TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

Với danh nghĩa Khu trưởng khu 7, Nguyễn Bình hạ lệnh cho Bảy Nam và Sáu Lào về chỉ huy công tác vùng Phú Lâm Chợ Lớn nhưng muốn xoa dịu dư luận, Ban công tác này đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Đoàn 4 Bình Xuyên do Mười Trí làm Tư Lịnh.

Được rời bỏ vùng “hậu cứ” Tân An, Bến Tre, Rừng Sát, để hoạt động tại “tiền đồn” lại cũng vẫn đặt dưới quyền chỉ huy của các anh lớn Bình Xuyên nên Sáu Lào, Bảy Nam không chút nghi ngờ, trái lại còn cám ơn Nguyễn Bình giúp mình được dịp tung hoành.

Mười Trí cũng rất vui khi được tin, theo lệnh của Khu trưởng, có những anh em thân tín tới tiếp tay trong công tác vô cùng khó khăn là điệp báo.

Mười Trí khoe với Bùi Hữu Phiệt và anh em trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 về “tin mừng” này.

Bùi Hữu Phiệt trầm ngâm.

Tham mưu trưởng của Trung Đoàn 25 mỉm cười nhìn Mười Trí:

– Tôi có thể thưa cùng anh Mười dự đoán của tôi về việc Nguyễn Bình “tăng cường” nhân số cho Trung Đoàn 4 (Trung đoàn của Mười Trí) không ?

– Em cứ nói.

– Nguyễn Bình đương thi hành kế hoạch “xé nhỏ” hay phân tán mỏng lực lượng của Bình Xuyên.

Mười Trí cau mày suy nghĩ:

– Có thể đúng. Nhưng Bảy Nam, Sáu Lào, tới đây công tác đều ở dưới sự chỉ huy của “qua”. Như vậy kế hoạch xé nhỏ của Nguyễn Bình thành “đập dày” cho Bình Xuyên sao?

– Anh Mười nghĩ kỹ coi. Mất Bảy Nam, Sáu Lào thì anh Năm (Năm Hà) sẽ ra sao? Phải chăng anh Năm lúng túng trong nhiều việc.

– Đúng.

– Anh Bảy và anh Sáu dầu là người võ nghệ cùng mình được đặt dưới quyền chỉ huy của anh Mười nhưng thử hỏi : Hai anh đó xông pha chiến trận chém giết đối phương thì giỏi nhưng làm sao các anh đó biết mà điều khiển vấn đề điệp báo cũng có nghĩa là “làm lính kín” cho phía mình?

Mười Trí chợt hiểu, thốt ra lời văng tục:

– Thằng Nguyễn Bình, thế mà thâm độc. Bề ngoài người ta tưởng nó giúp đỡ anh em, không xía vào nội bộ của Bình Xuyên, bề trong trái lại muốn chặt vây cánh của Năm Hà, muốn cho Bảy Nam, Sáu Lào không chu toàn được công tác để nó “chặt” như đã “chặt” Ba Nhỏ.

– Thưa anh Mười đúng vậy.

Mười Trí vò đầu vò tai:

– Chuyện lỡ rồi, biết tính sao đây?

– Thưa anh Mười, ta tương kế tựu kế.

– Thế nghĩa là làm sao? Em nói thử “qua” nghe.

Viên Tham mưu trưởng Trung Đoàn 25 ghé tai nói nhỏ với Mười Trí. Nghe xong, Mười Trí tươi hẳn nét mặt, vỗ đùi, cười lớn:

– Hay lắm, hay lắm. Việc này có thằng Bảy Hồng Sơn phụ lực nữa thì chắc chắn thành công.

– Bảy Hồng Sơn là ai thưa anh Mười.

– Em chưa gặp nó vì Bảy Hồng Sơn có công tác lẩn quẩn gần Phú Lâm. Nó là nhân vật kỳ lạ, tu ở núi Thái Sơn. Chiến tranh bùng nổ nên bỏ chùa. Trước khi hạ sơn, có thề rằng sẽ ăn đủ 100 lá gan của Tây mới trở về núi. Vì là chỗ quen biết cũ nên nó tới đây cộng tác với “qua”.

Thế là từ ngày hôm sau, người ta thấy rải rác gần Phú Lâm, Cồn Cát, những quán cóc mọc lên. Quán bán đồ nhậu thực ngon thực rẻ lại do các bà, các cô điều khiển nên được từ lính Tây, Lê Dương, gạch mặt và “pạc ti dăng” lui tới tấp nập.

Các cô cũng không từ chối vài cử chỉ suồng sã và nếu khách quá nài nỉ thì vào phía trong vì quán chia làm hai căn cách biệt: phía ngoài để bán hàng, phía trong là…nơi ăn chốn ngủ của bà chủ và các cô bán hàng.

Điều làm cho khách si tình càng thêm “bốc lửa” là các cô còn quá e thẹn, nếu trong quán có đông người thì cái liếc mắt đưa tình, cái nắm tay cũng là quá nhiều rồi.

Nhưng nếu bóng hoàng hôn đã hạ xuống dưới ánh đèn dầu le lói, quán vắng vẻ, vài thực khách còn “trồng cây si” thì cửa quán sập xuống, đèn phụt tắt và khách được “đền đáp” đầy đủ.

Cũng từ những ngày đó, Bảy Nam, Sáu Lào thâu thập tin tức địch tại vùng Phú Lâm, Chợ Lớn rất đầy đủ.

Và cũng từ những ngày đó, đêm đêm Bảy Hồng Sơn và vài đàn em vai vác súng nghểu nghện, từ phía Phú Lâm, Cồn Cát về nạp cho Mười Trí tại ấp số 4 hay số 8.

Những quán cóc đã trở thành hắc điếm nhưng không phải khách nào được lưu lại đêm cũng bị hạ sát để tước khí giới.

Có khách đã lui tới, trải qua cả chục đêm vui thú bên người đẹp mà sáng sớm vẫn bình an ra về bởi vì khách đó được Bảy Hồng Sơn ghi vào loại “tin tức” hơn là “quân sự”.

Khách thuộc loại “quân sự” nhưng lui tới quán trong trường hợp quá lộ liễu như đồng đội ở đồn bót đã biết mục đích cuộc ngao du, hoặc ở lại khi có nhiều bạn ra về, cũng đã vô tình có lá bùa hộ mệnh.

Chỉ những khách ưa “ăn mảnh” mới bị Bảy Hồng Sơn hay các em út hạ sát, đoạt khí giới. Loại khách này không phải ít vì qua khoé mắt đưa tình, qua lời hứa hẹn kín đáo của các em, đêm đêm khách lẻn tới đôi khi chưa đặt chân vào hắc điếm đã bị hạ sát.

Bảy Hồng Sơn chỉ ra tay khi khách si tình là người ngoại quốc vì đã có lời nguyền “ăn đủ 100 lá gan Tây”.

Tối hôm đó trăng tại ấp 8 thực sáng.

Căn nhà dùng làm Tổng Hành Dinh của Mười Trí nhộn nhịp vì có Khu trưởng Nguyễn Bình và đoàn tùy tùng tới thăm.

Theo thông lệ, những tấm bành rộng và dài được trải khắp sân gạch để “các anh lớn” dự một bữa tiệc thịnh soạn.

Nhiều vò rượu đế đã vơi khi trăng treo trên đầu ngọn tre xanh mát.

Bỗng Bảy Hồng Sơn ngất ngưởng tiến vào sân. Bảy Hồng Sơn ngất ngưởng vì suốt ngày lảo đảo như kẻ say rượu nhưng không ai dám quả quyết rằng y có say thực hay không?

Bảy Hồng Sơn theo đúng “nghi lễ” của giới giang hồ, vòng tay vái chào tất cả “anh lớn” rồi nói:

– Thưa anh Mười, hôm nay trăng sáng, về thăm anh, đi dọc đường thấy họ mổ heo, hai buồng gan tươi và ngon quá, em mua về để các anh lớn…đưa cay.

Bảy Hồng Sơn giơ cao hai buồng gan còn đỏ tươi.

Tiệc rượu đã gần tan nhưng còn hào hứng. Mười Trí hạ lệnh cho hoả đầu quân lấy gan làm món nhậu mới. Món nhậu được tất cả thực khách từ Khu trưởng Nguyễn Bình đến một anh em địa vị nhỏ nhất trên chiếu rượu khen ngon.

Sáng hôm sau, khi Mười Trí dùng trà với Nguyễn Bình, và các nhân vật cao cấp nhất trong Liên Quân thì Bảy Hồng Sơn “xin vào ra mắt để từ biệt”.

Bảy Hồng Sơn nói ngay:

– Thưa anh Mười, chút nữa các em sẽ mang về bốn khẩu súng, hai của Tây và hai của “pạc ti dăng”.

Mười Trí đã biết quá rõ về Bảy Hồng Sơn nên giật mình:

– Vậy gan tối qua mà Bảy mang về đây…

– Thưa anh lớn đó là gan hai thằng Tây…

Như để xác nhận lời của Bảy Hồng Sơn, hai nhân viên công tác vùng Phú Lâm tiến vào, lễ phép trao cho Mười Trí bốn khẩu súng, hai tiểu liên Sten và hai súng trường.

Đến lượt Nguyễn Bình run giọng:

– Gan hôm qua quả thực là gan Tây sao anh Bảy?

Bảy Hồng Sơn đáp gọn: “dạ” rồi xin phép Mười Trí trở về Phú Lâm.

Các thực khách đưa mắt nhìn nhau: dầu là gan heo hay gan người thì cũng đã tiêu hoá rồi.

Nhờ “hắc điếm” Nguyễn Bình đã thua Mười Trí một keo lại vô tình phải ăn gan người nhưng Nguyễn Bình không phải là kẻ chịu thua thiên hạ một cách dễ dàng.

Nguyễn Bình không ưa Mười Trí, tuy là Bình Xuyên nhưng rõ ràng không coi Bảy Viễn vào đâu mặc dầu Bảy Viễn là Khu phó khu 7. Mười Trí lại đồn binh riêng “biên thùy một cõi”, “chiêu hiền đãi sĩ” nên quy tụ được khác đông trí thức cách mạng quanh mình. Mười Trí lại theo đạo Cao Đài nên có khối người hậu thuẫn.

Mười Trí cũng chẳng ưa gì Nguyễn Bình nhất là sau cái chết của Ba Nhỏ rồi Ba Dương, nhưng với tinh thần “Lương Sơn Bạc” bao giờ cũng đón tiếp Nguyễn Bình nồng hậu vì ở vào địa vị của “chủ nhà”.

Nguyễn Bình e ngại những tay anh chị trung thành và sống chết bên cạnh Mười Trí, bên cạnh Bùi Hữu Phiệt.

Chỉ một cái cau mày của Mười Trí chắc chắc những tay đàn em của Mười Trí như Tư Ý, Sáu Đối cũng rút dao 9 ra (dao găm, mỏng như lá lau sắc bén hơn lưỡi dao cạo Đức quốc và dài 9 tấc ta) đâm chết Nguyễn Bình mà không cần hiểu lý do hành động này, bất chấp hậu quả.

Chắc chắn Nguyễn Bình đã được tường thuật rõ hành động của các tay anh chị theo kháng chiến, tôn thờ các vị chỉ huy được gọi là “anh lớn” như một vị thiên thần.

Thời đó bộ đội An Điền (tức Trung Đoàn 25 Bình Xuyên sau này) còn đồn trú tại xã Tăng Nhơn Phú (Chợ Nhỏ, làm trường Sĩ quan Thủ Đức ngày nay) và hai khu rừng cao su Bình Thung, Bình Thắng. Chỉ huy trưởng Bùi Hữu Phiệt thường có những cuộc họp quân sự với Ủy ban Hành Kháng địa phương do Đào Sơn Tây làm chủ tịch.

Bùi Hữu Phiệt có thói quen là đi họp chỉ mang theo một hay hai cận vệ.

Biết rõ điều này, Đào Sơn Tây muốn làm nhục Bùi Hữu Phiệt một lần.

Nhận được giấy mời, Bùi Hữu Phiệt cùng hai cận vệ là Ba Xệ và Tám Sanh lên đường. Khi vừa ra khỏi rừng cao su Bình Thung thì có năm nhân viên Công An Thủ Đức chặn lại hỏi chứng minh thư.

Họ hỏi cho có cớ vì câu hỏi chưa dứt thì một Công An viên cao lớn, chắc là kẻ chỉ huy tiến tới chụp lấy vai Bùi Hữu Phiệt:

– Không có chứng minh thư thì về trụ sở…

Ba Xệ, cao 1 thước 75 phân, nặng hơn 70 kí, nhưng cử chỉ lại dịu dàng, nét mặt bao giờ cũng hoà hoãn, nói năng nhỏ nhẹ như một thư sinh, đứng cách xa Bùi Hữu Phiệt hai bước, bỗng vẹt lên, nhẹ nhàng đập vào vai viên Công An đương nắm Bùi Hữu Phiệt:

– Bữa nay chắc anh tới số rồi mới dám đụng vào người anh lớn tôi.

Viên Công An nhìn Ba Xệ, đôi bên kẻ tám lạng người nửa cân. Hơn nữa hắn còn có 4 đàn em có súng lục trong người. Còn phía Bùi Hữu Phiệt thì chỉ còn Tám Sanh tầm vóc tầm thường, mặt trắng thư sinh chứ không có gì là “cô hồn” cả nên ưu thế rõ ràng về bên mình, nên ngạo nghễ đáp lời Ba Xệ:

– Anh lớn hay anh bé gì của mày hễ tao muốn cũng bắt.

Không một nét thay đổi trên khuôn mặt hồng hào và hiền hoà, nhưng lưỡi dao 9 đã đâm sâu và rạch ngang bụng viên Công An. Và lưỡi dao quay ngược lại rọc một đường dài từ trên xuống dưới “đánh dấu” chữ thập trên bụng viên Công An. Với lối đâm đặc biệt và quá mau lẹ này, ruột của viên Công An đã bị cắt đứt hết.

Viên Công An ngã xuống. Ba Xệ tra dao vào vỏ dấu kín bên mình không chút để ý tới bốn tên Công An còn lại, lễ phép nói với Bùi Hữu Phiệt:

– Xin mời anh lớn tiếp tục lên đường.

Mưu mô hạ nhục Bùi Hữu Phiệt của Đào Sơn Tây chưa hết.

Trong phiên họp, đã xếp đặt sẵn, Đào Sơn Tây để một ủy viên tầm thường nặng lời đả kích Bùi Hữu Phiệt nào là “tiểu tư sản”, “lạc hậu”, “phong kiến” v.v….

Bùi Hữu Phiệt quá quen thuộc với những danh từ này ngay khi còn bị lưu đày nơi Côn Đảo khi tranh luận với các cán bộ Cộng sản nên chỉ mỉm cười.

Ba Xệ thản nhiên theo dõi nét mặt của anh lớn nhưng Tám Sanh mới hơn hai mươi tuổi máu nóng còn quá nhiều, quắc mắt nhìn kẻ công kích anh lớn mình, tay đã nắm chặt báng súng lục Wicker.

Ba Xệ quắc mắt nhìn Tám Sanh nên chàng thanh niên nóng tính này không dám hành động.

Buổi họp quân sự giải tán trong bầu không khí nặng nề.

Trên đường về Tám Sanh lầm lì, Ba Xệ thản nhiên như từ lúc ra đi tới nay không có gì xảy ra.

Bùi Hữu Phiệt hiểu rõ tâm trạng của Tám Sanh nên khuyên nhủ:

– Chúng mình đương lo việc lớn. Một tên Công An, một tên ủy viên tầm thường có sá gì, làm sao ngăn cản được công việc của chúng ta, em đừng để ý.

Giọng “dạ” của Tám Sanh chứng tỏ y không hoàn toàn đồng ý với Bùi Hữu Phiệt nên Bùi Hữu Phiệt nghiêm giọng:

– “Qua” cấm em không được làm một việc gì gây nguy hiểm cho tên ủy viên đó. À, em có biết y tên gì và nhà ở đâu không?

Tám Sanh đáp:

– Dạ em biết. Y tên Tài, nhà ở gần Cầu Đá, Tăng Nhơn Phú.

Tám Sanh biết rõ như vậy vì là Trưởng ban Tình Báo của bộ đội.

Bùi Hữu Phiệt không phải vô tình đặt câu hỏi trên. Biết quá rõ và tâm tính các thuộc viên, Bùi Hữu Phiệt hiểu rõ mặc dầu phải tuân lệnh thượng cấp, nhưng sớm muộn gì y cũng gây khó dễ với kẻ đã dám công khai chỉ trích anh lớn của mình. Đó là “luật pháp” của những tay anh chị giang hồ ở ngoài đời, hay đã gia nhập kháng chiến.

Khuya đêm đó, Bùi Hữu Phiệt cho gọi Tám Sanh.

Tư Hội, mặc dầu nhiều tuổi gấp đôi Tám Sanh , xâm mình những con voi xanh, và chỉ tuyền là voi. Theo anh em trong ban Tình Báo thì Tư Hội gồng ngải cùng mình, nhưng vẫn chịu là “phó trưởng” của Tám Sanh. Tư Hội vội vàng tới Tổng Hành Dinh.

Bùi Hữu Phiệt hơi ngạc nhiên trước sự hiện diện của Tư Hội:

– Tôi nhờ gọi Tám Sanh.

Tư Hội lễ phép đáp ngay:

– Thưa anh lớn, anh Tám đi khỏi.

– Đi đâu, hồi nào anh Tư biết không?

– Dạ đi cách đây chừng nửa giờ, không rõ đi đâu nhưng chỉ dặn em coi sóc anh em trong Ban.

Bùi Hữu Phiệt hiểu ngay, hỏi Tư Hội:

– Anh Tư biết nhà tên Ủy viên Tài ở gần Cầu Đá không?

– Dạ biết.

– Vậy anh Tư đi gọi Ba Xệ tới đây rồi cùng tới nhà Ủy viên Tài.

Ba Xệ tức tốc tới, đã được Tư Hội kể lể những lời “vấn đáp” với Bùi Hữu Phiệt nên nét mặt hầm hầm:

– Thằng Tám này quá rồi. Nó dám trái cả lệnh của Chỉ huy trưởng. …Tôi phải cho nó biết kỹ luật…

Bùi Hữu Phiệt ôn hoà:

– Anh Ba đi với tôi tới đó nhưng với điều kiện…

– Thưa anh lớn với điều kiện gì?

– Chưa chắc gì Tám Sanh đã tới nhà Ủy viên Tài.Nếu tới thì chúng ta chỉ can thiệp trong trường hợp Ủy viên Tài nguy hiểm tới tánh mạng. Nhưng bất luận chuyện gì xẩy ra thì anh Ba phải hứa trước với tôi là không rầy la hay trừng trị Tám Sanh tại chỗ. Việc gì chúng ta cũng có thể đóng cửa dạy nhau.

Ba Xệ đã hoàn toàn trở lại với “bộ mặt ông Địa, ôn hoà và vui cười”:

– Dạ, anh lớn dạy vậy, em xin tuân theo.

Tư Hội dẫn đường. Khi gần tới nhà Ủy viên Tài thì trong bầu không khí mát nhẹ của đêm khuya, dưới ánh trăng xanh vằng vặc, giọng nói quen thuộc của Tám Sanh vọng lại.

Bùi Hữu Phiệt liền hạ lệnh cho Ba Xệ và Tư Hội đi thực nhẹ, lần từng bước tới sát nhà Ủy viên Tài.

Ủy viên Tài độc thân, gốc Tăng Nhơn Phú, ở trong căn nhà ba gian bằng cây, lợp ngói, giữa khuôn vườn khá rộng, nhưng cũng như tất cả các nhà khác trong Xã, không có hàng rào bao quanh.

Bùi Hữu Phiệt, Ba Xệ, Tư Hội đi ngược ánh trăng chênh chếch, tiến sát tới căn nhà của Ủy viên Tài.

Bóng của Tám Sanh in rõ trên đất nện. Tiếng nói của y vang lên trong đêm khuya yên tĩnh.

Núp nơi góc tường đối diện, Bùi Hữu Phiệt, Ba Xệ, Tư Hội chứng kiến một cảnh hi hữu và rùng rợn.

Tám Sanh đứng bên ngoài cửa sổ rộng mở, tay cầm một cái cây giống như tầm vông, nói vọng vào trong nhà:

– Hồi chiều trong cuộc họp mày đã dám nói hỗn với anh lớn tao. Ngay tại đó, chúng mày có bao nhiêu tay súng chăng nữa, tao cũng không sợ và tao có thể giết mày cùng thằng Đào Sơn Tây như con nhái. Sở dĩ tao không rút súng ha dao ra hạ chúng mày là vì anh lớn tao lừ mắt không cho phép. Trên đường anh lớn tao cũng cấm tao giết mày. Nhưng đêm nay tao giết mày hay không còn tùy vài điều kiện.

Một giọng yếu ớt vọng ra:

– Điều kiện gì?

– Mày biết chiếc câu liêm này đã vòng quanh cổ mày rồi chứ gì? Hừ đồ gì ưa gối đầu trên chiếc gối gỗ lại ngủ say nên tao mới luồn được chiếc câu liêm sắc bén này quanh cổ mày.

– Điều kiện gì nói đi.

– Mày nằm ngay ngắn như vậy trên ván, chắp hai tay lại đặt từ trán rồi vái xuống như lễ Phật vậy. Mỗi cái vái, mày hô lớn: “Kính lạy anh Tám Phiệt, em lỗi lầm xin anh tha thứ, lần sau em không dám hỗn nữa”. Mày vái đúng 100 lần, lạy đúng 100 lần và sau mỗi lần vái, lạy thì phải đếm cho rõ. Nếu mày đếm sai một số, tao bắt vái, lạy lại.

Ủy viên Tài nắm lấy một hy vọng:

– Nếu…tôi không chịu, liệu anh có dám giết tôi, trái với lệnh của các anh lớn không?

Tám Sanh trả lời, giọng quả quyết:

– Dám chứ. Tao giết mày, giết mày chỉ cần giật mạnh một cái, đầu mày bay khỏi cổ, rồi về thú tội với các anh lớn. Anh lớn có quở phạt, có đánh vài đòn, nhưng chắc chắn không nỡ xử tử tao về vụ này.

Ủy viên Tài nghe hữu lý nên từ trong phòng y vọng ra những câu vái lạy do Tám Sanh bắt buộc.

Trước cảnh “bi hùng hoạt cảnh” đó, Bùi Hữu Phiệt biết rằng không còn gì nguy hiểm tới tánh mạng của Ủy viên Tài, nên ra dấu cho Ba Xệ và Tư Hội lặng lẽ rút lui.

Khi bộ đội An Điền bỏ Thủ Đức, băng qua Thủ Dầu Một, vùng “cấm địa” của Tô Ký, để về đồn binh gần Trung Đoàn 4 của Mười Trí theo thoả ước giữa Bùi Hữu Phiệt với Ba Dương, Nguyễn Bình lui tới thăm Liên Quân này, đã có lần tỏ ý ngạc nhiên, coi là kỳ lạ về “tài nghệ” của các anh chị Miền Nam qui tụ quanh Bùi Hữu Phiệt.

Điều này chính các anh em trẻ tuổi trong bộ Tham Mưu của An Điền, tức Trung Đoàn 26 Bình Xuyên, cũng vô cùng ngạc nhiên.

Các anh em đã từng ít nhất là đậu Tú Tài (thời 1945) có nghĩa là “văn minh, hiểu khoa học” nhưng vô cùng ngạc nhiên trước những hiện tượng “không khoa học mà có thực” vì chính mắt họ thấy.

Các anh chị Miền Nam bao quanh bộ Tham Mưu của Trung Đoàn 25 gồm sáu “tay tổ”: Ba Xệ, Tư Hội, Năm Ký, Tám Sanh và Nhất Chi Mai.

Ba Xệ , đứng đầu “lục tướng”, gốc người Trảng Bàng, Tây Ninh, không bao giờ chịu tiết lộ tên thật của mình, nhưng cao lớn, mập mạp, gương mặt lại hồng hào, hiền hoà, mang thứ ba trong gia đình, nên anh em đặt thêm cho chữ “Xệ” để dễ phân biệt với những “anh Ba” khác.

Sự “lễ phép” không bao giờ nói to tiếng và tay chơi dao 9 của Ba Xệ thì Nguyễn Bình đã rõ qua báo cáo của Quốc gia Tự vệ cuộc (Công An) Thủ Đức trong vụ Đào Sơn Tây muốn làm nhục Bùi Hữu Phiệt.

Nguyễn Bình cần nhận được bản báo cáo khác về vụ “đụng độ” lần thứ hai giữa Công An Thủ Đức và Ba Xệ.

Đàn em của Ba Xệ đi công tác bị Công An Thủ Đức chận bắt vì còn giận vụ cũ. Một người chạy thoát được về báo cáo cho Ba Xệ biết.

Bùi Hữu Phiệt nóng mặt, muốn phái một tiểu đội Thompson cùng Ba Xệ tới “giải quyết nội vụ” nhưng Ba Xệ gạt ngang:

– Anh lớn đừng lo. Em là Trưởng ban, nếu tự em không giải quyết được việc này thì đàn em còn ai tin tưởng nơi em nữa.

Ba Xệ cùng người đàn em đã chạy thoát cuộc vây bắt của Công An Thủ Đức, lặng lẽ đi tới cơ quan này.

Sự xuất hiện bất thần của Ba Xệ mà chỉ có một đàn em theo sau khiến viên chỉ huy Công An Thủ Đức nghi ngờ. Y láy mắt cho nhân viên kiểm soát xem Ba Xệ có đưa quân bí mật phục kích không? Trong khi đó y tìm kế hoãn binh, tiếp đón Ba Xệ niềm nở chờ đợi báo cáo của thuộc viên.

Ba Xệ hiểu ý, nói ngay:

– Tôi tới đây một mình nhưng không biết trụ sở của “đồng chí” nơi đâu nên phải nhờ em nhỏ này hướng dẫn.

Thuộc hạ của viên chỉ huy Công An đã về thì thầm báo cáo. Y đổi ngay thái độ khi rõ rằng lời nói của Ba Xệ đúng:

– Anh tới đây có việc gì?

– Tôi tới để hỏi xem tại sao hai em trong ban công tác của tôi bị bắt? Chúng có đủ chứng minh thư mà?

Viên chỉ huy Công An xẳng giọng:

– Hừ, chứng minh thư, nhưng chứng minh thư đó giả hay thực?

Vẫn với giọng nói ôn hoà cố hữu, Ba Xệ đáp:

– Chính vì vậy mà tôi mới phải đích thân tới đây để công nhận rằng chứng minh thư đó là thiệt.

Dường như tin chắc rằng có thể đàn áp được Ba Xệ qua số đông, viên Công An trả lời vô cùng hỗn xược:

– Đến anh, tôi cũng không tin là thực thì sao?

Ba Xệ không nổi nóng:

– Cái đó tùy anh. Tôi vâng lệnh các anh lớn tới đây để đưa hai anh em bị giữ về Tổng Hành Dinh.

Viên chỉ huy Công Anh cười ngạo mạn:

– Nhưng nếu tôi không muốn thả chúng nó thì sao?

Nét mặt vẫn thản nhiên, nhưng đôi mắt Ba Xệ quắc lên sáng chưa từng thấy:

– Anh nói vậy tức là đã phạm tới anh lớn tôi rồi. Có kẻ phạm tới anh lớn tôi một lần buộc lòng tôi phải ra tay. Vụ này chắc anh đã rõ. Nhưng hôm nay anh hên lắm.

Viên chỉ huy Công An ngạc nhiên:

– Tại sao tôi “hên”?

– Trước khi tôi tới đây, anh lớn tôi đã hạ lệnh không được gây cuộc đổ máu, nếu không thì qua lời nói trên tôi đã phanh thây anh ra rồi.

Giọng nói hiền hoà, đều đều của Ba Xệ khiến viên chỉ huy Công An sởn da gà vì y đã rõ trong trường hợp nào “cố chỉ huy Công An Thủ Đức” bị Ba Xệ phanh thây. Tuy nhiên y vẫn nói cứng:

– Vậy bây giờ anh muốn sao?

– Anh lớn tôi đã hạ lệnh rằng việc lớn còn nhiều, không nên vung phí máu. Vung phí máu có nghĩa là tôi không nên giết anh cùng mấy đứa em của anh, cũng như anh đừng giết tôi và thêm ba đứa em của tôi. Tôi thấy anh cũng là tay giang hồ, vậy chúng mình giải quyết vụ này tay đôi đừng để “vung phí máu” của đàn em.

– Nghĩa là sao?

Ba Xệ đột ngột rút dao 9 bên mình ra, đặt lên bàn, tay cởi khuy áo bà ba để trần từ ngực xuống bụng, giọng nói vẫn hiền hoà:

– Nghĩa là thế này. Dao đây, tôi để anh đâm chém tôi ba nhát trước. Sau đó, nếu tôi còn sống, anh trao dao lại cho tôi, và tôi sẽ đâm chém anh cũng đúng ba nhát. Máu chúng mình đổ, nhưng tôi vẫn vâng lệnh anh lớn tôi là “không vung phí máu”.

Ba Xệ thấy viên Công An trưởng lưỡng lự nên lạnh lùng tiếp:

– Dao đây, anh hãy đâm chém tôi trước đi. Nếu anh không đâm chém tôi thì tôi đâm chém anh.

Trước cảnh một sống một chết mà Ba Xệ xử sự một cách quá thản nhiên khiến viên trưởng Công An Thủ Đức, vì cũng đã từng đá cá lăn dưa, đứng bến, bừng tỉnh:

– Thôi anh Ba . Anh lớn của anh đã hạ lệnh “không vung phí máu” lẽ nào tôi không nể lời anh lớn anh và anh mà không tha mấy đứa nhỏ đó.

Khi hai tên đàn em đã đứng bên cạnh rồi, Ba Xệ mỉm cười nói với viên trưởng Công An Thủ Đức:

– Cám ơn anh. Dịp vui này, tôi muốn tặng anh con dao 9 của tôi.

Viên Công An trưởng còn ngạc nhiên chưa rõ ý định của Ba Xệ, thì Ba Xệ đã nói với đàn em:

– Đặt con dao 9 xuống đất, lật ngửa lưỡi lên và các em nắm cán nó cho thực chắc.

Các đàn em thi hành.

Ba Xệ tháo chiếc giầy hài xảo (giầy như người Tàu thường đi) nơi chân phải ra, rồi với chân không dẫm quăn lưỡi dao 9, lưỡi dao mỏng như lá lau, và sắc bén hơn dao cạo râu của Đức quốc, cho tới khi lưỡi dao đó quăn lại mới thôi.

Ba Xệ cầm con dao 9 “thân yêu” lên đặt trên bàn:

– Tôi tặng anh con dao này như đã hứa để làm kỷ niệm.

Một lần, tại ấp số 4, khi An Điền đã về liên kết với Bình Xuyên , Ba Xệ làm cho Nguyễn Bình và tất cả các anh em trẻ trong bộ Tham Mưu ngạc nhiên, lẽ cố nhiên là trừ Tư Hội, Năm Kỳ, Năm Diện và Tám Sanh.

Nguyễn Bình phàn nàn về “bọn gian thương vũ khí” biết Kháng Chiến cần súng đạn nên đã bán bằng giá cắt cổ với những khẩu bên ngoài , kiểu xi còn bóng loáng nhưng bộ phận bên trong đã hư yếu.

Nguyễn Bình rút một cây súng Colt ra làm thí dụ:

– Các đồng chí coi, khẩu súng này coi bề ngoài đẹp như vậy mà…quá dở.

Ba Xệ được ngồi trên chiếu rượu nhưng phía xa “địa vị đàn em” có lẽ đã ngà ngà nên buột miệng nói:

– Thưa Khu trưởng, tại sao Khu trưởng không thử súng trước khi mua?

Nguyễn Bình muốn tận mắt coi tài nghệ của Ba Xệ nên không chấp trách lời nói leo, vui vẻ đáp:

– Thử bằng cách nào anh Ba?

– Nếu Khu trưởng cho phép, tôi chỉ bắn một phát cũng rõ khẩu súng đó còn tốt hay xấu.

Câu đáp gây thêm sự tò mò, Nguyễn Bình quăng khẩu súng Colt 11,45 cho Ba Xệ:

– Anh Ba bắn thử coi rồi cho tôi biết ý kiến.

Ba Xệ xoè rộng bàn tay trái giở ra trước mặt, tay phải cầm súng Colt nhắm ngay bàn tay trái, chỉ cách họng súng không quá nửa thước mà siết cò trước sự kinh ngạc của mọi người.

Sau tiếng nổ, bàn tay trái của Ba Xệ nắm chặt, tay phải vẫn cầm súng, chậm chạp tiến lại trước mặt Nguyễn Bình :

– Thưa Khu trưởng nói đúng, khẩu súng này cái…”rề xo” yếu quá.

Y xoè bàn tay trái ra, đầu viên đạn 11ly45 còn nằm giữa lòng bàn tay có vết xám vì khói thuốc súng:

– Thưa Khu trưởng, nếu súng còn tốt thì thế nào tay em cũng phồng hay đỏ lên một chút, đằng này…

Ba Xệ không cần nói thêm nhưng mọi người đã hiểu.

Nguyễn Bình bỏ cặp mắt kiếng nửa đen nửa xanh nhạt xuống lau thực kỹ trước khi đeo lại như không tin ở cặp mắt mình qua cặp kính.

Muốn thử Ba Xệ một lần nữa, Nguyễn Bình trao cho “con người trầm lặng” đó khẩu súng khác, khẩu Wicker mà Nguyễn Bình luôn đeo bên người.

Lần này thì tay Ba Xệ quả nhiên có vết phồng đỏ.

Nguyễn Bình tò mò hỏi Ba Xệ đã học tới “gồng ngải” gì mà đạt được kết quả đó nhưng Ba Xệ chỉ mỉm cười mà xin lỗi, không đáp thẳng câu hỏi.

Về sau này, Tám Sanh trước lời gạn hỏi của Bùi Hữu Phiệt và các anh em trong bộ Tham Mưu nên tiết lộ:

– Anh Ba đã học tới cao độ của gồng “xìn tả”.

– “Xìn tả” là gì?

– Tôi cũng không rõ nữa. Dường như là tiếng Tàu hay tiếng Miên gì đó. Có điều ai học gồng này tới mức cao thì “pháo mã bất thương, đao phủ bất thương” nghĩa là súng bắn không lủng, đao chém không đứt.

– Vậy Tám học tới độ nào rồi?

Tám Sanh cười, nhũn nhặn:

– Tôi bì sao được với anh Ba. Hơn nữa anh Ba học một phái khác , tôi học một phái khác.

Như chợt nhớ điều gì Bùi Hữu Phiệt hỏi:

– Năm Ký với Năm Diện cùng học một môn phái với Ba Xệ?

– Thưa anh lớn, gần như vậy nhưng anh Năm Diện lại chú ý nhiều tới nhâm độn hơn võ nghệ.

Bùi Hữu Phiệt hỏi như vậy vì chợt nhớ tới một việc khi còn đồn binh tại vùng Thủ Đức.

Năm Ký có nhà riêng gần chợ Thủ Đức, giàu có nhưng máu mê ham cờ bạc, tứ sắc, bài cào, hốt me đều rất rành. Đã theo Kháng Chiến nhưng Năm Ký không thể bỏ được máu mê cũ.

Ba đêm liên tiếp, Năm Ký hốt hết sòng. Các con bạc bị cháy túi nghi rằng Năm Ký đã gian lận nên đêm chót phục kích tại Xuân Hiệp, trên đường từ Thủ Đức vào Tăng Nhơn Phú.

Năm Ký đương lủi thủi bước thì ba người phục kính nào ra bất thần đè kẻ “hên trên chiếu bạc” xuống đường rồi dùng dao chém loạn khắp người.

Một lát sau, Năm Ký ngước đầu lên nói:

– Chúng mày chém đã tay chưa, buông tao ra bởi vì tao còn phải đi họp, tới trễ giờ các anh lớn rầy tao.

Giọng nói của Năm Ký bình tĩnh quá điều hoà không chút gì những tỏ đã bị thương khiến cho ba “phục kích quân” hoảng sợ bỏ chạy.

Năm Ký xin lỗi đã đến họp trễ vì lý do “bất khả kháng” như trên.

Dầu không muốn tin, tất cả mọi người đều phải tin vì tất cả phía sau bộ áo bà ba bằng lụa đen của Năm Ký không còn một mảnh nào lớn hơn hai ngón tay chụm lại.

Người ta còn đồn rằng Năm Ký có thể để trần ngực cho đạn ghém của súng bắn chim ria tới mà không hề bị thương nhưng không bao giờ Năm Ký chịu biểu diễn cho anh em xem.

Năm Diện, say suốt ngày đêm, chỉ tới Tổng Hành Dinh khi có chuyện cần thiết.

Anh em gọi đùa Năm Diện là “bộ óc của bộ Tham Mưu” vì Năm Diện mỗi khi xuất hiện chỉ nói vắn tắt vài câu:“cần đi khỏi noi đây gấp, về hướng Bắc, 10 cây số” hay “mừng cho anh em thắng lợi. Ngày mai phục kích ở phía Tây, cách đây 3 cây số”, rồi lại lảo đảo ra về.

Kinh nghiệm đã cho thấy rằng bao giờ Năm Diện nhâm độn cũng đúng: di binh vì ngày hôm sau có lực lượng hùng hậu của Pháp tới nơi đó bố ráp, đến phục kích thì thế nào cũng thâu hoạch được vũ khí.

Có một lần, chỉ đưa một tiểu đội phục kích sát lề đường tại Chợ Nhỏ, với cây lớn “đổ bất thần” làm chướng ngại vật”, mà tiểu đội này bắn chết hết lính Pháp, cướp ba xe vũ khí rồi đốt xe khi ba xe này từ Long Bửu chở súng về Thủ Đức.

Thông thường sau một trận đánh, anh em phải di binh. Mọi sửa soạn đã xong, thì Năm Diện xuất hiện, cản lại:

– Đóng yên tại chỗ. Binh của thằng Huỳnh Tấn Chùa, Đào Sơn Tây, Đào Nhất Tứ (ba toán binh đóng tại vùng Thủ Đức) đã dời đi nơi khác. Chúng nó sẽ lãnh đủ.

Dầu tin tưởng Năm Diện tới đâu chăng nữa thì anh em cũng phải ở trong tư thế phục kích sẵn sàng trong vùng và vô cùng hồi hộp.

Tiếng súng tấn công của Pháp vang khắp vùng Thủ Đức. Tốp từ Sàigòn kéo lên, tốp từ Biên Hoà xuống, từ chợ Thủ Đức đánh qua, kéo dài từ mờ sáng tới tối nhưng lạ thay không một tên lính Pháp nào xuất hiện tại làng Tăng Nhơn Phú.

Vài ngày sau mọi người mới hiểu rõ lý do qua lời trình báo của Tám Sanh: có hai kháng chiến quân thuộc bộ đội Đào Sơn Tây trốn ra hàng Pháp nói rõ cho Páp biết về chiến thuật của kháng chiến quân. Tình báo Pháp biết rõ “quân kháng chiến” Thủ Đức đã di chuyển nên chia ba mặt tấn công vào Huỳnh Tấn Chùa, Đào Sơn Tây và Đào Nhất Tứ trong khi bộ đội An Điền án binh bất động.

Tư Hội không bao giờ phô trương võ nghệ nhưng thấy Ba Xệ vị nể nên anh em ngầm hiểu là “không phải tay vừa”.

Tám Sanh giỏi võ, có biệt tài về bắn súng lục.

Còn Nhất Chi Mai – Chỉ huy trưởng ban “Nhất Chi Mai” chuyên nghề ăn trộm súng của Nhựt đôi khi ngay cả của bộ Kháng Chiến khác nếu y thấy súng nào vừa ý.

Nhất Chi Mai là biệt danh. Không ai rõ tên thực của nhân vật này nhưng ai cũng biết y là vua ăn trộm khắp tỉnh Biên Hoà.

Với những nhân vật tay chân như vậy bao quanh Bùi Hữu Phiệt , và với các tay anh chị như Tư Ý, Bảy Nam, Sáu Lào bao quanh Mười Trí khiến Nguyễn Bình e dè cũng không có gì lạ.

Nguyễn Bình còn e dè hơn nữa vì bao quanh Mười Trí, trong bộ Tham Mưu còn có Vũ Tam Anh, “Ông Phán râu kẽm” v.v…cũng như bộ Tham Mưu Bùi Hữu Phiệt gồm tuyền những thanh niên trí thức đã từng huấn luyện về quân sự và chánh trị.

Vũ Tam Anh tên thực là Nguyễn Ngọc Nhẫn hay Nguyễn Ngọc Niên, cả họ, chữ lót và tên đều bắt đầu bằng chữ N nên mới cải tên cách mạng là Vũ Tam Anh (ba chữ N?) đã từng có dĩ vãng tranh đấu đáng kể, tên tuổi được anh em Quốc Gia vị nể.

Vũ Tam Anh cao lớn, gương mặt đẹp na ná như Đức Hùynh Giáo chủ nhưng nhiều kinh nghiệm về tranh đấu hơn.

Vũ Tam Anh được coi như Tham Mưu trưởng của Trung Đoàn 4 nhưng thực sự đảm trách về vấn đề chánh trị nhiều hơn là quân sự. Vấn đề văn thư đều do “Ông Phán râu kẽm” lo liệu.

Anh em chỉ biết, ông này trước kia làm Thông phán Toà Án Sàigòn, có hàm râu mép rậm và cứng nên đặt cho biệt danh “Ông Phán râu kẽm”.

Nguyễn Bình e dè Vũ Tam Anh vì biết rõ họ Võ là linh hồn của Trung Đoàn 4, là “bộ óc” của Mười Trí.

Đối với Bùi Hữu Phiệt, Nguyễn Bình còn có thể kiềm chế bằng cách bổ nhiệm Tư Tỵ làm Trung Đoàn phó Trung Đoàn 25, vì Trung Đoàn 25 là Liên Quân và Tư Tỵ cũng là 1 trong 10 con Rồng Xanh của tổ chức này.

Đối với Mười Trí thì lại khác hẳn. Từ ngày Ba Dương bị ám sát, không một nhân vật nào trong Bình Xuyên lại thế lực hơn Mười Trí, mặc dầu Năm Hà là Tổng Tư lịnh Bình Xuyên và Bảy Viễn là Khu phó khu 7.

Bởi vậy Nguyễn Bình đặc biệt chú ý Vũ Tam Anh. Đặc biệt chú ý của Nguyễn Bình chúng ta còn nên hiểu là Nguyễn Bình tìm đủ cách hạ sát Vũ Tam Anh hay ít nhất tách xa Vũ Tam Anh khỏi Trung Đoàn 4 của Mười Trí.

Tách xa Vũ Tam Anh khỏi Trung Đoàn Bình Xuyên là điều quá khó khăn vì Nguyễn Bình dư hiểu rằng không có một mua chuộc nào đối với Mười Trí có thể làm cho con Rồng Xanh cứng đầu nhứt của Bình Xuyên chấp nhận điều đó.

Đã có lần Nguyễn Bình thăm dò Mười Trí:

– Rất có thể tôi sẽ được cử làm Ủy viên quân sự Nam Bộ (trên thực tế thì Nguyễn Bình, mặc dầu là Khu trưởng khu 7 nhưng có quyền hành như Tư lịnh Nam Bộ bao trùm cả Khu trưởng khu 8 và 9). Trong ngày gần đây Nam Bộ sẽ họp phiên khoáng đại quyết định về việc này.

Mười Trí như thường vui vẻ đáp:

– Tôi thành thực chúc mừng cho Khu trưởng. Khu trưởng xứng đáng làm Ủy viên quân sự Nam Bộ.

Nguyễn Bình nhũn nhặn:

– Cám ơn anh Mười quá khen nhưng đó cũng chỉ mới là hy vọng mà thôi.

– Hy vọng đó quá dễ dàng thành sự thực.

Nguyễn Bình lưỡng lự:

– Nếu được cử đảm nhiệm chức vụ mới đó, tôi phải giải quyết gấp nhiều điều khó khăn.

Mười Trí chưa hiểu hết ý nghĩ ẩn kín của Nguyễn Bình nên đáp:

– Thêm quyền, thêm trách nhiệm, đó là sự dĩ nhiên. Với tài ba của Khu trưởng thì khó khăn gì mà…

Nguyễn Bình ngắt lời Mười Trí:

– Khó khăn cấp thời của tôi là chọn cho được người tín nhiệm và tài ba để thay tôi trong chức vụ Khu trưởng 7.

Mười Trí thành thực:

– Ồ, những người dưới tay Khu trưởng…

Một lần nữa Nguyễn Bình ngắt lời Mười Trí:

– Tôi thành thực bàn tính với anh Mười chuyện này. Theo ý tôi thì hiện nay chỉ có hai người đáng làm Khu trưởng khu 7 là anh Mười và Bảy Viễn. Anh Bảy đã là Khu phó nay lên Khu trưởng cũng hợp tình hợp lý nhưng nếu anh Mười làm Khu trưởng, tưởng còn xứng đáng hơn .

Mười Trí cười lớn, tìm cách thối thác:

– Xin Khu trưởng …tha cho. Đến như làm Phó, thay thằng Bảy , tôi cũng không đủ sức nữa là làm Trưởng. Khu trưởng muốn văn thư gởi cho các Tư lịnh Trung Đoàn…vắn tắt như tôi đã gởi cho Phú Lâm hay sao?

Đến lượt Nguyễn Bình cười lớn.

Nguyễn Bình còn nhớ rằng có hai nhân viên công tác Thành của Mười Trí, bị công an Phú Lâm bắt. Viên công an trưởng nơi đây đã nói một câu rất hỗn:

-Tụi bay công tác của anh Mười chứ anh Ba Mươi (danh từ dân ven rừng dùng để chỉ con cọp vì kiêng kỵ) tao cũng giam.

Câu này tới tai Mười Trí. Mười Trí gọi ngay người thư ký đánh máy lại, để “thảo” văn thư phản kháng.

Bức thư cũng có đánh máy trên cùng của góc trái những câu

“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Ủy viên ban Hành Kháng Nam bộ
Trung Đoàn 4 Bình Xuyên “

và mở đầu bằng câu: ” Tư lịnh Trung Đoàn 4 Bình Xuyên gửi đồng chí Chủ tịch Quốc gia Tự vệ cuộc Phú Lâm” và sau đó: “Thưa đồng chí Chủ tịch ..” nhưng nội dung chỉ vỏn vẹn:

– “Tôi hỏi đồng chí thả hay không thả” rồi đóng dấu ký tên: Huỳnh văn Trí.

Mười Trí gọi một tiểu đội phòng vệ bộ Tham Mưu tới, tiểu đội võ trang tiểu liên Sten và trung liên Thompson, hạ lịnh cho viên Tiểu đội trưởng:

– Mang thư này tới trụ sở Công an Phú Lâm. Nếu nó không thả, mang xác thằng Chủ tịch về đây cho tao.

Lẽ cố nhiên Chỉ huy trưởng Công an Phú Lâm phải thả hai nhân viên công tác của Mười Trí . Và cũng từ đó “công văn” của Mười Trí đi vào lịch sử của Kháng Chiến.

Nguyễn Bình cũng hiểu Mười Trí tìm cớ thoái thác, nhưng còn cố nài nỉ:

– Anh Mười lo gì việc đó. Tôi có thể để lại cho anh Mười hầu hết các nhân viên trong văn phòng Khu trưởng khu 7 để giúp anh Mười trong việc giấy tờ.

Mười Trí hứa với Nguyễn Bình sẽ trả lời dứt khoát về việc này trong một dịp khác và chắc chắn không lâu.

Nguyễn Bình ra về rồi, Mười Trí tâm sự với những người thân tín:

– Nguyễn Bình muốn tái diễn vở tuồng “Trung Đoàn 2”. Bảy Viễn được phong làm Khu phó khu 7, quyền chỉ huy trao lại cho Từ văn Ri nên anh Ba (Ba Dương) mới bị ám sát, nên nay Bảy Viễn ngày nay có tiếng mà không có miếng. “Qua” sống với anh em tại Trung Đoàn 4, Trung Đoàn 5 của anh Tư Đức và Trung Đoàn 25 của anh Tám (Bùi Hữu Phiệt) là mãn nguyện rồi.

Nguyễn Bình mưu toan gì tại Trung Đoàn 4 không thể qua mắt Vũ Tam Anh.

Có thể nói Vũ Tam Anh và Nguyễn Bình là hai kẻ tử thù bề ngoài thì gặp gỡ, đối đáp cùng nhau vô cùng hoà nhã vì cả hai đều nể nhau là “cao thủ võ lâm”, nhưng nếu có dịp lừa nhau một đòn thì không ngần ngại.

Đòn của Vũ Tam Anh đánh trước tại Bình Long tự ở Bến Lò Đường, nơi tả ngạn sông Vàm Cỏ.

Chúng ta đã nói Vũ Tam Anh là Tham Mưu trưởng Trung Đoàn 4, là “bộ óc” của Mười Trí . Bởi vậy đôi khi những chuyện quan trọng, Sáu “Xếch Xông” báo cáo cho Vũ Tam Anh trước cả Mười Trí.

Chính Vũ Tam Anh, muốn “trả đòn” Nguyễn Bình đã vạch rõ một kế hoạch cho Sáu “Xếch Xông” tổ chức cuộc hạ sát Nguyễn Bình tại bến Lò Đường. Vụ này còn được Mười Trí, Bùi Hữu Phiệt, Tư Đức tán thành nhưng chỉ vì viên Tham Mưu trưởng Trung Đoàn 25, “anh hùng nể nang anh hùng” không muốn bắn loạt đạn đại liên cuối cùng xuống xuồng chở Nguyễn Bình – đã bị bắn trúng tới sáu phát súng Colt 45- vì không muốn Khu trưởng phải “mò tôm” nên Nguyễn Bình mới được bác sĩ trưởng tận tâm săn sóc và cứu thoát sau sáu tháng điều trị.

Khi nghe tin Nguyễn Bình bị bắn tại Bình Long tự, Ung Văn Khiêm, lúc đó đã cùng Lê Duẫn vào Nam, vội phái cô cháu vợ là Vương thị Trinh tới Tân Uyên để săn sóc Nguyễn Bình.

Nhiều người tự hỏi: tại sao Nguyễn Bình lại quá chủ quan, chỉ cùng một tiểu đội dấn thân tới Bình Long tự để lãnh sự thất bại chua cay.

Sự thực không phải như vậy.

—>Xem tiếp

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN KIM TRÚC: Tôi giết Nguyễn Bình. Bookmark the permalink.

3 Responses to TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

  1. Lê Thy says:

    Xin chân thành cảm tạ bạn NQT độc giả BVCV đã gởi cho Lê Thy những sách:
    – Tôi giết Nguyễn Bình (Trần Kim Trúc)
    – Về R- hồi ký chiến trường viết về bí mật của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (Kim Nhật)
    – và loạt sách viết về Tình báo chiến lược Hà Nội tại Dinh Độc Lập của Trần Trung Quân:
    * Gián Điệp Nhị Trùng
    * Cụm A22
    * Lái buôn tổng thống.

    Trân trọng
    Lê Thy

    Like

  2. NQT says:

    NQT rất vui khi thấy những cuốn sách này thay vì nằm trong thùng, thì nay được BVCV đăng cho mọi người cùng đọc. Bravo Lê Thy đã bỏ công đánh máy lại.

    Like

    • Lê Thy says:

      Lại xin gởi lời cám ơn độc giả NQT đã gởi thêm 5 quyển sách để cho LT không “thất nghiệp” từ đây tới cuối năm. Cũng may là xương cốt nhất là mấy ngón tay được trời thương nên không bị bệnh thấp khớp của người già vẫn còn thi triển “thập dương chỉ” trên bàn phím đánh máy.

      Một lần nữa vô cùng cảm tạ NQT.

      Trân trọng,
      Lê Thy

      Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s