưởng thành để thoát ra khỏi hình ảnh “thơ ấu bèo nhèo chiến tranh”. Vâng! Tôi muốn được theo chân các anh-chị-em hậu duệ của mình, các Thanh Thiếu Niên Đa Hiệu như Tammy Huỳnh, Christina Cao, Đỗ Nguyễn Nhật Khai, Nguyễn Hồ Diễm Anh, Đỗ Anh Tú,… v.v.. (và rất nhiều người mà tôi xin lỗi đã không thể nêu hết tên tuổi ra đây) để nối chí thế hệ đi trước.

Tôi biết rằng cuộc hành trình của tôi chỉ mới bắt đầu. Ngoài kia, có biết bao nhiêu các bác, các cô chú tiền bối mà tôi vô cùng ngưỡng mộ và mong muốn được học hỏi. Tên tuổi của họ đang lấp lánh như những khúc sông đẹp và uốn khúc, những trang quân sử kiêu hùng lấp lánh và đầy thử thách.

Nữ văn sĩ người Mỹ Margaret Mitchell đã tốn hơn mười năm trong cuộc đời bà để viết về bối cảnh nội chiến nước Mỹ trong tác phẩm để đời “Gone With The Wind/ Cuốn Theo Chiều Gió”. Riêng tôi, tôi ôm ấp ước mơ trưởng thành để được học hỏi và ghi nhận lại ít nhiều về lịch sử và cội nguồn. Một sự trưởng thành không có bóng dáng của mặc cảm tự ti “nổi gân nỗi buồn” hay “điệu đàng… vết thương”.

Tôi mơ ước được tiếp tục trưởng thành… trôi theo dòng Phúc-Lạc.

Nguyễn Diễm Nga – K17/2

Ông Bố Võ Bị
Kính nhớ bố Nguyễn Tiến Đức

CSVSQ Nguyễn Tiến Đức, ,
K17/ TVBQGVN

(Nguồn: Tập san ĐA HIỆU số 114- Tháng 9 /2018 )

Tôi nhớ có câu thành ngữ “Con nhà lính, tính nhà quan” để ám chỉ những kẻ học đòi, hư hỏng, hoang phí, không biết thân biết phận.

“Con nhà lính” nào thì tôi không biết, nhưng chị em chúng tôi thì dứt khoát là không như vậy! Bởi vì chúng tôi đã may mắn có một “ông bố Võ Bị” uốn nắn và kềm cặp cho theo đúng “kỷ luật nhà binh”.

Bố tôi tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tại Đà Lạt vào năm 1963, khoá 17 “Lê Lai”.

Cuộc đời quân ngũ của bố ắt phải hào hùng lắm! Đáng tiếc là tôi không nhớ được nhiều, vì năm 1975, tôi chỉ mới lên 9. Nhưng những tính cách mà tôi tin rằng ông đã được đào tạo và tôi luyện từ “Trường Mẹ” (cách gọi Trường Võ Bị thương yêu mà tôi thường được nghe từ bố và các chú bác Võ Bị) luôn luôn gắn liền và thể hiện, trong cung cách sống của ông cho đến khi nhắm mắt xuôi tay.

Bé Diễm Nga và bố

Trong ký ức non nớt của tôi, hình ảnh bố gắn liền với bộ quân phục được hồ thẳng cứng rất oai vệ. Tôi nhớ bố đã đưa gia đình thuyên chuyển nhiều nơi theo công tác như Nha Trang, Pleiku -nơi các em tôi lần lượt sinh ra- trước khi thuyên chuyển về Saigon vào mùa Hè đỏ lửa 1972. Chức vụ quân đội cuối cùng mà bố tôi đảm nhiệm là Thiếu Tá Khối Huấn Luyện Không Quân tại Phi Trường Tân Sơn Nhất.

Vâng! Chính vì “Huấn Luyện” là chuyên môn của bố nên chị em chúng tôi đã được rèn giũa “ra ngô, ra khoai”. Đây chỉ là một vài điều căn bản mà chúng tôi được dạy dỗ, chuyển thể qua “ngôn ngữ quân đội”:

– Tuân lệnh thượng cấp một cách tuyệt đối (Nghe lời bố mẹ).
– Hoàn thành mọi trọng trách được giao (Làm tốt việc nhà).
– Nêu cao tinh thần “Huynh Đệ Chi Binh” (Bốn chị em phải thương yêu và giúp đỡ lẫn nhau).

Mỗi khi có dịp kể về Trường Mẹ, gương mặt của bố tôi bao giờ cũng sáng lên một niềm tự hào. Bố tôi kể rằng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam có chương trình và phương pháp đào tạo, được mô phỏng theo tiêu chuẩn của Trường Võ Bị West Point Hoa Kỳ, hầu đào tạo những sĩ quan ưu tú nhất cho quân đội với kiến thức bậc đại học, có khả năng “chỉ huy, ổn định bờ cõi trong thời chiến” và “kiến tạo quê hương trong thời bình”.

Tính đến ngày nay, biết bao vị lãnh đạo tài ba trên chính trường thế giới, những CEO lừng lẫy của các đại công ty đa quốc gia tầm cỡ đều đã được rèn luyện theo phương pháp West Point này.

Chúng tôi thường nghe bố kể về kỷ niệm của những tuần lễ đầu huấn nhục khi vào trường đã rèn luyện cho bố sức chịu đựng và đối phó với những hoàn cảnh “dầu sôi lửa bỏng”, trớ trêu và khắc nghiệt nhất!

Tôi biết điều này vẫn còn in sâu đậm trong ký ức của các thúc bá đồng môn với bố tôi ghê lắm! Bởi vì cho đến ngày hôm nay, sau 55 năm ra trường, mỗi khi có dịp họp mặt, tôi vẫn còn nghe họ nhắc đến các “hung thần” khoá đàn anh một cách đầy trìu mến và… biết ơn!

Tuy nhiên, điều đặc biệt nhất của “Tinh Thần Võ Bị” chính là lý tưởng “TỰ THẮNG ĐỂ CHỈ HUY” – Câu khẩu hiệu được đặt trang trọng ngay trước cổng Trường Mẹ mà phàm là sinh viên sĩ quan, ai ai cũng phải ghi nhớ nằm lòng.

Thắng được chính mình là điều khó khăn nhất!

Ông thường có những câu nói vui với mục đích nhắc nhở con cái, mà cả gia đình ai cũng biết và ghi nhớ. Khi chúng tôi có ai hả hê thái quá về một điều gì không mấy chính đáng, và không mang lại một lợi ích nào cho cộng đồng, cho xã hội, ngoại trừ ý thích ích kỷ của cá nhân (đi mua sắm quá trớn, ăn uống quá đà, vv… và …vv) thì bố tôi thường hay “tặng” cho một câu nói khá dí dỏm, nhưng không kém phần sâu sắc.

Dĩ nhiên đây chỉ là lối nói thậm xưng và cường điệu của ông chỉ dành cho những người thân trong gia đình. Khi nghe được giọng nói với cái tông bổng trầm đầy trào phúng của ông thì ai cũng phải phì cười, rồi sau đó mới ngượng ngùng cả thẹn! Đúng là trong con người của mỗi chúng ta ai cũng có yếu điểm. Ngay như thần Achilles mạnh mẽ như vậy mà vẫn có yếu điểm ở gót chân và vì vậy mà bị triệt hạ.

Riêng tôi, mỗi khi tôi cảm thấy mình sa đà sắp đến gần với những điều hèn yếu đầu hàng trước thử thách, những lối tắt không chân chính, những bao biện và lấp liếm cho lỗi lầm của bản thân, tôi lại nhớ đến ông và những lời chỉ trích nhẹ nhàng. Điều này lập tức nhắc nhở tôi phải “tự thắng”, bởi vì tôi là hậu duệ của ông, một Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị đích thực và chân chính!

Phải chăng đây là cũng cách là cách riêng độc đáo của ông giúp chúng tôi lãnh hội được tinh thần “TỰ THẮNG ĐỂ CHỈ HUY”?

Ôi! “Ông Bố Võ Bị” của chúng tôi!

Diễm Nga
(Father’s Day June/ 2018)

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, Người Lính VNCH, Văn Hoá Vụ - Trường Võ Bị Đà Lạt, Đa Hiệu. Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s