TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

Nhắc lại, Nguyễn Bình theo bức thư viết tay vắn tắt có vài hàng của Hồ chí Minh đã rời bỏ Bắc Việt để vào chỉ huy cuộc kháng chiến Miền Nam vào đầu năm 1946.

Lúc đó có miền Đông là lan tràn khói lửa.

Nguyễn Bình kiểm điểm tình thế, và hiểu ngay rằng thực lực của các bộ đội Cộng sản hay thân Cộng tại Miền Đông nói riêng, chẳng có là bao: Huỳnh văn Nghệ, Kiều Đức Thắng, Đào Sơn Tây, Tô Ký, Tám Chùa chỉ có danh có tướng mà không có quân nhất là không có vũ khí.

Trái lại, các bộ đội quốc gia, hay nói nôm na theo danh từ dân chúng thời đó là “bộ đội đánh Tây” như Bình Xuyên, Việt Nam Quốc Dân Đảng do Phạm Hữu Đức nguyên Tư Lệnh phó Đệ Tam sư đoàn của Nguyễn Hòa Thiệp, chỉ huy. Đại Việt Quốc Dân Đảng thể hiện bằng bộ đội An Điền (sau là Trung Đoàn 25 Bình Xuyên) do Bùi Hữu Phiệt chỉ huy, lại quá mạnh mẽ về quân số cũng như về vũ khí.

Sở dĩ các bộ đội này hùng mạnh, đầy đủ vũ khí, phần lớn do binh đội Nhựt trao cho, do chiếm đoạt được của Nhựt, của Chà Chóp và sau này của Pháp.

Vũ khí của Bình Xuyên đã được Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường, khi chỉ huy ngành Công an (Nam Kỳ), thời Nhật vừa đảo chánh Pháp, trao cho.

Phạm Hữu Đức, tức Tư Đức là nhân viên cao cấp trong Hiến binh Nhựt, nên khi Nhựt đầu hàng Đồng Minh, trao cho Đệ Tam sư đoàn nhiều súng đạn là sự dễ hiểu.

Trường hợp của bộ đội An Điền lại vô cùng đặc biệt.

Khi Nhựt đảo chánh Pháp ngày 9-3-1945, Trung-ương Đại Việt Quốc Dân Đảng phái một số cán bộ chánh trị và quân sự đi cùng với Huỳnh văn Tiếng, Đặng Ngọc Tốt vào Nam chỉ với mục đích là bành trướng đảng, sau đó đấu tranh chánh trị.

Trong “phái đoàn quân chánh Đại Việt” vào Nam thời bấy giờ có:

– Thiếu tướng Phạm Thiết Hùng, người Việt, đã từng là anh hùng mặt trận Trường Sa Trung Hoa Dân Quốc kháng Nhật (anh vợ của tướng Phan Trọng Chinh ngày nay),

– Nguyễn văn Hướng bí danh Mười Lễ em bà bác sĩ Nguyễn thị Sương, vợ của ông Hồ Vĩnh Ký nguyên Tổng thư ký Tổng thống phủ và hiện là Chủ nhiệm nhựt báo “Đời Sống Việt Nam”,

– Triệu Phong tức Trần Kim Phượng hiện là Thứ trưởng Bộ Ngoại Giao sau nhiều năm làm Đại sứ,

– Triệu Tín tức luật sư Nguyễn tấn Thành, v.v…

Thực sự, lúc đó Đại Việt Quốc Dân Đảng chỉ nghĩ nhiều tới vấn đề chính trị, nhưng vấn đề chính trị tại Việt Nam lại diễn tiến ngoài sự dự liệu của Đại Việt: Việt Minh lên nắm chánh quyền chứ không phải đảng phái quốc gia hay khâm sai Nguyễn văn Sâm khi Nhựt đầu hàng Đồng Minh.

Phiên họp tối mật tại biệt thự của bà Hồ Vĩnh Ký, với sự tham dự của:

– đại diện Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc (Cao Đài Tây Ninh),

– Lê Kim Tỵ (Cao Đài Bến Tre),

– Phạm Hữu Đức (Việt Nam Quốc Dân Đảng),

– Dương văn Giáo,

– Hồ văn Ngà (đại diện Khâm Sai Nguyễn văn Sâm) để lật đổ Trần văn Giàu, có thể coi là Chủ tịch Ủy ban Hành Chánh Nam Bộ (vì Phạm văn Bạch – Chủ tịch được chỉ định vắng mặt) kiêm Ủy viên quân sự,

không đi đến kết quả mong muốn vì sự lưỡng lự của nhân sĩ Cách mạng Dương văn Giáo.

Ngày 28 tháng 9 năm I945, Pháp công khai tấn công “quân đội” Miền Nam.

Đại Việt Quốc Dân Đảng buộc lòng phải chuyển mình qua thế quân sự. Và bộ đội An Điền, tên tại một Tổng ở quận Thủ Đức, nơi các cán bộ Đại Việt “chiêu quân”, được thành lập dưới quyền chỉ huy của một người dân địa phương tên Trần văn Quới, tức Bảy Quới, sinh viên luật khoa cũng vừa từ Bắc trở về cố hương.

Chiến trận miền Đông trong thời kỳ khói lửa ngất trời thì Bảy Quới được lệnh ra Bắc. Quyền chỉ huy bộ đội An Điền trao lại cho Bùi Hữu Phiệt, một nhà cách mạng quốc gia vừa từ Côn đảo trở về, đồng chí với Đinh Khắc Thiệt, Đinh Khắc Quyết thủ lãnh của Thanh Niên Ái Quốc Đoàn với sự tham đự của cụ Hồ Nhựt Tân, Tú Quyền và bà Song Thu.

Bùi Hữu Phiệt chỉ gia nhập Đại Việt khi là Tư Lệnh bộ đội An Điền.

Sự lớn mạnh của bộ đội An Điền là cả một giai thoại. Lẽ cố nhiên là khi đồn trú tại An Điền, rồi sau Tăng Nhơn Phú (Thủ Đức) bộ đội đã có khá nhiều vũ khí “ăn chùm” những bộ đội Cộng Sản như Đào Sơn Tây, Tô Ký (Thủ Dầu Một) Huỳnh Tấn Chùa v.v…

Một sự tình cờ đặc biệt khiến cấp lãnh đạo An Điền ngạc nhiên :

Một chiều Tám Sanh, Trưởng ban tình báo và liên lạc của bộ đội đưa về bộ Tổng Tham Mưu một người Nhựt cao lớn, nhưng nét mặt còn đầy vẻ thư sinh, mang theo cả năm khẩu vừa súng trường vừa súng lục, nói muốn gia nhập kháng chiến Việt Nam.

Thời đó, người ta có thể giết chết cả mười người để lấy một khẩu súng thì một người tới với năm khẩu súng đáng được coi như thượng khách.

Tiệc liên hoan đã qua, trong văn phòng bộ Tổng Tham Mưu chỉ còn vài người, “khách” mới nhỏ nhẹ thưa bằng tiếng Việt khá rành rẽ:

– Tôi có thể nói với ông chỉ huy trưởng một việc riêng.

Bùi Hữu Phiệt đáp :

– Được. Nơi đây chỉ còn những người có đầy đủ trách nhiệm.

“Khách” móc trong túi ra một bức thư dài kiểu Á Đông, nhưng phía dưới có ấn vuông lớn, dấu son và chữ ký nghiêm trang, không khác gì một sắc phong của nhà vua, hai tay cầm kính cẩn dâng lên.

Bùi Hữu Phiệt, giỏi chữ Nho, giỏi chữ Nhật, mới liếc qua bức thư, đã giật mình: đây là bức thư của Đại Tướng Sato, Tổng Tư Lệnh quân đội Hoàng gia Nhựt tại Đông Nam Á cho phép Trung úy Nam Tước Watanabe Hitomi được “đào ngũ” tham dự kháng chiến Việt Nam đánh đuổi đế quốc Pháp vì đó cũng là chủ trương “Đại Đông Á” của Nhựt Hoàng.

Bức thư còn nói rõ, nếu Trung úy Nam Tước Watanabe tham dự bộ đội An Điền của Đại Việt Quốc Dân Đảng là điều Đại Tướng rất mong muốn.

Công việc đầu tiên của Nam Tước Watanabé Hitomi là đi chiếm hầm vũ khí của Nhựt chôn dấu ở vườn cao su Bình Thung và Bình Thắng cũng thuộc quận Thủ Đức.

Trung úy NamTước Watanabé hỏi Bùi Hữu Phiệt:

– Ở đây “Tư Lệnh” có bao nhiêu lính và bao nhiêu súng ?

Bộ bội An-Điền lúc đó còn được mệnh danh là “bộ đội Bắc bộ” vì hầu hết các cấp chỉ huy và chiến sĩ đều là người Bắc, chiến sĩ phu đồn điền cao su Pháp gốc người Bắc.

Lý do: lúc đó tại Saigon, Phong trào chống người Bắc dâng cao nếu người trong bộ đội hầu hết là người Bắc thì tránh khỏi cảnh đầu thú (về hàng) và buộc họ sống chết với kháng chiến.

Bùi Hữu Phiệt không chút ngần ngại, nói rõ về nội bộ.

Trung úy Nam Tước Watanabé Hitomi, về sau này mang tên bình dân”Anh Bê”, đáp ngay:

– Tôi sẽ đưa một số huấn luyện viên quân sự tới đây và nhất là mang nhiều súng về.

Anh Bê đã giữ lời hứa.

Vài ngày sau, qua sự chỉ dẫn của anh Bê, Tám Sanh đưa về bộ đội nhiều “người bạn Nhựt” có người chuyên môn về tình báo vì đã hoạt động trong Hiến binh, có người đặc trách về huấn luyện quân sự đánh trận địa chiến cũng như du kích chiến.

Một công tác đặc biệt nhất của anh Bê là đã dám cùng một người bạn trẻ trong Bộ Tham Mưu đi từ Tăng Nhơn Phú qua rừng cao su Bình Thắng, hậu cần quan trọng nhứt của quân đội Nhựt tại miền Đông để xin súng.

Anh Bê mặc bộ đồ bà ba đen của kháng chiến quân, thủ khẩu súng lục nơi bụng, nhưng lại đeo thanh trường kiếm, thanh kiếm gia truyền được Nhựt Hoàng ban tặng của giòng họ quý phái Watanabé.

Trong binh đội Nhựt, từ Trung sĩ trở lên đã có quyền đeo gươm nhưng giá trị của thanh gươm đó lại ghi thực rõ nơi chuôi qua mầu sắc của tua kết, qua sự chạm trổ, và nhất là qua những viên ngọc bích gắn nơi đó.

Chỉ là một Trung sĩ thôi, nhưng nếu đeo thanh gươm do Nhựt Hoàng đã ban tặng, thì khi gặp thượng cấp kể luôn cả vị Tướng, thì chính vị Tướng này chào trước, chào thanh gươm như trong binh đội Pháp, các cấp bậc đều phải chào “chiến sĩ bội tinh” (Médaille militaire).

Anh Bê tới cửa trại Bình Thắng, người lính gác nhận ngay giá trị của thanh gươm, nhưng vẫn nghi ngờ rằng chủ nhân của nó là người Việt nên hô nhiều câu tiếng Nhựt.

Anh Bê xưng danh tánh và cấp bực trong quân đội Hoàng gia.

Tức khắc viên Tư Lệnh doanh trại được thông báo và một cuộc đón tiếp cho đúng nghi lễ, tuy đơn sơ, dành cho một vị Nam Tước được diễn ra.

Anh Bê nói rõ mục đích: tôi xin súng cho kháng chiến quân. Viên Tư Lệnh doanh trại với cấp bậc Đại tá, đưa hai tay liên tiếp vò cái đầu trọc, lẩm bẩm”khó quá, khó quá”.

– Tại sao khó ?

– Cách đây một tuần nội vụ giải quyết quá dễ dàng. Tôi đưa cả xe lớn chở đầy súng tìm “một hai” (Thanh Niên Tiền Phong) để cho nhưng sau đó, được thượng lệnh, đã khai số vũ khí còn lại với Đồng Minh rồi. Nếu ngày họ giải giới…

Anh Bê hiểu ngay vấn đề thực khó khăn vì đã biết quá rõ quân kỹ của binh đội, sự thất vọng hiện trên nét mặt.

Vị Đại tá Tư Lệnh doanh trại như thông cảm với Nam Tước Watanabé (anh Bê) nói ngay :

– Tất cả súng đạn hiện nay đều tập trung tại kho Bình Thung, cùng trong rừng cao su, cách đây 5 cây số. Nam Tước biết nơi đó không ?

– Biết.

– Hôm nào Nam Tước muốn lấy hết kho súng đó ?

Anh Bê mừng rỡ :

– Đại tá cho phép…

– Không cho phép gì cả. Ngày nào Nam Tước muốn chiếm kho súng đạn đó, tôi sẽ hạ lệnh chỉ để hai người lính lại thôi. Nam Tước đưa người tới giết lính gác để đoạt súng, tôi nhắc lại giết họ để có bằng cớ nói với Đồng Minh.

Anh Bê quay lại hỏi người bạn Việt đồng hành.

Thấy nét lưỡng lự trên mặt người thanh niên, Đại tá Tư Lệnh doanh trại nói ngay:

– Tôi hiểu, ông không nỡ quyết định giết hai người lính gác nhưng ông hiểu rằng với số súng đạn đó trong tay, kháng chiến quân sẽ giúp được bao nhiêu ngàn người dân Việt khỏi bị Pháp giết? Nếu chỉ giúp được hai ngàn người khỏi bị chết đói với hai người lính Nhựt, cũng là điều quá vinh dự cho chúng tôi.

Chính vì những lý luận đó mà An Điền (Trung Đoàn 25 Bình Xuyên sau này) nhiều súng hơn lính.

Và cũng chính vì vậy mà Khu trưởng Nguyễn Bình năng lui tới với anh em trong Liên Quân Quốc Gia Kháng Chiến nhất là tìm đủ mọi cách làm thân với các thanh niên trong bộ tham mưu của An Điền.

Những chàng trai trẻ này biết rõ về dĩ vãng của Nguyễn Bình, lại là cán bộ của Đại Việt Quốc Dân Đảng mà lý thuyết “dân tộc sinh tồn” trái ngược hẳn với chủ nghĩa Mác Lê, nên không ưa Khu trưởng khu 7 nếu không muốn nói rằng là thù nghịch.

Trước thái độ “hiếu khách vì là chủ nhà” của Mười Trí, trước những ngăn cản của “các anh lớn” họ không dám công khai tranh luận với Nguyễn Bình.

Tuy nhiên, họ cũng bàn luận riêng với nhau, xếp đặt một kế hoạch đặt tất cả “các anh lớn” trước một việc đã rồi là mưu đồ lén lút hạ sát Khu trưởng.

Qua quá nhiều các cuộc gặp gỡ và thảo luận với anh em Liên Quân trong bầu không khí được coi là cởi mở và nể nang, Nguyễn Bình tin tưởng tới mức độ là báo trước các cuộc viếng thăm để anh em Liên Quân sửa soạn đón tiếp.

Nguyễn văn Thắng cho hay hai hôm nữa, Khu trưởng Nguyễn Bình sẽ từ Tân Uyên tới thăm anh em Liên Quân tại ấp số 8, Phú Lâm.

Liên Quân hoan hỷ đón nhận tin này nhưng “mỗi giới” hoan hỉ một khác.

“Giới già” như Mười Trí, Tư Đức, Tám Phiệt, Giáo Thảo nghĩ ngay tới việc hân hạnh được Khu trưởng luôn luôn viếng thăm; sẽ có những tin tức mới, sẽ có những cuộc thảo luận sôi nổi mới.

“Giới trẻ” hoan hỉ vì biết được trước ngày giờ mà Khu trưởng Nguyễn Bình sẽ vô tình dấn thân vào trước các họng súng của họ.

Đúng ngày Nguyễn văn Thắng đã loan báo, bộ Tham Mưu của Trung Đoàn 25 đột nhiên vắng vẻ vì khi mặt trời vừa lặn, nhiều anh em, bỏ cả bữa cơm tối, rủ nhau đi… uống cà phê.

Sự việc này cũng thông thường. Sau những giờ làm việc, đêm là ngày, nếu không phải phục kích nơi đâu hay tấn công địa điểm nào, anh em trong bộ Tham Mưu có quyền đi… uống cà phê, đồng nghĩa với giao thiệp ngoài đời hay nôm na là đi “o mèo” giải quyết sinh lý.

Chính Mười Trí đã nhiều lần, trên chén rượu, tuyên bố :

– Mấy em còn trẻ, sao “hèn” thế ? Hồi “qua” bằng tuổi các em, có đêm nào “qua” ở nhà mà ngủ yên được ? “Qua” không chịu các cuộc “lộn xộn” trong bộ đội thôi, còn ra ngoài thì thả dàn.

Mười Trí đôi khi còn khuyến khích bằng cách hạ giọng thì thầm:

– Tụi bay, nếu có “món nào” ngon lành cho “qua”… biết miễn là đừng báo cáo cùng mẹ con Liên. (Má con Liên là vợ chánh thức của Mười Trí.)

Bởi vậy sự vắng mặt của một số anh em “đi uống cà phê” không làm cho “các anh lớn” trên chiếu rượu chiều hôm đó thắc mắc.

Trăng xanh mát đã vượt qua ngọn các vuông tre.

Tham Mưu trưởng của Trung Đoàn 25 chưa tới 23 tuổi, nhưng đã vì thời thế, theo học qua các khóa quân sự của Đại Việt và của Nhựt, đưa mắt nhìn địa thế rồi vẫy bốn anh em lại gần.

Họ ngồi trên mặt đất.

Viên Tham Mưu trưởng dùng cây khô vẽ lên các vị trí phục kích.

Viên Tham Mưu trưởng giải thích :

– Theo lời của Nguyễn văn Thắng loan báo, thì Nguyễn Bình sẽ tới địa điểm này trước hay sau một chút nửa đêm. Không ai đạp gai, lội ruộng để tới ấp số 8. Nguyễn Bình và Thắng nay thêm vài tên cận vệ nữa sẽ đi trên con đường mòn trước mặt chúng ta. Anh em đã nhận thấy chỗ phục kích của mình chưa ?

Từng lãnh vai trò quan trọng trong bộ Tham Mưu nhưng không phải chỉ chuyên lo “cạo giấy”, và tham dự với tính cách chỉ huy nhiều trận đánh, cán bộ theo viên Tham Mưu trưởng đưa mắt nhìn quanh đã biết ngay vị trí thuận tiện trong cuộc phục kích như người ta dành chỗ tốt để… lãnh phát chẩn.

Sự sốt sắng này khiến anh Tham Mưu trưởng hài lòng :

– Các em núp cho kỹ sau gò mối. Cần nhớ rõ điều này là trăng sáng sẽ “hất” bóng các em về phía sau dễ làm cho một kẻ tinh mắt và kinh nghiệm chiến trường nhận thấy ngay.

Quan sát một lần nữa, viên Tham Mưu trưởng tiếp:

Phục kích như vậy, đúng vị trí rồi. Các em chỉ nổ súng khi “họ” đã lọt vào đây (viên Tham Mưu trưởng đứng vào vị trí lựa chọn) rồi mới nổ súng theo kiểu đan lưới. Với những khẩu “gà cồ”(trung liên Thompson, theo tiếng lóng của kháng chiến vì súng nổ nghe “cộc, cộc, cộc” như tiếng gà cồ dụ mái),”họ” không thể thoát khỏi lằn đạn của chúng ta.

Trời thực cao, xanh và trăng thực sáng làm cho cảnh vật đều mang vẻ quá dịu hiền, trái hẳn với màn lưới vừa được giăng ra để đi tới máu lửa.

Bầu không khí hoàn toàn yên tĩnh, tiếng gió rạt rào lay khẽ các cành cây cũng vang dội như tiếng sóng đập vào bãi biển.

Theo với ánh trăng, bốn bóng đen to lớn, dài như bất tận, đã hằn in trên nền cát vàng óng ánh của đường mòn dẫn tới ấp số 8.

Đã quá quen thuộc, đội phục kích nhận rõ ngay rằng hai bóng đen đi đầu là Nguyễn Bình và bí thư Nguyễn văn Thắng, những bóng đi sau không “chối cãi” được vai trò vệ sĩ của mình qua khẩu súng trường cao lêu khêu đeo trên vai.

Mỗi bước chân tiến của “họ” đập mạnh trên đường mòn hòa nhịp với những kẻ phục kích.

Những “con mồi” một lúc một tới gần, những bàn tay của những kẻ phục kích mỗi lúc một thêm siết chặt báng súng.

Nhưng đột nhiên, có tiếng nói lào xào, có tiếng chân từ phía sau những kẻ phục kích vọng tới.

Như vây phải chăng đã có “nội thù” báo cho Nguyễn Bình biết trước cuộc phục kích này ?

Như vậy, phải chăng những kẻ phục kích lại lọt vào ổ phục kích của Nguyễn Bình?

Chỉ huy trưởng cuộc hạ sát Nguyễn Bình trên đường vào ấp số 8 vô cùng hồi hộp trước thế “lưỡng đầu thọ địch”.

Bỗng tiếng nói quen thuộc vang lên :

– Chắc chắn chỉ một, hai phút nữa Khu trưởng sẽ tới đây.

Có tiếng đáp lại :

– Dạ Khu trưởng đã tới nơi đầu đường rồi.

Những bóng đen đứng khựng lại như ngạc nhiên trước sự xuất hiện bất thần của một tiểu đội võ trang.

Mười Trí cười lớn, tiến mau lại:

– Chúng tôi đi rước Khu trưởng. Sao Khu trưởng tới trễ thế, đi đường gặp khó khăn gì không?

Nguyễn Bình cũng tiến mau lại, nắm lấy tay Mười Trí:

– Chúng tôi đi đường bình yên. Sao lần này lại phiền anh Mười…

– Có gì đâu mà Khu trưởng để tâm. Tôi vừa nhận được tin liên lạc cho biết quãng đường này rất có thể không yên nên phải phòng xa.

Mười Trí lại cười :

– Phòng xa vẫn hơn. Rủi có một sự gì đáng tiếc xảy ra ngay trên mảnh đất chúng tôi kiểm soát thì thực là mang tiếng…

Nguyễn Bình đi theo Mười Trí về ấp số 8, cười nói luôn miệng.

Đoàn người đi qua “tử địa” mà đám quân phục kích không dám nổ súng.

Chờ tới khuya, viên Tham Mưu trưởng mới hạ lệnh cho anh em rút lui. Câu hỏi “tại sao Mười Trí đích thân đi đón Nguyễn Bình” quay cuồng trong đầu ?

Lần này Nguyễn Bình chỉ ở chơi có một ngày rồi lại hấp tấp trở về khu bộ, nhưng chắc chắn trong 24 giờ qua đã nói nhiều chuyện quan trọng với Mười Trí nên Mười Trí dầu bản chất mộc mạc, ưa vui đùa cũng không dấu được sự lo âu loé trên khoé mắt.

Nguyễn Bình đã ra đi rồi, Mười Trí mới cho gọi vịTham Mưu trưởng Trung Đoàn 25 tới ngồi riêng trong phòng đàm luận.

Mười Trí nói ngay:

– Tại sao em lại hành động như vậy ?

Vị Tham Mưu trưởng… ngây thơ:

– Thưa anh Mười…. hành động gì ạ?

Mười Trí nghiêm giọng :

– Nếu “qua” không phát giác kịp thì bây giờ biết bao nhiêu chuyện đã xẩy ra.

Như không muốn cho đàn em đóng vai trò “ngớ ngẩn”, Mười Trí tiếp:

– Tối hôm đó, “qua” có chuyện phải cần tới mấy em, cho mời thì em cùng bốn người nữa, tuyền là “thứ dữ” trong bộ Tham Mưu đều đi khỏi. Tối không có công tác định trước, các em rủ nhau “đi uống cà phê” (tiếng lóng trong kháng chiến đồng nghĩa với đi o mèo) cũng là sự thông thường. Công việc “qua” muốn nhờ các em quá quan trọng nên phái liên lạc đi kiếm các em ở những nơi “thông thường” nhưng mọi người đều quả quyết từ chập tối không thấy một em nào lảng vảng tới đó.

“Qua” chợt nhớ rằng đêm đó Khu trưởng tới thăm như đã báo trước. Điều này các em cũng biết. Các em lại không ưa gì Nguyễn Bình vì Nguyễn Bình, dầu là khách đã công khai chèn ép các em ngay nơi đây. Nghi ngờ thoáng trong đầu, qua cho kiểm soát lại vũ khí thì em Chỉ huy trưởng Trung đội Thompson phòng thủ bộ Tham Mưu cho biết, các em, ngoài súng lục vẫn có, mỗi người còn lấy ở Trung đội này một khẩu “Gà Cồ” đem theo nữa.

Như vậy, các em đi đâu, nếu không phải là … ra trận ?

Vị Tham Mưu trưởng nín lặng, công nhận tài nhận xét rất đúng và hành động cấp thời hữu hiệu của Mười Trí. Y hơi ngạc nhiên thấy giọng trách móc của Mười Trí quá hời hợt, khác hẳn với ngày thường nặng nề và đôi khi tục tằn. Dường như Mười Trí hối tiếc một việc gì ?

Vị Tham Mưu trưởng dọ dẫm :

– Nếu Nguyễn Bình bị bắn hạ đêm đó thì đã giải quyết được cho anh Mười nhiều sự khó khăn.

Mười Trí thở dài không đáp.

Vị Tham Mưu trưởng hỏi tiếp :

– Nguyễn Bình đã đề nghị với anh Mười những việc gì ?

Một lần nữa Mười Trí nhẹ thở dài nhưng cũng đáp :

– Nguyễn Bình không đề nghị gì cả mà chỉ thông báo cho “qua” biết rằng thằng Bảy (Bảy Viễn) đã thoả thuận với y, đưa thằng Tư (Tư Tỵ) từ Bình Xuyên về đây làm Tư Lệnh phó Trung Đoàn 25. Nguyễn Bình nhờ “qua” “giải thích” cho anh Tám Phiệt rõ để anh Tám nhận lời.

– Nghĩa là Nguyễn Bình muốn đưa anh Tư tới kiểm soát, kiềm chế anh Phiệt?

Mười Trí gật đầu :

– Nguyễn Bình giải thích rằng thằng Tư sau trận đánh vừa qua ở Bến Tre, lực lượng tiêu hao quá nhiều. Không còn đủ sức tung hoành nữa, cần dựa vào bộ đội hùng hậu nào đó để…. hồi sinh, bổ sung lực lượng nhưng “qua” hiểu, thâm ý của Nguyễn Bình là đưa thằng Tư kiềm chế anh Phiệt, hay hơn nữa tước đoạt quyền của anh Phiệt.

– Anh Mười tính sao ?

Mười Trí trầm ngâm vài giây:

– Thực ra, đối với thằng Tư không đáng ngại. Vài hôm nữa, nó sẽ tới đây với một tiểu đội, với chứng minh thư của Khu trưởng “phong” làm Trung Đoàn phó Trung Đoàn 25.

Với lực lượng đó, nó khó mà làm gì được anh Phiệt. Hơn nữa dầu sao nó cũng là một trong mười con Rồng Xanh của Bình Xuyên, chắc không hành động xấu xa. Mà dầu nó có tâm địa nào đi chăng nữa, thì còn “qua” đây. “Qua” nhất định không để cho nó toại ý. Em về thưa rõ với anh Phiệt như vậy. Tuy nhiên…

– Thưa anh Mười còn điều gì nữa ?

– Tuy nhiên, qua nghĩ rằng đây là cuộc thử thách, dọ dẫm đầu tiên của Nguyễn Bình đối với Trung Đoàn 25, được đằng chân, chắc chắn Nguyễn Bình sẽ lấn đằng đầu, gây thêm nhiều khó khăn nữa cho anh Phiệt. Cần phải đề phòng kỹ những gì sẽ xẩy ra.

Đúng như lời Mười Trí tiên đoán, Tư Tỵ danh chánh ngôn thuận tới lãnh chức Trung Đoàn phó Trung Đoàn 25 và được từ Mười Trí, Bùi Hữu Phiệt cùng các anh em khác vui vẻ đón tiếp.

Tư Tỵ về với Trung Đoàn 25 có tánh cách “tỵ nạn” hơn là tìm cách đoạt quyền hành. Cả nửa tháng trôi qua, Tư Tỵ không đi tới các trại đồn binh để rõ thực lực Trung Đoàn ra sao, nhưng không phải vì vậy mà làm cho anh em Trung Đoàn yên lòng.

Trong thời gian này, Nguyễn Bình có tới thăm Trung Đoàn 25 một lần nữa. Nguyễn Bình hài lòng vì mọi việc đều êm đẹp như ý mình đã xếp đặt.

Cũng trong thời gian đó Dương văn Hà tức Nam Hà, Tư Lệnh Bình Xuyên sau khi người anh ruột là Dương văn Dương tức Ba Dương bị tử nạn tại Bến Tre, cùng Lê văn Viễn tức Bảy Viễn Khu phó Khu 7 kiêm Tư Lệnh phó Bình Xuyên tới chúc mừng Tư Tỵ.

Năm Hà cũng bị Nguyễn Bình đặt vào trong tình thế khó khăn. Với danh nghĩa là Tư Lệnh Bình Xuyên nhưng quyền hành tại Nam bộ lại thua Tư Lệnh phó Bảy Viễn vì Bảy Viễn là Khu phó khu 7. Như vậy, trên danh nghĩa chính Bảy Viễn chỉ huy. Năm Hà quá hiền lành, thực quyền nơi Bình Xuyên đều nằm trong tay Bảy Viễn.

Bảy Viễn chịu ảnh hưởng Nguyễn Bình, đi cặp kè với Nguyễn Bình, Bình Xuyên chắc chắn sẽ có ngày tan vỡ, lâm nguy.

Bởi vậy, lần này, cuộc mưu sát Nguyễn Bình, vẫn do anh em trẻ tuổi trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 chủ trương, gần như mặc nhiên được Mười Trí tán thành.

Cuộc phục kích lần này được tổ chức kỹ lưỡng …nhưng trên con đường mòn từ Long An về Phú Lâm…

Trời mưa rả rích từ chập tối.

Bầu trời như quá thấp, có thể đưa khẩu súng lên “quơ” cũng đụng mây đen bay là tà trên khoảng đồng trống. Sấm nổ rền càng làm cho bầu không khí của cuộc phục kích thêm thuận tiện.

Người chỉ huy đảo mắt nhìn quanh, trước khi chỉ chỗ cho anh em phục kích, hạ lệnh:

– Phải bắn chết hết những người đi cùng Nguyễn Bình tới đây. Hừ, quanh chúng ta có tới bốn cái cái giếng cạn, đủ làm “mồ yên mả đẹp” cho nhiều người. Khi “họ” đã nằm xuống, giếng cạn sẽ “đón” họ ; vài tảng đá, vài mô đất đắp theo, như vậy đã kín “đẹp” có thể vài năm nữa hay vài thế kỷ nữa cũng không ai phát giác ra họ.

Trời càng về khuya, mưa càng nặng hạt.

Đoàn người phục kích vẫn không sờn lòng, vẫn không cả nhúc nhích mặc cho gió tạt mưa vào mặt lạnh ngắt và đau buốt. Họ chỉ chú ý tới việc giữ sao cho súng đạn được khô ráo.

Một tia chớp loé lên.

Họ giật bắn mình vì cách họ không còn xa, bốn bóng đen, đội nón lá đương xăm xăm rảo bước.

Lúc này họ lắng tai nghe. Thính giác, đối với họ, cũng có thể coi như “cái thước” đo đúng khoảng cách giữa tầm súng của họ với những người đương đi.

Một tiếng hô át cả mưa gió :

– Bắn

Và những tràng trung liên nổ liên tiếp át cả tiếng sấm.

Có tiếng hét trong đau đớn, tuyệt vọng :

– Tại sao… tôi…

Giọng hét quá xa lạ giữa lằn chớp nhoáng quá dài.

– Lầm rồi, không phải…

– Súng hướng về phía trước. Đèn bấm chiếu…

Bốn người mặc bà ba đen quằn quại sình lầy. Những tiếng rên yếu dần, những làn hơi thở mỗi lúc một gấp rút chứng tỏ họ sắp trút linh hồn.

Những chiếc nón lá đã văng ra, lật ngửa, đón mưa khuya đương đổ xuống gõ thành nhịp trầm buồn.

Ánh đèn bấm chiếu trên mặt những kẻ hấp hối.

– Không có Nguyễn Bình…

– Không có cả Nguyễn văn Thắng…

– Họ là ai?

– Lục xét trong người họ coi.

Họ là ai ?

Chứng minh thư trong người họ và một bức thư trong túi một người cho biết họ chỉ là nhân viên liên lạc khu bộ và địa phương. Địa phương dẫn đường cho hai liên lạc khu bộ, mang bức thư của Nguyễn Bình tới Mười Trí xin lỗi đã thất hứa vì công việc bắt buộc phải ở lại Long An trong hai ngày nữa nên không thể tới thăm đúng hẹn. Ngày mai, Nguyễn văn Thắng sẽ tới giải thích và xin lỗi.

Giọng nói thất vọng nổi lên:

– Bây giờ tính sao anh ?

Người chỉ huy cuộc phục kích lưỡng lự.

Hai vấn đề cần được giải quyết gấp : trả lại giấy tờ cho những xác chết để nằm đó, nội trong ngày mai sẽ có người phát giác. Dư luận sẽ cho rằng họ bị quân Pháp hay “pạc ti dăng” (người Việt đi lính cho Pháp tức thân binh) phục kích bắn chết. Nhưng điều này hơi khó tin vì thông thường Pháp và “pạc ti dăng” không bao giờ, hay chỉ trong trường hợp đặc biệt mới hành quân ban đêm. Nếu bỏ họ xuống giếng lấp đá, đất lên thì cũng chỉ nội trong ngày mai tin những liên lạc khu bộ và địa phương không tới ấp số 8 cũng được Nguyễn văn Thắng biết và loan truyền đi khắp nơi. Công an Việt Minh bắt buộc phải mở cuộc điều tra và tìm ra cái xác chết nằm dưới đáy giếng cũng chẳng khó khăn gi.

Giải pháp thứ ba bỏ “họ” xuống giếng rồi về cho Mười Trí hay rằng đã nhận được thư của Nguyễn Bình, các liên lạc viên trở về khu bộ địa phương. Cũng không ổn vì trong thư Nguyễn Bình còn nói rõ “phiền anh Mười “nuôi cơm” các em liên lạc hai ngày vì tôi còn cần gấp tới họ”. Điều này chắc chắn Nguyễn Bình hay Nguyễn văn Thắng đã nói cho các liên lạc viên rõ thì bất luận lý do gì họ cũng không dám rời Phú Lâm trước khi Nguyễn Bình tới.

Chỉ còn một phương pháp “kéo dài thời gian”.

Người chỉ huy cuộc phục kích hạ lệnh :

– Bỏ tất cả xuống giếng cạn, lấp đất lên.

Gần sáng hôm đó, đoàn người phục kích mới trở về bộ đội.

Họ lăn ra ngủ và cho tới khi Nguyễn văn Thắng tới thăm họ cững không báo cáo nội vụ tới Mười Trí.

Tin liên lạc không đưa thư của Nguyễn Bính tới Mười Trí nổ như tiếng sét giữa bầu trời quang đãng.

Ai cũng hiểu rằng sự việc này bao trùm một bí mật vô cùng quan trọng vì không bao giờ các liên lạc viên, nhất là liên lạc khu bộ, những người được lựa chọn kỹ lưỡng đóng vai trò phối hợp hành động của Nam Bộ lại không làm tròn nhiệm vụ, trừ trường hợp bị bắt hay giết ở dọc đường.

Nguyễn văn Thắng, sau ít lời xin lỗi thông thường, tức khắc xin từ biệt Mười Trí…

Tin khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình bị ám sát hụt đương lan ra mau lẹ và mãnh liệt như ngọn lửa đã châm trên ngòi của các thùng thuốc súng.

Nguyễn Bình, sau những vụ đụng độ với Sư đoàn Sao Trắng tại Đông Hưng và Móng Cáy (Bắc Việt) sau sự bắt buộc phải thay đổi chánh sách đi tới liên hiệp với các đảng phái quốc gia, của chánh phủ Hồ chí Minh, đã phải đóng vai trò “vô danh tiểu tốt” trong phái đoàn Bắc bộ, do Lê Duẫn chỉ huy để vào Nam.

Tuy nhiên khi tới mảnh đất của Bến Nghé rồi, thì tên “vô danh tiểu tốt Nguyễn Bình” thoát xác, quyền hạn còn nhiều hơn cả Lê Duẩn.

Sở dĩ có sự “lột xác” bất ngờ này là vì Hồ chí Minh muốn tránh cho Nguyễn Bình tất cả những sự bất trắc có thể xảy ra ở dọc đường do hậu quả của cuộc đụng chạm với Sư đoàn quốc gia Sao Trắng.

Thời bấy giờ tuy trên danh nghĩa là Việt Minh nắm chánh quyền “toàn cõi Việt Nam độc lập” nhưng trên thực tế thì trái hẳn lại bất luận Quốc gia hay Cộng sản có vũ khí trong tay vẫn hùng cứ được một phương.

Ông Hồ chí Minh đã biết rõ hơn ai hết về tình hình tại Nam Bộ.

Trần văn Giàu, Ủy viên quân sự Nam bộ, ra Bắc ngay ngày đầu Miền Nam khói lửa, diễn thuyết nhiều về “Nam bộ oai dũng kháng chiến” nhưng những lời nói không che khuất được hết sự thực quá phức tạp tại Miền Nam.

Trước nhà hát Tây Hà Nội, Trần văn Giàu đương diễn thuyết và tự coi mình như một “anh hùng kháng chiến Miền Nam” thì một trái lựu đạn quẵng lên dài. Kế đó Tư Thiên tức Maurice Thiên, một trong 10 con “Rồng Xanh” của Bình Xuyên và một vệ sĩ nhảy lên diễn đàn.

Tư Thiên điểm mặt Trần văn Giàu :

– Anh kháng chiến ngày nào ở Nam bộ ? Anh bắn Tây phát nào ở Nam bộ, hãy nói rõ tôi nghe ?

Thời đó, Bình Xuyên kháng chiến được Hà Nội thổi phồng và truyền tụng trong dân chúng.

Tư Thiên lại là trưởng phái đoàn của Bình Xuyên kháng chiến từ Nam bộ ra Bắc nên tiếng nói của Tư Thiên rất giá trị

Trần văn Giàu chịu thua Tư Thiên trước quần chúng.

Chánh quyền Hà Nội dư biết rằng nói tới Nam Bộ kháng chiến chỉ để kích thích tinh thần người dân và thực tình nơi đây ra sao đều biết rõ.

Bởi vậy Nguyễn Bình “thoát xác” khi tới miền Nam chỉ qua bức thư ngắn ngủi của ông Hồ chí Minh :

– “Chú Bình, Nam Bộ đương là nơi để anh hùng tạo thời thế, tôi giao Nam bộ cho chú”.

—>Xem tiếp

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN KIM TRÚC: Tôi giết Nguyễn Bình. Bookmark the permalink.

3 Responses to TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

  1. Lê Thy says:

    Xin chân thành cảm tạ bạn NQT độc giả BVCV đã gởi cho Lê Thy những sách:
    – Tôi giết Nguyễn Bình (Trần Kim Trúc)
    – Về R- hồi ký chiến trường viết về bí mật của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (Kim Nhật)
    – và loạt sách viết về Tình báo chiến lược Hà Nội tại Dinh Độc Lập của Trần Trung Quân:
    * Gián Điệp Nhị Trùng
    * Cụm A22
    * Lái buôn tổng thống.

    Trân trọng
    Lê Thy

    Like

  2. NQT says:

    NQT rất vui khi thấy những cuốn sách này thay vì nằm trong thùng, thì nay được BVCV đăng cho mọi người cùng đọc. Bravo Lê Thy đã bỏ công đánh máy lại.

    Like

    • Lê Thy says:

      Lại xin gởi lời cám ơn độc giả NQT đã gởi thêm 5 quyển sách để cho LT không “thất nghiệp” từ đây tới cuối năm. Cũng may là xương cốt nhất là mấy ngón tay được trời thương nên không bị bệnh thấp khớp của người già vẫn còn thi triển “thập dương chỉ” trên bàn phím đánh máy.

      Một lần nữa vô cùng cảm tạ NQT.

      Trân trọng,
      Lê Thy

      Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s