TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

Nguyễn Bình trước khi vâng lệnh ông Hồ chí Minh vào Nam bộ dĩ nhiên đã được cho biết rõ về tình hình nơi đây.

Về quân sự, các giáo phái, các đoàn thể quốc gia vượt mức các tổ chức của Việt Minh vừa mới được vội vàng khai sanh.

Hai giáo phái địa phương hùng mạnh là Cao Đài và Hòa Hảo qua chánh sách giai đoạn đều thân Nhật chống Pháp nên được võ trang khá hùng hậu khi Nhựt đầu hàng.

Đảng phái thì có Việt Nam Quốc Dân Đảng do Phạm Hữu Đức chỉ huy sau khi Tư Lệnh Đệ Tam sư đoàn Nguyễn Hòa Thiệp về thành.

Phạm Hữu Đức là con của một đảng viên VNQDĐ Miền Nam bị lưu đày và bỏ thây tại Côn Đảo.

Phạm Hữu Đức, đã từng là nhân viên cao cấp trong Hiến Binh Nhựt, nuôi Trần văn Giàu trong khi Hiến binh Nhựt lùng bắt Giàu.

Một sự tình cờ “đặc biệt” đã đưa bộ đội An Điền của Đại Việt Quốc Dân Đảng do Bùi Hữu Phiệt làm Chỉ huy trưởng lên hàng bộ đội hùng mạnh nhất của Kháng chiến Nam bộ thời bấy giờ.

Bình Xuyên có thể nói là “Một đảng chính trị” vì “con Rồng Xanh số 1” là Dương văn Dương tức Ba Dương, còn lưỡng lự trước sự lựa chọn con đường chính trị của mình.

Ba Dương là con người “độc đáo” tại Miền Nam.

Thủ lãnh của Bình Xuyên, đám dân “trốn xâu lậu thuế”, “anh chị đứng bến xe đò hay tầu thủy” chống đối công khai nhà cầm quyền Pháp, người ta hình dung Ba Dương ít lắm cũng cao lớn hơn Mười Trí, nghĩa là ít nhất cao quá 1 thước 75 phân, mặt có “cô hồn” nói năng tục tĩu, và sẵn sàng rút dao tu ra để “giải quyết” mọi chuyện. Ba Dương phải mặc bà ba đen bằng lãnh, đội nón nỉ, quàng khăn lông nơi cổ cho đúng điệu anh chị.

Sự thực trái hẳn lại.

Ba Dương không cao quá 1 thước 55 phân , nhỏ thó, trắng trẻo, luôn luôn “khăn đóng áo dài đen” như một ông đồ nho.

Ba Dương là một ông đồ nho vì theo gia thế học quá nhiều về “tam tự ngũ kinh”, một học vấn mà người Pháp cấm ngặt trong thời đô hộ thuộc địa Nam Kỳ.

Thêm một mầu sắc đặc biệt cho Bình Xuyên là Ba Dương chưa hề bao giờ là “anh chị” đứng bến hay “đả hồ” gác sòng bạc. Trái lại Ba Dương là triệu phú chủ nhân ông hai nhà máy xay lúa và một nhà máy dệt bao bố tại Chợ Lớn.

Tư Thiên, một trong 10 Rồng Xanh của Bình Xuyên, cũng có nếp sống vương giả như Ba Dương. Tư Thiên, “dân Tây” vì vợ đầm, chỉ “khoái” đua xe đạp, nhưng cũng là chủ nhân ông của hai nhà máy xay lúa tại Chợ Lớn kiêm chủ cả hai “lô” ngựa đua nổi tiếng cho tới thời kỳ kháng chiến.

Bình Xuyên phức tạp như vậy.

Bình Xuyên càng phức tạp hơn nữa vì là người chỉ huỵ tất cả công nhân tại kho 5 rồi sau đó công nhân đóng tàu cây cho Nhựt, Ba Dương giao thiệp rất thân mật với Nguyễn văn Số, cán bộ cao cấp của Đệ Tứ Quốc Tế có lẽ chỉ vì vấn đề lao động.

Ba Dương, trước ngày tàn của Nhựt luôn luôn gặp gỡ Hồ Vĩnh Ký, giám đốc công an Nam Kỳ (thời Nhựt) và nhất là Lâm Ngọc Đường, Phó giám đốc, những người quốc gia.

Như vậy, Ba Dương không thể là con người của Đệ Tam Quốc Tế, nghĩa là thiên hẳn về quốc gia cực đoan như Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường hay Đệ Tứ Quốc Tế theo Nguyễn văn Số.

Một trong hai quyết định này đều hoàn toàn bất lọi cho Đệ Tam Quốc Tế.

Giáo phái, đảng phái là như vậy.

Còn về nhân tâm thì sao?

Người dân miền Nam trực tính, bộc lộ rõ ràng rằng “ai đánh Tây thì ủng hộ”.

Trước những yếu tố đó, Nguyễn Bình con người cầm trong tay bức thư vạn năng của Hồ chí Minh nghĩ sao ?

Những tháng đầu năm 1946 không ai có thể ghi nhận được con đường mà Nguyễn Bình muốn “thênh thang tại Nam Bộ”.

Tuy nhiên hành động dưới đây của Nguyễn Bình đã diễn ra quá công khai khiến mọi người sửng sốt cố tìm hiểu Khu trưởng khu 7 là quốc gia thực sự hay âm mưu gì dưới “cái vỏ quốc gia”.

Khởi đầu “nhận chức”, Khu trưởng khu 7 Nguyễn Bình đơn thương độc mã tới thăm các lực lượng quân sự đối lập với Cộng sản quốc gia hay Đệ Tứ Quốc Tế đã cùng nhau mặc nhiên cố kết.

Cộng sản cũng như Quốc Gia kháng chiến đều dễ dàng hiểu rõ hành động cầu thân này của Nguyễn Bình, nghĩa là có một âm mưu mà chưa tiết lộ.

Nhưng “đòn thứ hai” của Nguyễn Bình lại vô cùng kỳ dị gây hoang mang cho cả phía Quốc Gia và Cộng sản.

Qua một thông cáo chánh thức của Ủy ban Hành kháng Nam bộ, Nguyễn Bình hạ lệnh cho toàn cõi Miền Nam phải tổ chức lễ truy điệu nhà cách mạng Nguyễn Thái Học.

Đối với người dân quê Nam bộ, cái tên Nguyễn Thái Học quả thực là xa xôi, không quen thuộc bằng Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh v.v…

Tuy nhiên với guồng máy tuyên truyền được huy động tới mức tối đa, người dân tại các vùng hẻo lánh cũng biết rằng Nguyễn Thái Học là một nhà cách mạng, một anh hùng dân tộc.

Để đập thẳng vào tâm lý quần chúng còn đương bồng bột với cuộc kháng chiến, các cán bộ tuyên truyền chỉ cần bày ra vài sự việc Nguyễn Thái Học đã đánh Tây nhiều năm, đã giết được nhiều giặc Pháp nhưng sau cùng thất thí bị Pháp đưa lên máy chém tại Yên Báy.

Với thành tích đánh Tây giết Pháp, như vậy đủ rồi. Hơn nữa lại nhận được chỉ thị của Nguyễn Bình, từ Tổng hành dinh Nam bộ tới trụ sở của Ủy ban hành chánh xã xa xôi, đâu đâu cũng tổ chức “ngày giỗ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học”.

Điều đáng khen Nguyễn Bình là mặc dầu biết rõ là nếu đúng lời ước hẹn từ Tân An về Phú Lâm trong ngày hôm đó, thì chính bản thân mình sẽ bị bắn và liệng xuống giếng cạn chứ không phải là 4 liên lạc viên, nhưng Nguyễn Bình cũng đích thân tới ấp số 4 tham dự lễ truy điệu Nguyễn Thái Học do Phạm Hữu Đức, nhân danh Liên Quân Bình Xuyên tổ chức.

Liên Quân Bình Xuyên dành danh dự này cho Phạm Hữu Đức vì Phạm Hữu Đức “cha truyền con nối” là đảng viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng.

Nguyễn Bình tới dự lễ truy điệu cũng vì lẽ đó.

Hơn nữa Nguyễn Bình, mặc dầu là Khu trưởng khu 7, Phạm Hữu Đức chỉ là Tư Lệnh Trung Đoàn 5, cũng dành tất cả danh dự người “chủ tế” cho Tư Đức.

Nguyễn Bình không đọc diễn văn, thúc đẩy từ Mười Trí, Bùi Hữu Phiệt hành lễ trước rồi mới niệm hương trước bàn thờ của Nguyễn Thái Học.

Hành động này của Nguyễn Bình khiến Phạm Hữu Đức khóc ròng, Mười Trí, Bùi Hữu Phiệt, và những anh em trẻ trong bộ Tham Mưu của Trung Đoàn 25 thắc mắc tự hỏi; “phải chăng Nguyễn Bình, chiếc lá Nguyễn Bình, đã trở về cội ?”

Chính sự “phân vân” này của những nhà cách mạng và kháng chiến Quốc Gia, thêm một lần nữa, đã làm cho Miền Nam Việt Nam bao trùm khói lửa cho tới ngày nay (ngày mà độc giả đương đọc loạt bài này).

Hãy giở ngược lại những trang lịch sử đấu tranh.

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhựt đảo chính Pháp.

Tại sao lại có đanh từ “đảo chánh” ?

Từ năm 1940 viện cớ “mượn đường” đánh Hoa Nam (Miền Nam Trung Hoa Dân Quốc) quân Nhựt đổ bộ tại Cầu Niệm, chiếc cầu nối liền thành phố Hải Phòng và tỉnh Kiến An. Rồi từ đó, Nhựt đưa quân lên phía bắc Bắc Việt chiếm Cao Bằng Lạng Sơn, đưa quân xuống Miền Nam, lan tràn khắp Đông Dương tiến đánh Miến Điện, Thái Lan v.v…

Tuy nhiên, về quyền hành chánh tại Đông Dương, Nhựt vẫn để cho Pháp nắm giữ mặc dầu thực quyền trong tay binh đội Nhựt.

Khi Nhựt Hoàng hạ lệnh cho quân đội đầu hàng Đồng Minh, riêng tại miền Nam, các đoàn thể thân Nhựt, như Cao Đài, Hòa Hảo, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Thanh Niên Ái Quốc Đoàn v.v… có thể thừa thế nắm chánh quyền nhất là thời kỳ đó, miền Nam đã có một chánh quyền Quốc Gia do ông Nguyễn văn Sâm làm Khâm Sai.

Trần văn Giàu, Nguyễn văn Tạo, Dương Bạch Mai, đại diện cho Việt Minh lăm le muốn nắm chánh quyền nhưng còn e dè các đoàn thể Quốc Gia.

Những cuộc họp báo Quốc Cộng kẻo dài cả tháng tại Tòa Đô Chánh Saigon.

Những cuộc họp riêng giữa các đoàn thể Quốc Gia như Cao Đài Tây Ninh, Cao Đài Bến Tre, Hòa Hảo, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, diễn ra tại biệt thự của bà Nguyễn thị Sương, vợ ông Hồ Vĩnh Ký đương nắm Công an Nam bộ, và đặt dưới quyền của nhà cách mạng lão thành vừa từ Thái Lan về Saigon: ông Dương văn Giáo.

Các anh em Quốc Gia muốn “một mẻ lưới” bắt hết các đại diện Việt Minh.

Ông Dương văn Giáo lưỡng lự cho tới ngày 2-9-45, Việt Minh trình cùng quốc dân thành phần của Ủy ban Hành Chánh Nam bộ gồm toàn các nhân vật Việt Minh hay thân Việt Minh.

Ông Dương văn Giáo phải bỏ Saigon lên đường qua Thái Lan nhưng bị chặn giết ở dọc đường.

Đó là một cơ hội mà các đoàn thể Quốc Gia vì không dám dứt khoát nên đã bỏ mất chánh quyền tại Miền Nam.

Qua lễ truy điệu Nguyễn Thái Học, các đoàn thể Quốc Gia kháng chiến, một lần nữa, lại không có tư tưởng dứt khoát với Nguyễn Bình.

Và cũng nhờ lễ truy điệu được tổ chức rầm rộ khắp Nam bộ, Nguyễn Bình đã trấn an được dư luận quần chúng, đã đạt được cảm tình của các đoàn thể Quốc Gia kháng chiến.

Nhưng đó chỉ là kế hoãn binh để Nguyễn Bình đủ thì giờ sắp xếp lại nội bộ và thi hành, một vài độc kế.

Qua nhiều lần tiếp xúc với Dương văn Dương tức Ba Dương thủ lãnh của Bình Xuyên, Nguyễn Bình hiểu ngay rằng không thể nào mua chuộc, thuyết phục hay áp lực được con người đó.

Mua chuộc bằng tiền bạc ? Ba Dương tuy mang danh là Bình Xuyên, nhưng lại là chủ hai nhà máy xay lúa và một nhà máy dệt bao bố tại Chợ Lớn, nay bỏ tất cả để đi kháng chiến “số tiền mua cho được Ba Dương” quá cao, chắc chắn Nguyễn Bình không thể có.

Thuyết phục bằng chủ nghĩa Cộng Sản? Ba Dương là con nhà gia giáo, rất giỏi chữ nho giao thiệp nhiều với các cán bộ Đệ Tứ Quốc Tế như Nguyễn văn Số v.v… lại trong những ngày đầu của “Việt Nam độc lập” liên lạc chặt chẽ với Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường thì tinh thần Quốc Gia và chống Cộng đã quá bộc lộ.

Áp lực một vị thủ lãnh Bình Xuyên ?

Lúc đó Nguyễn Bình mặc dầu là Khu trưởng khu 7 cũng không đủ lực lượng quân sự để thi hành ý muốn.

Chỉ còn một cách duy nhất là dùng những người trong hàng ngũ Bình Xuyên nhưng không phải “gốc B.X” để hạ sát Ba Dương.

Và tin Ba Dương bị phi cơ Pháp bắn chết dưới chân một gốc cây rơm tại Bến Tre làm cho chiến sĩ Bình Xuyên đau đớn nhưng gây một mối nghi ngờ rất lớn trong đầu óc anh em trong Liên Quân Bình Xuyên.

Sau cuộc điều tra cấp tốc và tại chỗ anh em trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 biết rõ rằng Ba Dương bị ám sát.

Ngày tang tóc đó, quả thực có phi cơ Pháp tới bắn phá một làng tại Bến Tre, nơi quân của Ba Dương và Từ văn Ri tức Henri Từ, Trung Đoàn trưởng Trung Đoàn 2 Bình Xuyên trú đóng.

Sau hai đợt bắn phá bằng đại liên, chiến đấu cơ “Spicfire” của Pháp bỏ đi.

Ba Dương vẫn còn sống. Ba Dương chỉ cần lẩn quanh cây rơm cũng tránh được các loạt đạn đại liên của phi cơ Pháp một cách dễ dàng vì nếu phi cơ từ hướng Đông tới, Ba Dương chỉ cần nằm phía Tây nơi gốc cây rơm hay ngược lại.

Sau các chiến đấu cơ, hai thám thính cơ L19 thường được gọi nôm na là “máy bay bà già” và tiếng Bình Xuyên gọi “giường cử” xuất hiện.

Ngoài bổn phận thám thính, “bà già” đôi khi cũng gây khó khăn cho kháng chiến quân bằng cách liệng lựu đạn xuống hay bắn bằng Thompson.

Hôm đó, thám thính cơ của Pháp cũng bắn nhiều loạt Thompson xuống.

Và theo “tin chánh thức” thì Ba Dương bị trúng đạn Thompson mà bỏ mình.

Ba Dương nằm sấp, hai tay vươn về phía trước, chân phải gập dưới bụng, chân trái duỗi dài. Như vậy chứng tỏ rằng Ba Dương chạy từ cây rơm này qua mép nơi cây rơm khác thì bị trúng đạn.

Từ văn Ri xác nhận rằng lúc đó y núp gần đó, và Ba Dương trúng đạn Thompson khi vừa chạy tới gần chân cây rơm lớn và cao ngất.

Chỉ cần coi vết thương anh em trong bộ Tham Mưu của Trung Đoàn 25 cũng rõ Từ văn Ri nói dối, nhưng không dám tiết lộ hết sự thực lúc bấy giờ vì chỉ có vài người được phái tới thăm Ba Dương trước ngày thủ lãnh Bình Xuyên lâm nạn.

Lúc đó, Từ văn Ri đang chăm chú quan sát sự nhận xét của anh em trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25. .

Lúc đó, Henri Từ chỉ huy cả Trung Đoàn 3,có nghĩa là nếu cần sẽ giết người để bịt miệng.

Xem xét vết thương của Ba Dương xong, anh em công nhận những lời của Henri Từ “phải thủ lãnh Bình Xuyên” bị đạn Thompson từ trên “máy bay bà già” bắn trúng.

Nhưng sự thực trái hẳn lại: Ba Dương bị một viên đạn bắn từ sau gáy trở lên đỉnh đầu nghĩa là Ba Dương bị kẻ nằm ở dưới đất hướng mũi súng lên bắn lén vì nếu từ phi cơ bắn xuống thì trái hẳn lại đạn phải từ đỉnh đầu trở ra phía sau.

Anh em còn quả quyết hơn nữa Henri Từ là thủ phạm vì chỉ sau ít ngày Ba Dương từ trần, Từ văn Ri dẫn Trung Đoàn 2 rời khỏi hàng ngũ Bình Xuyên về với Nguyễn Bình.

Sau cái chết của Ba Dương và sự rời bỏ hàng ngũ của Henri Từ, Bình Xuyên bắt đầu gặp thêm quá nhiều khó khăn.

Và cũng sau cái chết đau thương của Ba Dương, Nguyễn Bình viện cớ quân của Tư Tỵ tan nát tại Bến Tre nên mới “gởi” Tư Tỵ tới nằm vùng tại Trung Đoàn 25 Bình Xuyên để kiểm soát và kiềm chế Bùi Hữu Phiệt.

Trăng đêm đó sáng quá. Trời xanh mát cao như vô cùng tận; gió mát của Đồng Tháp Mười thổi vi vút khắp “đảo” Quéo Ba, nơi Trung Đoàn 25 và Trung Đoàn 5 có bổn phận sửa soạn, tiếp đón từ Đức Hùynh Giáo chủ, Tư Lệnh Cao Đài kháng chiến, Trình Minh Thế, Tư Lệnh Sư đoàn 5, đảng viên cao cấp của Đệ Tứ Quốc Tế.

Nguyễn Thành Long, vừa được “phái đoàn” của Trung Đoàn 25 rước về, đại diện Tân Dân Chủ Đảng v.v… về họp đại hội.

Mười Trí, từ ấp số 8 Phú Lâm tới Sáu “Xếch Xông” trước các “phái đoàn khách”.

Đối cảnh, Mười Trí hạ lệnh cho “hỏa đầu quân” đặt tiệc rượu thông thường nghĩa là trải chiếu dài trên sàn gạch hay đất nện, để cùng tất cả các anh em cấp bậc chỉ huy đối ẩm.

Mười Trí có biệt tài về những cuộc tổ chức ăn nhậu.

Sau một cuộc hành quân mệt nhọc ngày, bóng đêm vừa tỏa xuống bộ đội được lệnh phải cấp tốc di chuyển vì sợ ngày mai Pháp theo thông thường sẽ huy động nhiều lực lượng mở cuộc càn quét, tới một nơi hoang vắng, thì cũng chỉ với vài chai rưọu đế mà hỏa đầu quân luôn luôn phải sẵn sàng cung cấp, vài trái ổi chua, ô môi, xoài tượng, tùy theo mùa, hay nhiều lắm vài con vịt, gà, Mười Trí cũng có thể làm cho bữa tiệc vô cùng hào hứng.

Mười Trí có biệt tài là pha trộn giữa những sự việc vô cùng quan trọng với sự bông đùa, những việc cần phải đổ máu với tiếu lâm.

Mười Trí từng kể cho anh em nghe cuộc đời ngang dọc của mình khi còn là một tướng cướp, theo lệnh các anh lớn “đánh” ngay cả dinh của một viên quận trưởng Pháp ở Phan Thiết vì nhận được tin rằng “tên này” vừa đào được kho tàng đầy vàng của một bà chúa Chàm mang về chất đống tại tư dinh.

Mười Trí đã thành công trong nhiệm vụ cùng với anh em Bình Xuyên khác, nhưng bi rượt nà, giữa đường rút lui về Nam, nơi các vùng chỉ có đồng bào sơn dã, đã phải đổi cả một rổ vàng để lấy một rổ cơm.

Mười Trí cười lớn :

– Trong đời “qua” chưa hề bao giờ đánh cướp vụ nào mà không đoạt được dưới 2.000 đồng. (Hai ngàn thời trước 1940 bằng 2 triệu thời nay). Tiền này nạp vào “quỹ” để mua ruộng cho dân làng Bình Xuyên. “qua” được thưởng nhiều nhất là 200 đồng. Một lần “qua” đánh xong một vụ, dám chấp cả Catinat (Công an Pháp, trụ sở tại bộ Nội Vụ đường Catinat tức Tự Do bây giờ) tìm kiếm “qua” không nổi. Vậy mà các em biết không…

Mười Trí uống hớp rượu lớn, đưa mắt nhìn quanh :

– Các em biết “qua” muốn nói gì không ?

Một anh em dí dỏm đáp :

– Ồ, chỉ có chị Mười, mới biết anh muốn gì.

Mười Trí đập đùi cười lớn:

– Em thực giỏi. Phải, chỉ có má con Liên (con gái út của Mười Trí) mới biết “qua” muốn gì.

Mười Trí thấp giọng:

– Nói thực với các em, sau mỗi vụ cướp lớn, “qua” về Bình Xuyên nằm nghỉ ngơi, Catinat không cách nào tìm bắt được, “qua” không về Bình Xuyên, ở nơi khác thì Catinat cũng thua. Nhưng điều này thực lạ, khi “qua” có mèo, trốn còn kỹ hơn sau vụ ăn cướp, thì hai ngày sau là má con Liên đã bắt được “qua” tại trận. Sao kỳ vậy?

Mọi người phá lên cười.

Mười Trí không hiểu thực hay mua vui câu chưyện, điều đó không chút quan trọng vì ai cũng hiểu rằng giới chỉ huy Bình Xuyên có những nguyên tắc đã định là không thể cho đàn bà lung lạc hay chia rẽ anh em.

Mười Trí có mèo, trốn nơi đâu thì cũng trong vòng tai mắt của anh em Bình Xuyên. Tức khắc họ ngầm báo cho “má con Liên” biết nên Catinat thua má con Liên ở chỗ đó.

Những “thỏa hiệp” trên của Bình Xuyên còn thể hiện qua một chuyện được coi là ly kỳ và độc đáo giữa Mười Trí và Bảy Viễn trong thời kỳ kháng chiến.

Bữa đó, Mười Trí từ Phú Lâm về Bình Xuyên thăm Bảy Viễn đã lãnh chức Khu phó khu 7, Phó Tư Lệnh quân đội Bình Xuyên.

Mười Trí mặc bà ba đen, như mọi người kháng chiến, cùng vài cận vệ tới nơi được coi là “tư dinh” của Bảy Viễn.

Cuộc đi bộ cũng hơi xa, mặt mũi Mười Trí lem luốc, nhưng cũng tiến thẳng tới tư dinh của Bảy Viễn gõ cửa.

Một thiếu phụ vừa quá 20 tuổi rất đẹp từ trong nhà ra mở cửa Mười Trí :

– Thưa chị, thằng Bảy có nhà không ?

Thiếu phụ quắc mắc nạt:

– Chú biết tôi là ai không? Mà chú là ai mà dám hỏi Khu phó một cách xách mé như vậy ?

Lẽ cố nhiên Mười Trí khi “thưa chị” đã biết thiếu phụ này là vợ nhỏ của Bảy Viễn, nhưng trước những lời sỗ sàng, liền hạ lệnh cho các cận vệ rút lui, không một lời giải thích.

Chiều về, Bảy Viễn được cô vợ nhỏ kể lại tự sự, Bảy Viễn hoảng kinh tức tốc đi tìm Mười Trí thì trong khi đó Mười Trí là cao cấp hơn Bảy Viễn, hạ lệnh cho chính lính của Bảy Viễn bắt “người đàn bà đó” đưa ra rạch xử tử.

Khi đôi bên gặp nhau, Mười Trí chỉ cần giải thích một câu thực vắn tắt:

– Người đàn bà kênh kiệu, chua ngoa như vậy không được, vì sẽ làm mất lòng anh em. Khi anh em đã mất lòng, đại sự phải thất bác.

Bảy Viễn nhận thấy những lời phê bình của Mười Trí là đúng.

Giới anh chị Bình Xuyên trọng vọng người đàn bà hơn tay anh chị dao búa trong “đảng” vì biết rằng nếu người đàn bà có thực thâm đảm đang lo liệu cho gia đình, cho con cái thì “chiến sĩ” mới dám xông pha, vào tù ra khám cũng chẳng chút bận tâm.

Tuy nhiên, người vợ mới quá trẻ đẹp khiến Bảy Viễn đêm đó nằm trên bộ ván bên cạnh Mười Trí, thở dài não nề.

– Bảy, bộ mày tiếc của lắm sao?

Bảy Viễn cũng không dằn được, trả lời bậm trợn:

– Đ.M. mày hạ lệnh giết nó rồi, tao không phản đối một câu, bây giờ tao… thở dài mày cũng cấm đoán sao ?

Mười Trí cười xòa cho êm chuyện.

Tinh thần của những con Rồng Xanh, tức là các cấp lãnh đạo Bình Xuyên là như vậy nên muốn lũng đoạn cả khối này, Nguyễn Bình phải nhờ tay Từ văn Ri tức Henri Từ ám sát Ba Dương, người thủ lãnh mà bất luận.. con Rồng Xanh nào cũng kính nể, cũng không dám phản đối khi Ba Dương đã quyết định một việc gì.

Toàn thể Bình Xuyên đưa Dương văn Hà, tức Năm Hà, em ruột của Ba Dương lên chức thủ lãnh.

Năm Hà, tuy học cao hơn Ba Dương nghĩa là có theo học nhiều năm các trường công lập nhưng thua xa người anh ruột về đủ mọi phương diện, từ sự thông minh, quán xuyến thâm thúy, quyết định đến cả võ nghệ.

Điều đó không có gì lạ vì Năm Hà tuy cũng là 1 trong 10 con Rồng Xanh của Bình Xuyên nhưng thông thường núp dưới nanh vuốt của người anh hơn là tung hoành gây thành tích cá nhân cho mình.

Sự thực trừ những người thân tín nhất ra, chưa ai biết rõ về võ nghệ của Ba Dương cao tới mức độ nào.

Tuy nhiên trong giới võ nghệ miền Nam, người ta còn truyền tụng vụ “đụng độ” hi hữu giữa Ba Dương và Sáu Cường.

Sáu Cường nổi tiếng trong “giới võ lâm” về thế liên châu nghĩa là tung chân phải lên đá chưa dứt đòn thì không cần phải có điểm tựa, không cần chân phải chấm đất, đã có thể phóng chân trái lên đá tiếp và cứ như vậy, liên miên như bất tận, cho tới khi hạ được địch thủ.

Sáu Cường vừa đả lôi đài tại Chợ Lớn, lãnh chức vô địch Nam Kỳ.

Không rõ ai đã nói gì, mà sau ngày “vinh quang” đó, Sáu Cường đơn thương độc mã, tới quán nhỏ trên đường từ Chợ lớn về nhà riêng của Ba Dương mà chờ đợi.

Sau công việc chỉ huy tại nhà máy xay lúa, Ba Dương nhỏ thó, không cao quá 1 thước 60 phân, như một ông đồ nho, khăn đóng, áo dài đen, dù cắp trên tay thủng thẳng về nhà.

Đã từng nghe danh, nhưng chưa hề gặp mặt, Sáu Cường ngạc nhiên khi được dân nhậu trong quán cho biết… anh đồ nho đó là Ba Dương; nhưng cũng vội vàng rời quán, tiến tới, lễ phép :

– Thưa ông Ba (xưng hô vô cùng kính trọng vì Ba Dương và Sáu Cường tuổi xấp xỉ ngang nhau) tôi là Sáu Cường…

Ba Dương mỉm cười niềm nở đáp :

– À ra Thầy Sáu (cách xưng hô này đã hơi trịch thượng so với câu chào của Sáu Cường). Tôi mừng cho Thầy vừa đoạt cbức vô địch.

Sáu Cường hài lòng vì tin tức được loan truyền rất mau và chứng tỏ Ba Dương cũng đặc biệt chú ý tới mình, nên nhũn nhặn đáp:

– Thưa điều đó có gì quan trọng. Tôi muốn gặp ông Ba để xin một điều.

– Thầy Sáu đừng khiêm tốn. Điều gì cứ việc nói.

– Tôi muốn được ông Ba chỉ giáo một chút về võ nghệ. Ngày nào ông Ba cho phép…

“Chỉ giáo” là danh từ khiêm nhượng không dấu được ý của Sáu Cường muốn giao đấu cùng Ba Dương.

Ba Dương đưa mắt nhận xét Sáu Cường.

Nếu phải là hai võ sĩ quyền Anh thượng đài thì không bao giờ ban tổ chức cho “cáp độ” giữa hai người này. Sáu Cường ít lắm cũng cao hơn Ba Dương 10 phân cân nặng hơn ít lắm 20 ký.

Ba Dương như không nhận thấy sự chênh lệch về bề ngoài, dịu dàng đáp:

– Ồ ngày nào cũng được, ngay bây giờ cũng được. Mình “học hỏi” cùng nhau, có điều gì quan trọng đâu.

Sáu Cường tuy ngạc nhiên nhưng trước những cặp mắt tò mò của đông người trong quán, vội trút bỏ nón nỉ, khăn bông quàng cổ, áo bành tô, cột chặt ống quần, thắt lại dây giầy gọn gàng theo ý muốn rồi nhẩy ra khoảng trống trước quán.

Thêm một lần nữa, Sáu Cường ngạc nhiên khi thấy Ba Dương vẫn khăn đóng, áo dài và giữ nguyên chiếc dù trên tay :

– Ông Ba không sửa soạn…

– Tôi sửa soạn rồi Thầy Sáu… bắt đầu đi.

Giọng nói của Ba Dương thực hiền hòa, nhưng ý nghĩa câu nói lại vô cùng trịch thượng khiến Sáu Cường, mặc dầu có e dè tói đâu, cũng chỉ còn cố gắng gượng nói câu khách sáo:

– Vậy, tôi xin phép ông Ba.

Khoảng cách giữa hai đối thủ hơn 6 thước.

Sáu Cường nhún mình nhảy liên tiếp ba lần nhưng khi vừa đúng tâm mức để thi thố thế cước liên châu thì Ba Dương tung chân đá gió khiến Sáu Cường trở lại vị trí cũ.

Sáu Cường bàng hoàng nhưng vẫn tưởng rằng sự thất thế của anh là do háo thắng của chính mình nên mới tạo cho đối phương cơ hội phản công.

Lần này Sáu Cường thận trọng hơn nhưng kết quả cũng không hơn gì lần trước. Và thất bại lần thứ ba, Ba Dương vẫn trong tư thế nho nhã của một ông đồ, Sáu Ctrờng chợt hiểu nên vội vòng tay thi lễ :

– Cám ơn ông Ba đã tha chết hay ít lắm cũng đánh tôi bị thương.

– Có gì mà Thầy Sáu quá lời như vậy?

Sáu Cường lỗ mãng tới đâu chăng nữa, nhưng là con nhà võ, nên hiểu ngay các khuyết điểm của mình.

– Ông Ba thương nên chỉ đá gió đã khiến tôi phải bật lại phía sau. Nếu ông Ba muốn gia hại, chỉ cần chờ tôi tiến sát tới thêm nửa thước nữa thì cái đá của ông Ba chắc chắn làm tôi bị thương, còn muốn giết tôi thì ông Ba chỉ cần chờ tôi tung cước mới đá theo.

Ba Dương cười xòa :

– Thầy Sáu nhận xét tinh vi, lãnh chức vô địch Nam Kỳ quả thực xứng đáng.

Từ đó Sáu Cường rất kính trọng Ba Dương và Ba Dương cũng coi Sáu Cường như kẻ đáng mến vì thẳng thắn và biết người biết ta.

Con người đặc biệt của Ba Dương là như vậy : anh hùng cá nhân tới tuyệt độ, nhưng lại là thủ lãnh của một khối kháng chiến đương quá mạnh về vũ khí cũng như tinh thần

Nguyễn Bình mặc dầu là đảng viên Cộng sản nhưng đôi khi bản chất Quốc Dân đảng cũng “chợt thức giấc” anh hùng cá nhân tính vùng lên lại đứng trong tình thế “có tướng không có quân” thì việc thèm khát địa vị của của Ba Dương hay ít lắm cũng tìm đủ mọi cách hạ cho được Ba Dương để thực hiện ý đồ của mình là sự dĩ nhiên.

Song song với sự ám sát Ba Dương, Nguyễn Bình tìm đủ mọi cách triệt hạ những lãnh tụ có ảnh hưởng trong Liên Quân Bình Xuyên.

Năm Hà được anh em Bình Xuyên tôn lên chức Tư Lịnh, không làm cho Nguyễn Bình lo ngại. Năm Hà, tuy là một trong 10 con Rồng Xanh Bình Xuyên (mười người chỉ huy Bình Xuyên) nhưng tính tình ôn hoà, dễ dãi đôi khi có thể nói rằng mềm yếu đối với anh em, không sâu sắc, thông minh và quyết liệt như Ba Dương, nên Nguyễn Bình không mấy quan tâm.

Tuy nhiên Nguyễn Bình luôn luôn phòng xa vì sợ “nó lú chú nó khôn” nên xếp đặt màng lưới nhện rất tinh vi tại Bình Xuyên.

Bảy Viễn chỉ là Tư Lịnh Trung đoàn 2 Bình Xuyên (trước khi nhường quyền cho Từ văn Ri tức Henri Từ) được Khu trưởng Nguyễn Bình nâng lên làm Khu phó khu 7.

Với sự cất nhắc Bảy Viễn lên địa vị này, Nguyễn Bình đã gây sự mâu thuẫn ngấm ngầm và trầm trọng trong hàng ngũ Bình Xuyên.

Trên thực tế, Bảy Viễn chỉ là Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 2, đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Năm Hà, Tư Lịnh Bình Xuyên.

Theo “thứ bực Rồng Xanh” Bảy Viễn còn dưới cả Mười Trí vì đứng hàng thứ 9 nhưng với địa vị mà Nguyễn Bình vừa phong cho, Bảy Viễn trên giấy tờ, còn chỉ huy cả Năm Hà và Mười Trí.

Bảy Viễn rất hãnh diện với địa vị cao mới nên đã không ngần ngại trao quyền chỉ huy Trung Đoàn 2 cho Từ văn Ri, một người dân Pháp, theo kháng chiến về đầu hàng Bình Xuyên, nhưng không phải là “gốc Bình Xuyên”.

Hành động của Bảy Viễn làm cho Bình Xuyên lo ngại vì đã bộc lộ quá rõ ràng rằng Bảy Viễn muốn thoát khỏi sự chỉ huy của Bình Xuyên để đứng lên chỉ huy ngược lại anh em cũ.

Tuy nhiên bên cạnh Năm Hà còn có những con Rồng Xanh khác như Tư Tỵ, Bảy Nam, Sáu Lào và “con Ly”, (dưới cấp Long là Rồng vì Bình Xuyên tổ chức, đặt địa vị anh em theo Tứ Quý: Long, Ly, Quy, Phượng). Dữ tợn nhất là Tư Ý, triệt để tuân theo mệnh lệnh và giúp đỡ nên Bảy Viễn e ngại chưa dám có hành động gì cụ thể chèn ép Năm Hà.

Nguyễn Bình biết rõ điều đó nên giúp tay cho Bảy Viễn, một lần nữa, phân tán thế lực từ “gốc Bình Xuyên”.

—>Xem tiếp

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN KIM TRÚC: Tôi giết Nguyễn Bình. Bookmark the permalink.

3 Responses to TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

  1. Lê Thy says:

    Xin chân thành cảm tạ bạn NQT độc giả BVCV đã gởi cho Lê Thy những sách:
    – Tôi giết Nguyễn Bình (Trần Kim Trúc)
    – Về R- hồi ký chiến trường viết về bí mật của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (Kim Nhật)
    – và loạt sách viết về Tình báo chiến lược Hà Nội tại Dinh Độc Lập của Trần Trung Quân:
    * Gián Điệp Nhị Trùng
    * Cụm A22
    * Lái buôn tổng thống.

    Trân trọng
    Lê Thy

    Like

  2. NQT says:

    NQT rất vui khi thấy những cuốn sách này thay vì nằm trong thùng, thì nay được BVCV đăng cho mọi người cùng đọc. Bravo Lê Thy đã bỏ công đánh máy lại.

    Like

    • Lê Thy says:

      Lại xin gởi lời cám ơn độc giả NQT đã gởi thêm 5 quyển sách để cho LT không “thất nghiệp” từ đây tới cuối năm. Cũng may là xương cốt nhất là mấy ngón tay được trời thương nên không bị bệnh thấp khớp của người già vẫn còn thi triển “thập dương chỉ” trên bàn phím đánh máy.

      Một lần nữa vô cùng cảm tạ NQT.

      Trân trọng,
      Lê Thy

      Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s