TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

Thời thế mỗi ngày một biến đổi. Khói lửa không chỉ còn nhen nhúm tại vài Đô, Tỉnh, Thị, mà lan tràn khắp nơi tới những quận làng xa vắng

Nhận thấy nếu tiếp tục đúng thế “anh hùng một cõi” thì tất phải có ngàỵ quân đội Pháp dồn lực lượng hùng hậu tới thanh toán, tuy chưa chắc hẳn bị tiêu diệt, nhưng cũng khó tránh cảnh tiêu hao quá nhiều lực lượng, nên bộ Tham Mưu An Điền theo sự thoả thuận trước vói Tư lịnh Bình Xuyên là Ba Dương, kéo binh từ Thủ Đức, đi bọc một vòng dài, qua Thủ Dầu Một, đổ xuống Vườn Thơm hay Rừng Thơm rồi mới kéo về Ấp số 4 nơi Phú Lâm, đóng thành thế Chân Vạc với Trung Đoàn 4 của Mười Trí, (BX) Trung Đoàn 5 của Phạm Hữu Đức (VNQDĐ).

Từ ngày chánh thức gia nhập liên minh và cũng để xóa bớt mỹ hiệu bộ đội du côn, An Điền trở thành Trung Đoàn 25 Bình Xuyên.

Và cũng từ ngày đó, vì Nguyễn Bình luôn lui tới khu tam giác Phú Lâm thăm viếng Mười Trí nên mới xẩy ra những cuộc đụng độ ngấm ngầm hay công khai giữa anh em trong bộ Tham Mưu Trung Đoàn 25 Bình Xuyên và Khu trưởng khu 7

Khu trưởng Nguyễn Bình hai lần bị ám sát hụt.

Lần đầu, chính Nguyễn Bình và viên bí thư Nguyễn văn Thắng đã tự dẫn mình vào vòng hỏa lực của quân phục kích, nhưng Mười Trí kịp thời phát giác âm mưu trên, nên đã cứu thoát Nguyễn Bình trong đường tơ kẽ tóc.

Lần thứ hai, được sự tán trợ ngấm ngầm của Mười Trí, thì, trong cơn mưa gió, quân phục kích lại bắn lầm các liên lạc viên tới Ấp số 8 chỉ có mục đích đưa tin Khu trưởng Nguyễn Bình cáo lỗi, xin hẹn gặp gỡ vào một ngày khác

Vụ ám sát hụt này tới tai Nguyễn Bình.

Giữa sự nóng bỏng chống đối về quân sự đó, Nguyễn Bình còn ghi nhận sự chống đối công khai về chánh trị của Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo, Đại Việt, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đệ tứ Quốc Tế.

Nhắc lại, một lần Nguyễn Bình tới thăm Mười Trí tại Ấp số 4 Phú Lâm. Ngay chiều hôm đó, Đức Hùynh Giáo chủ và Tư lịnh Cao Đài Kháng Chiến Trình Minh Thế như “không hẹn mà nên”, cùng với tiểu đội vệ sĩ, tới thăm Mười Trí và Bùi Hữu Phiệt .

Nguyễn Bình hơi ngạc nhiên.

“Địa Chủ” Mười Trí, vô cùng khôn khéo và nhã nhặn, vui mừng vì hôm đó được hân hạnh tiếp đón ba nhân vật lừng danh tại Nam bộ Kháng Chiến.

Mười Trí, một mặt ân cần thăm hỏi, mặt khác thét hỏa đầu quân phải tổ chức một bữa tiệc thịnh soạn.

Thịt bò, heo gà, vịt là món ăn thông thường vì sẵn có. Thịnh soạn trong buổi tiệc của Mười Trí đãi ba thượng khách là đàn em từ câu Tân Thuận, từ cầu Chữ Y, mang về những con tôm hùm còn đương nhẩy trong lồng.

Nguyễn Bình sống nhiều tháng nơi rừng già Tân Uyên. Trình Minh Thế đóng quân nơi Dồng Lớn, dọc theo biên giói Việt Miên, và ngay cả Đức Hùynh Giáo chủ đều thích thú trước món tôm luộc, bóc vỏ, quấn với rau sống chuối chát, chấm mắm nêm, nhậu cùng ba xi đế.

Bữa tiệc vui vẻ hon nữa là khi hỏa đầu quân đưa lên món chạo tôm nướng mía. Chạo tôm là thịt tôm được vằm nhỏ, đặc biệt của “xếp” hỏa đầu quân Mười Trí là pha trộn thêm vào thịt tôm một chút thịt heo có mở, mộc nhĩ nấm hương và tiêu tán cuốn quanh nhánh mía lau rồi nướng chín trên than hồng.

Thịt tôm chín thì trước sức nóng của lò nương, mía lau cũng tiết ra chất ngọt, chất ngọt quá dịu dàng và quá thơm.

Thực khách ăn chạo tôm nướng mía còn thích thú hơn nữa qua các gia vị mà hoả đầu đã biết pha trộn vào.

Bữa tiệc đêm hôm đó, các món ăn đặc biệt đã làm cho mọi người quên lãng “món ăn” chánh trị và quân sự kể cả luôn việc Nguyễn Bình “tạm quên” sự hiện diện bất ngờ tại ấp số 4 của Đức Hùynh Giáo chủ và Trình Minh Thế.

Nguyễn Bình có lẽ cũng tự hỏi: “tại sao hỏa đầu quân của Mười Trí, lại chẳng kém chỉ huy hỏa đầu quân của những nhà hàng Tây hay Tàu ở Hà Nội cũng như ở Saigon, Chợ Lớn ? “

Điều đó không có chút gì là lạ nếu chúng ta hiểu rõ thế nào là Bình Xuyên.

Trước hết về vấn đề “địa dư” Bình Xuyên chỉ là một làng nghèo khó. Nghèo khó vì ruộng cầy cấy rất ít, sình lầy đầy sông rạch với dừa nước, cây bần mọc dọc theo, tại tỉnh Chợ Lớn ngày xưa.

Dân chúng làng Bình Xuyên sống với hai nghề chính : làm thợ rèn, đưa đồ ra bán tại Chợ Lớn hay đúng hơn, nhận mối của người Tàu Chợ Lớn về làm rồi trao hàng lại để lãnh tiền công và nghề chăn vịt.

Hai nghề chính này không đủ bảo đảm cho cuộc sống của dân làng mỗi năm càng gia tăng.

Muốn sinh tồn họ phải tìm thêm nghề khác, nhưng nghề gì trong khi người Pháp coi họ là bất hảo chỉ vì quá nghèo không đủ tiền đóng thuế nhất là không đủ tiền đóng thẻ tùy thân? (giống như căn cước ngày nay nhưng mỗi năm một đổi và muốn có căn cước mới phải đóng tiền).

Phong trào chống đối Pháp một cách bất đắc đĩ đó nổi lên từ làng Bình Xuyên nhưng chỉ chống đối bằng cách bỏ làng đi tha phương cầu thực.

Những kẻ “chống đối” này sống bằng đủ mọi nghề : Làm phu khuân vác tại bến tàu Saigon, anh chị đứng bến xe lơ, xe đò, gác sòng bài, đâm thuê chém mướn và ngay cả tới đá cá lăn dưa để sống.

Tuy nhiên, họ có một tinh thần đặc biệt về gia đình : họ ra đi tìm sống nhưng vẫn có vợ con, cô bác, sống nghèo nàn nơi làng cũ. Bởi vậy họ vẫn lén lút trở về thăm bà con.

Cho tới ngày những kẻ gác sòng bài cho Sáu Nhiều, ông vua cờ bạc thời bấy giờ, nảy ra vài ý kiến cũng hoàn toàn nằm trong vấn đề “đen đỏ”. Sòng me bị Tây bắt phải chạy thất điên bát đảo, tại sao không tổ chức những sòng me lưu động ?

Và nơi nào tổ chức những sòng me lưu động thuận tiện hơn là Bình Xuyên, nơi có sông rạch như màng nhện, với dừa nước um tùm và cây bần cao vút ?

Và cũng từ mùa nước năm đó, những tay chơi me ăn thua cả chục ngàn (vài triệu bạc ngày nay) thích so tài trên những chiếc ghe lênh đênh tại sông rạch Bình Xuyên,

Họ nhận thấy những điều rất thuận lợi, đánh nơi đây đã không bị lính bắt vì Bình Xuyên tổ chức những trạm gác rất xa và hữu hiệu. Khi lính Pháp tới, chỉ cần dấu hiệu nhỏ như một con vịt trời bay lên thì các tay canh sòng bài đã biết chở “thuyền cờ bạc” nội trong một giờ, thời gian mà lính Pháp chưa có thể qua rạch vào tới nơi đi xa cách nơi “pháp pháp”. Xa từ 10 tới 15 cây số, để các con bạc vẫn ung dưng tiếp tục sát phạt lẫn nhau ngay khi “sòng bạc” di chuyển.

Những điều lệ kế tiếp khiến kẻ có máu mê đen đỏ thích thú là : thắng lớn họ cũng không lo ngại bị chặn cướp giữa đường, vì anh chị Bình Xuyên công khai hay bí mật đưa họ về tới tận nhà. Hay “cháy túi ” họ cũng không đến nỗi bị nhịn đói khi còn ở sòng bài hay phải đi bộ về nhà.

Có những kẻ thua vài trăm ngàn trong cuộc hốt me, chưa dám về nhà, cũng được cung phụng đầy đủ về cơm ăn rượu uống, áo mặc v.v…Và khi quyết định ra về đều được món quà kỹ niệm như những đồ đạc gì đặc biệt mang về cho gia đình nạn nhân ” dễ bề…viện cớ,

Bởi vậy, 4 sòng me Bình Xuyên mỗi năm một thêm nổi tiếng. Dân ham mê món đỏ đen này đều, trước còn chờ mùa nước sau suốt năm, tới ăn thua đủ tại vùng Bình Xuyên.

Một điểm đặc biệt hơn nữa là sòng me Bình Xuyên không bao giờ cho phép các tay gian lận tới để bóc lột con bạc. Bình Xuyên chỉ tổ chức lấy xâu, nhưng không làm cái, như vậy trong đám ưa đỏ đen, ai muốn làm cái cũng được , tùy theo con bạc bằng lòng hay không?

Các tay anh chị gốc Bình Xuyên, từng gác sòng cho thiên hạ, nên đã có nhiều kinh nghiệm về tất cả các cuộc đỏ đen.

Một vụ xảy ra, không phải trên ghe, mà ngay tại căn nhà lớn, gần nhà Mười Trí, khiến các tay chơi me thêm tin tưởng vào Bình Xuyên.

Tất cả con bạc đều biết rằng anh chị Bình Xuyên tổ chức sòng me bảo đảm an ninh cho người tới chơi nhưng không chịu làm cái. Điều này làm các tay chơi vững tin vì như vậy Bình Xuyên là trọng tài (lấy xâu) nhưng không nhúng tay vào các vụ gian lận

Bữa đó có một đại thương gia Tàu từ Chợ Lớn cùng 4 thuộc viên tới hốt me.

Thương gia này giầu có ai cũng biết, và ham chơi cờ bạc thì giới đỏ đen càng biết hơn, vì ông ta có thể một đêm thua bạc ngàn, đêm sau thắng gấp mười là chuyện thường.

Thương gia cháy túi cũng hoàn toàn do sự đỏ đen. Bốn ” thuộc viên ” của thương gia này muốn làm dữ như cho sòng me có “cờ gian bạc lận” cướp phá v.v… vì họ cũng là tay võ nghệ cùng mình. Nhưng sau khi đưa mắt dọ hỏi nhau, đành cắn răng chịu thua trước những bộ mặt lạnh như tiền của các trật tự viên và có “cái gì cồm cộm trước bụng “.

Vị thương gia tỏ ý muốn mượn tiền của chủ sòng để đánh tiếp. Điều này thông thường bị từ chối nếu không có gì quí giá để cầm thế, nhưng “chủ sòng Bình Xuyên” vui vẻ nhận lời.

Quả thực, thương gia này tới ngày xui xẻo nên bao nhiêu tiền mượn đều thua hết, thua tới mức không còn tiền về xe khi ghe xuồng Bình Xuyên đưa ra khỏi mặt trận cờ bạc.

Thương gia ở lại làng Bình Xuyên 3 ngày quan sát, vừa được cung cấp rất đầy đủ về ăn uống, và nơi nghỉ ngơi. Cuối cùngười y muốn ra về và được tiễn đưa một cách đường hoàng với số tiền nhỏ nhưng đủ để làm lộ phí.

Không ai có thể ngờ, hai ngày sau, “thuộc viên” của vị thương gia này mang trả đủ số tiền nợ, kèm theo những tặng vật và bức thư ngợi khen “sòng me Bình Xuyên” không những đã đứng đắn còn điệu hơn cả các sòng cờ bạc công khai nổi tiếng trên thế giới.

Vị thương gia quá lăn lộn trên thế giới này hữu lý. Những sòng bạc tại Monaco, Cannes, Nice, tuy có tập quán đưa tiền về xe cho khách đỏ đen tham dự canh bạc lớn cháy túi với số tiền khổng lồ, nhưng không bao giờ chịu cho ai vay mượn nếu không có gì thế chân.

Từ đó sòng me lưu động Bình Xuyên nổi tiếng, lấn áp cả tiếng tăm của “ông Vua cờ bạc” Sáu Nhiều tại Saigon.

Nhưng đó chỉ là khía cạnh cờ bạc. Sự nổi tiếng an toàn này mang lại cho Bình Xuyên một khía cạnh đặc biệt khác. Những tay anh chị, tướng cướp lừng danh và cả những nhà cách mạng bắt đầu để ý tới làng Bình Xuyên.

Những tay anh chị, sau một cuộc “ân oán giang hồ” đẫm máu, những tên cướp lớn, sau cuộc ăn hàng lớn, những nhà cách mạng, sau một cuộc bạo động, đều rút về an toàn khu Bình Xuvên.

Anh chị, hay tướng cướp, lẽ cố nhiên phải mua sự an toàn của mình bằng cách chia sẻ bớt số tiền đã đoạt được cho Xã trưởng Bình Xuyên, nhưng các nhà cách mạng thì hoàn toàn trái hẳn lại, được tiếp đãi long trọng mà không tốn kém một đồng bạc

Nhưng tại sao làng Bình Xuvên lại trở thành “an toàn khu “?

Như đã nói ở phần trên, làng Bình Xuyên sình lầy, có quá nhiều sông, rạch bao phủ bằng dừa nước và cây bần. Dân làng nghèo khổ sống bằng hai nghề: chăn vịt nơi sông rạch và thợ rèn nơi gò cao.

Tổ chức sòng me lưu động, thành công thì cũng có thể tổ chức bảo vệ an ninh cho các tay anh chị, tướng cướp, cách mạng gia an toàn có gì khó, miễn là biết cách tổ chức.

Từ ngày Bình Xuyên “thịnh vượng” có thể mua đất phì nhiêu của các làng lân cạn, chia cho dân chúng (đó là luật lệ của làng nên mới gây được sự đồng tâm nhất trí của dân), thì các em chăn vịt không còn phải lùa bầy gia súc tới tìm ăn ở những nơi thuận lợi nữa. Trái lại đuổi chúng tới một nơi nhất định do “làng” chỉ định. Thí dụ như các đầu rạch, nói rõ là các trạm canh trá hình.

Gia đình và các em chăn vịt yên trí vì nếu không được ăn no thì “làng” cấp thóc cho chúng.

Các em chăn vịt “trưởng trạm gác tiền đồn” đều mang theo trên tay con chim bồ câu mầu sắc khác nhau, hay con vịt trời. Đây là những con vật báo động.

Thí dụ : Lính kín Pháp dùng xuồng máy tiến vào “cửa Đông” làng Bình Xuyên, các em nhỏ chăn vịt chỉ cần chờ xuồng máy Pháp đi qua trạm gác của mình là thả chim bồ cầu hay vịt trời bay lên trời. Những nhân viên trạm gác “nội bộ” thường trực thấy ngay và báo động. Nhân viên an ninh sẽ đưa tất cả “kẻ tình nghi” lưu trú trong làng lên các xuồng chèo đi nơi khác.

Sông, rạch nhỏ, xuồng máy của Pháp có tới được giữa làng thì cũng sau khi “em chăn vịt thả chim” cả giờ đồng hồ, đủ để cho các xuồng nhỏ chở “kẻ tình nghi” len lõi qua lau sậy, dừa nước, rời khỏi nơi đó ít nhất là 10 cây số. Lính kín Pháp có tới cũng chỉ thấy toàn những người dân lương thiện.

Những kẻ tình nghi là những tên cướp nổi danh, sau cuộc ăn hàng lớn, rút về an toàn khu Bình Xuyên để ẩn trú một thời gian. Lẽ cố nhiên họ hiểu luật giang hồ nghĩa là chia một phần tài nguyên cho địa chủ một phần tùy theo số lượng vừa ăn hàng được.

Tuy nhiên Bình Xuyên vẫn rộng mở đón tiếp các tay tướng cướp thất thế, ăn hàng hụt, không có một đồng một chữ trên tay, lại bị truy nã gấp.

Từ tướng cướp tới các nhà cách mạng bị truy nã lấy “an toàn khu Bình Xuyên” làm nơi tạm trú chỉ còn một bước nhỏ.

Chính vì những khách phức tạp như vậy mà Bình Xuyên mang bộ mặt đặc biệt : từ anh chị đứng bến, anh chị gác sòng bài, tổ chức sòng me lưu động; chứa tướng cướp tới dung dưỡng các nhà cách mạng thất thế.

Phải công nhận rằng trong số lớn thuộc 10 con Rồng Xanh Bình Xuyên, như thủ lãnh Ba Dương, Năm Hà, Tư Thiên, Mười Trí, đeo đuổi giấc mộng cứu nước nên họ quen biết nhiều với các nhân vật của Đệ Tứ quốc tế như Nguyễn văn Số, Tạ thu Thâu, nhân vật Quốc Gia như Nguyễn văn Sâm, Hồ văn Ngà, Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường và sau này Phạm Hữu Đức (VNQDĐ) Bùi Hữu Phiệt (Đại Việt Quốc Dân Đảng)

Bởi vậy, sau cuộc họp lịch sử tại Quéo Ba giữa:

– đại diện Bình Xuyên là Huỳnh văn Trí tức Mười Trí,

– Tư Tỵ (Phó Tư lịnh Trung Đoàn 25 Bình Xuyên),

– Bùi Hữu Phiệt (Tư lịnh Trung Đoàn 25, đảng viên Đại Việt Quốc Dân Đảng),

– Phạm Hữu Đức (Tư lịnh Trung Đoàn 5, đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng),

– Nguyễn Thành Long tức Long què, (“tàn quân của Đệ ngũ sư đoàn “, đại diện cho Đệ tứ Quốc Tế),

– Trình Minh Thế, đại diện cho Cao Đài Kháng Chiến,

– và nhất là Đức Huỳnh Phú Sổ, Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo,

tất cả đều muốn làm cho “sống lại” Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp.

Mặt Trận được chia làm hai cục : chánh trị và quân sự,

Quân sự cục được giao cho Mười Trí làm Tư lịnh hay Chỉ huy trưởng, Bùi Hữu Phiệt làm Phó, Tham Mưu Trưởng của Trung Đoàn 25 làm Tham Mưu Trưởng của Cục, với những phụ tá như đại diện của Trình Minh Thế, Phạm Hữu Đức và Nguyễn Thành Long.

Tổng Hành Dinh của Quân sự Cục đóng tại Quéo Ba, gây thế chân vạc giữa Dòng Lớn, đất hoạt động sát biên giới Việt Miên của Trình Minh Thế và Hồng Ngự, đất lành của Phật giáo Hòa Hảo.

Sự xếp đặt này được toàn thể tán thánh

Không cần nói tới Long Xuyên cùng những tỉnh kế cận mà sự kiểm soát hoàn toàn nằm trong tay Phật giáo Hoà Hảo, nơi Dòng Lớn, mỹ thế của Trình Minh Thế lẫy lừng.

Một câu mà dân Miên truyền tụng là : Không sợ Minh (Việt Minh vì lực lượng không len lỏi nổi vào nơi đó), không sợ Tây mà sợ ông Thế, đủ rõ oai danh của Trình Minh Thế trong vùng này.

Thực sự, thực lực của Trình Minh Thế không có bao nhiêu. Chính Trung Đoàn 25 đã cung cấp cho đồng minh Cao Đài Kháng Chiến nhiều vũ khí và chỉ cho lính Cao Đài Kháng Chiến cách chế tạo đạn. Điều này đã thành keo sơn giữa các bộ đội trong Quân Sự cục của Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp với dân Cao Đài.

Hơn nữa Mười Trí là tín đồ Cao Đài nên mặc dầu Nguyễn Bình đã hạ lệnh cho Ủy ban Hành Chánh địa phương làm khó dễ, nhưng bộ đội này vẫn sống ung dung khi đồn quân tại các làng Cao Đài.

Đã có một lần, tại một làng nhỏ thuộc quận Trảng Bàng, viên chủ tịch xã từ chối không tiếp tế cho Trung Đoàn 4 của Mười Trí và Trung Đoàn 25 vừa di binh tới. Đây là điều trái với “luật lệ” Kháng Chiến đã được Uỷ ban Hành Kháng Nam bộ chỉ định.

Trưởng ban tiếp tế (lo về quân lương) của Mười Trí và viên Chủ Tịch xã còn đương cãi lý thì một ông già chống gậy bước vào trụ sở xã, chỉ vào mặt viên Chủ tịch :

– Tao hỏi mày, bộ đội Mười Trí đánh Tây hay đánh thằng Nguyễn Bình mà mày không tiếp tế ? Nếu mà mày không tiếp tế thì tao về khui vựa lúa ra tiếp tế cho chúng nó. Mày muốn tính sao thì tính.

Ông già “hách dịch” đó, lại là cha ruột của Ông Chủ tịch Xã nên ông ta phải cân nhắc giữa hai điều : Tiếp tế cho Mười Trí bằng “công quỹ” hay bằng chính tài sản riêng của mình ?

Và dĩ nhiên, cuối cùng, sự tiếp tế cho bộ đội Mười Trí bằng công quỹ vẫn hơn do chính mình phải đài thọ.

Nơi đây chúng ta cũng nên nhắc nhở tới “những ông già” và dân chúng Miền Nam trong kỳ kháng chiến.

Miền Nam không chịu ảnh hưởng nhiều của Cộng sản mặc dầu Miền Nam cũng có những cán bộ cao cấp của Cộng sản như Trần văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn văn Tạo v.v.

Tuy nhiên, dưới triều Pháp, Nhật thuộc, các cán bộ này đã bị lu mờ trước con mắt của dân chúng Saigon, trước các anh chị Bình Xuyên, và hoàn toàn xa lạ với người nông dân Nam bộ.

Đầu năm 1944, Trần văn Giàu đang bị giam ở Bà Rá, một trại tập trung của Pháp dành cho những kẻ bị Pháp coi là “thành tích bất hảo” đột nhiên thấy Dương Bạch Mai bị đày ra Côn Đảo cũng được về đất liền giam chung với mình tại Bà Rá.

Dương Bạch Mai cho Trần văn Giàu biết : một chuyến tầu “tải lương” từ đất liền ra đảo khi trở về đã đón Dương Bạch Mai.

Sau đó, trong một đêm mưa gió, chiếc xe Traction màu đen đã từ Saigon tới Bà Rá chở Trần văn Giàu và Dương Bạch Mai về Saigon

Người Pháp đã thấy rõ những tham vọng của Nhựt nên muốn liên kết với các cán bộ Cộng sản tìm đủ mọi cách phá hoại những hoạt động của Nhựt.

Cần nói ngay rằng thời đó, tại VN có nhiều đoàn thể Quốc Gia, chỉ vì muốn chống Pháp nên đã hợp tác với Nhựt như tại Bắc Việt có Đại Việt Quốc Xã. Miền Nam có Thanh Niên Ái Quốc Đoàn do Đinh Khắc Thiệt làm thủ lãnh, giáo phái Cao Đài v.v…

Phạm Hữu Đức, đảng viên của VN Quốc Dân Đảng Miền Nam, nhưng cha ruột bị Pháp đày ra Côn Đảo, cũng là một nhân viên cao cấp trong Hiến binh Nhựt để chống Pháp.

Pháp đưa Trần văn Giàu, Dương Bạch Mai về Saigon. Dương Bạch Mai hoạt động hoàn toàn bí mật, nhưng Trần văn Giàu, qua nhiều hành động, đã bị Hiến binh Nhựt đặc hiệt chú ý, và theo dõi.

Một điều hi hữu là Hiến binh Nhựt trao cho Phạm Hữu Đức việc lùng bắt Trần văn Giàu, trong khi đó, được Pháp báo động Trần văn Giàu lại sống nơi nhà riêng của Phạm Hữu Đức. Tư Đức chấp thuận cho Giàu ẩn tránh nơi nhà mình chỉ vì tinh thần của một người cách mạng, không cần phân biệt chánh kiến.

Chính vì vậy mà sau này Phạm Hữu Đức Tư lịnh Trung Đoàn 5 bị hạ sát mà chúng ta sẽ nói tới sau.

Và cũng chính vì vậy mà khi Nhựt vừa đầu hàng Đồng Minh, tại Saigon, hồi đầu tháng 9 năm 1945, cả Việt Minh do Trần văn Giàu làm đại diện và phe Quốc Gia còn tranh chấp việc nắm quyền Miền Nam đã xảy ra những vụ hi hữu.

Từ ngày 2 tháng năm 1945, tại Tòa Đô Chánh Saigon, hai phe Quốc Cộng họp bàn liên miên.

Đại điện cho Việt Minh là Trần văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn văn Tạo, và đại diện cho Quốc Gia là Vũ Tam Anh, Hồ Vĩnh Ký, Lâm ngọc Đường cùng giới cao cấp của Cao Đài và Hòa Hảo

Song song với những buổi họp công khai tại toà Đô Chánh, phía Quốc Gia có những buổi họp bí mật nơi khác như tại biệt thự riêng đường Phan Đình Phùng của bà bác sĩ Nguyễn thị Sương tức là vợ của ông Hồ Vĩnh Ký.

Bà Nguyễn thị Sương đậu bằng Y Khoa Bác sĩ tại Pháp, hoạt động nhiều về chính trị nên quen biết hầu hết các cán bộ cao cấp của mọi đảng phái Hơn nữa bà Sương bất chấp “người bạn” đó có khuynh hướng chánh trị gì miễn là tranh đấu chống Pháp là đủ rồi.

Bầu không khí trong phòng họp rộng thênh thang, chỉ có những chiếc ghế kê sát tường. Buổi họp quyết định đêm hôm đó thực nặng nề.

Nhà cách mạng lão thành Dương văn Giáo từ Thái Lan mới trở về, đi đi, lại lại trong phòng, yên lặng, đầu hơi cúi xuống, miệng lẩm bẩm những gì không ai nghe rõ, hai tay chắp sau lưng.

Lê Kim Tỵ, đại diện cho Cao Đài Bến Tre, đưa mắt cho Phạm Hữu Đức, đại điện Việt Nam Quốc Dân Đảng. Phạm Hữu Đức đảo mắt quanh phòng thấy những bộ mặt nghiêm nghị của các đại diện, đảng phái, đoàn thể khác, như Hồ văn Ngà, Huỳnh Phú Sổ, Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Đường, Nguyễn văn Hướng, Vũ Tam Anh, rồi nhẹ thở dài.

Trước khi bách bộ trong phòng, ông Dương văn Giáo đã kiểm điểm tình thế chánh trị đương nóng bỏng tại Saigon, rồi nhẹ vỗ vào chiếc cặp da đen căng phồng, tuyên bố :

– Tôi có đủ tài liệu chứng tỏ Trần văn Giàu bán nước cho Tây.

Để chứng minh lời lên án nặng nề của mình, Dương văn Giáo mở cặp, lấy ra một tấm giấy bìa cứng màu xanh, trong đựng vài tờ giấy mỏng, đánh máy đầy chữ trao cho Lê Kim Tỵ ngồi phía phải của mình :

– Ông đọc trước đi rồi chuyền cho mọi người coi cho biết…

Khi tập hồ sơ đã trở lại tay Dương văn Giáo, Lê Kim Tỵ mới khẽ hỏi:

– Sao ông có tài liệu đó ?

Dương văn Giáo mỉm cười:

– Chắc anh Phạm Hữu Đức cũng đã đọc tài liệu này rồi ?

Phạm Hữu Đức gật đầu:

– Phải, Hiến binh Nhựt đoạt được của Pháp trong ngày đảo chánh. Trần văn Giàu cam kết hoạt động cho Pháp, phá rối Nhựt để đòi lấy sự tự do của cá nhân mình và cán bộ cao cấp Cộng Sản. Chắc Hiến binh Nhựt trao cho ông tại Vọng Các khi có tin Trần văn Giàu qua Thái Lan móc nối với nhiều cán bộ khác ở Bắc Thái.

Dương văn Giáo gật đầu:

-Tôi còn những tài liệu khác nữa, chứng tỏ hiện nay Trần văn Giàu vẫn còn liên lạc mật thiết với Pháp, qua những tên Việt Nam tay sai trung thành của Pháp. Nếu các ông…..

Lê Kim Tỵ ngắt lời :

– Chúng tôi tin lời Ông. Cuộc họp đã kéo dài, trời lại sắp sáng, chúng ta chưa đi đến một quyết định nào. Trước những bằng cớ hiển nhiên đó, chúng ta tính sao ?

Những cán bộ trẻ tuổi của Đại Việt và cả Vũ Tam Anh đề nghị táo bạo : tung một mẻ lưới, bắt hết các cán bộ cao cấp Việt Minh đương hoạt động ráo riết tại Sàigòn

Vũ Tam Anh quả quyết:

– Tôi biết gần hết nơi trú ngụ của họ, nhất là nơi Trần văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn văn Tạo hằng đêm thường lui tới. Tôi có đủ lực lượng thi hành êm thắm công tác này nếu Hội nghị quyết định như vậy.

Những đại diện giáo phái đã đứng tuổi thì lưỡng lự cho rằng hành động như vậy sẽ bị quốc dân chê cười là nồi da xáo thịt, là thanh toán nhau vì địa vị, khi thực dân Pháp đương sửa soạn trở lại xâm lăng.

Trước hai luồng tư tưởng đó, sự quyết định của Dương văn Giáo được coi là tối hậu

Ánh hồng xuyên qua khe cửa, kẻ một vệt tươi, dài trên sàn gạch bông bóng loáng.

Dương văn Giáo chỉ thở dài mà không đi đến một kết luận nào hết.

Thiếu tướng Hùng, đặc phái viên của Trung ương Đại Việt Quốc Dân Đảng từ Hà-nội vào Saigon phá bầu không khí nặng nề :

– Nếu cụ Dương (Dương Văn Giáo) chưa quyết định được điều gì thì tốt hơn hết, chúng ta giải tán. Tôi có một điều muốn thưa, không rõ cụ nghĩ sao ?

– Điều gì! Thiếu tướng cứ nói.

– Cụ đang giữ tài liệu quý giá và vô cùng nguy hiểm đối với Trần văn Giàu. Cụ lại không quyết định ra tay hạ Trần văn Giàu nhưng chắc chắn Giàu không tha cụ. Vậy tốt hơn hết cụ nên mau mau trở lại Thái Lan trước khi Việt Minh chánh thức nắm chánh quyền tại Saigon.

Dương văn Giáo gật đầu.

Vũ Tam Anh hỏi Thiếu tướng Hùng :

– Tôi sẽ gặp anh ở đâu ?

– Nội bữa nay tôi và các anh em rời Sài gòn vào Chợ lớn. Tôi ngụ tại khách sạn Tam Dân. Chắc anh biết khách sạn này ?

Vũ Tam Anh gật đầu :

– Nội trong hai ngày tôi sẽ liên lạc với anh.

Thiếu tướng Hùng xuất thân từ trường võ bị Hoàng Phố của Trung Hoa Dân Quốc với cấp bậc Thiếu tá, chỉ huy mặt trận nổi tiếng nhất trong thời kỳ kháng Nhật: mặt trận Trường Sa, nên được đặc phong làm Thiếu tướng

Khách sạn Tam Dân là trụ sở kinh tài của Trung Hoa Quốc Dân Đảng Chợ Lớn. Ngụ nơi đây Thiếu tướng Hùng cùng các đồng chí cán bộ trẻ tuổi được tất cả những sự bảo đảm cần thiết, nhất là đối vói một vị Tướng của Tứ Cường (Anh, Nga, Mỹ,Trung Hoa Dân quốc, sau Đệ nhị Thế Chiến).

Và cũng tại khách sạn Tam Đân đã xảy ra nhiều vụ hi hữu sau ngày 2 tháng 9 năm 1945,ngày Việt Minh chánh thức trình diện Uỷ ban Hành Chánh Nam bộ tại Tòa Đô chánh Saigon.

Lẽ cố nhiên những hành động của phe Quốc Gia khó qua được cặp mắt tình báo của Việt Minh

Trần văn Giàu biết rằng dưới bộ binh phục cao cấp của Trung Hoa Quốc Gia, Thiếu tướng Hùng là người Việt, cán bộ quân sự của Đại Việt Quốc Dân Đảng, phải tìm đủ cách thủ tiêu, nên theo dõi và biết được nơi trú ngụ của viên tướng trẻ tuổi này.

Tuy nhiên họ không biết rõ khách sạn Tam Dân lại còn là trụ sở trá hình của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, cách bố trí ngấm ngầm rất đặc biệt.

Đêm hôm đó, có hai người thanh niên vạm vỡ Việt Nam, bước vào khách sạn thuê phòng. Họ đòi căn phòng lớn nơi lầu ba, tầng lầu Thiếu Tướng Hùng trú ngụ. Họ trả tiền trước rồi thoăn thoắt lên thang lầu.

Viên quản lý khách sạn, gầy đét như kẻ ghiền á phiện kinh niên. Đôi mắt lim dim như ngủ gà ngủ vịt, mỉm cười nhìn theo hai thanh niên Việt. Mắt y bỗng sáng ngời rồi đưa tay bấm nút điện đặt dấu dưới ô kéo đựng tiền.

Trên lầu ba, Thiếu tướng Hùng đã được báo động.

Thiếu tướng Hùng không ở một phòng, trái lại thuê 4 phòng gần nhau, nhưng căn phòng lớn, sang trọng nhất là nơi thiếu tướng thường có mặt.

Hai thanh niên Việt đảo mắt nhìn quanh thấy hành lang hoàn toàn vắng vẻ, ngừng lại trước phòng Thiếu tướng Hùng.

Trong phòng hoàn toàn yên lặng, ánh sáng nhạt, yếu ớt của chiếc đèn ngủ lọt qua khe cửa.

Như những tay ăn trộm, họ mở được cửa phòng rất mau, rất nhẹ nhàng rồi lọt vào trong, không gây một tiếng động nhỏ.

Bộ quân phục vắt trên thành ghế bành, bên cạnh đôi giầy ủng đen bóng loáng như chủ nhân đi chơi về khuya, mệt mỏi, vội trút bỏ ngay đó.

Màn phủ kín giường, nhưng qua làn sa mỏng, họ thấy rõ một người nằm quay mặt vào tường, mền đắp phủ tới vai.

Họ đưa mắt nhìn nhau rồi tiến mau lại. Hai ánh thép vung lên cắm phập xuống nơi lưng kẻ đương say giấc. Nhưng họ ngạc nhiên khi nhận thấy lưỡi dao quá sắc bén của họ không đụng một vật gì rắn chắc như cơ thể con người, trái lại chỉ xuyên qua vật mềm nhũn như bông.

Họ vội lùi lại thì phòng chan hòa ánh sáng.

Trước hai họng súng lục đen ngòm do hai thanh niên, nét mặt cương quyết, cầm lăm lăm trên tay, họ hiểu ngay rằng chỉ một cử chỉ chống đối nhỏ, đạn cũng bay khỏi họng súng.

Thiếu tướng Hùng, từ phòng kế cận, bước ra, ngắm kỹ hai kẻ toan ám sát mình, rồi mỉm cười, nói với cán bộ.

– Các em có nhận ra họ là ai không ?

-Thưa có : Cận vệ của Trần văn Giàu.

Các em hãy đưa họ “về nhà của họ”. Nơi đâu chắc các em biết rồi chứ ?

Hai đàn em của Thiếu tướng Hùng gật đầu, tiến tới, nắm cánh tay trái, nơi gần nách của đối phương, dịu dàng nói :

– Khuya rồi, chúng mình…đi về, để anh lớn tôi còn ngủ chứ.

Hai kẻ lạ mặt ríu ríu bước theo đàn em của Thiếu tướng Hùng vì khẩu súng lục đã dí sát vào nách họ.

Đây là một thế uy hiếp đặc biệt: không “nhường” cho đối phương một hy vọng thoát hiểm nào hết, không để cho đối phương có một phản ứng vì cánh tay trái của đối phương đã bị ghì chặt, nếu cần, chỉ nhẹ tay siết cò là viên đạn nổ, không gây cả một tiếng động, mà xuyên qua tim là đối phương chết tức khắc

Một lần tại Hà-nội, nhân viên ban ám sát của Đại Việt Quốc Dân Đảng đã loại lính kín trung thành và dữ dằn của Pháp bằng hành động trên, giữa ban ngày, giữa đám đông, mà không ai hay biết.

Viên mật thám Pháp vừa từ trên xe kéo bước xuống lề đường. Nhân viên ám sát tiến lại, với thế “nắm tay áo khoác” (pardessus) nổ liền một viên đạn. Viên mật thám Pháp lảo đảo như kẻ vừa trúng gió độc, nhân viên ám sát dìu hắn vào tới trong nhà, trước những cặp mắt thán phục và những lời cám ơn của gia đình nạn nhân,

Và chỉ mãi khi gia đình ngạc nhiên cởi bỏ quần áo cho “người trúng gió” mới thấy một giòng máu còn tươi từ nách rỉ ra nhưng kẻ sát nhân ân nhân đã đi quá xa.

Hai tên toan ám sát Thiếu tướng Hùng thân mật cùng kẻ uy hiếp mình, từ lầu ba xuống đường.

Tại khách sạn Tam Dân, lúc đó cũng còn người ra vào, nhung ai cũng tưởng rằng vừa gặp hai cặp bạn thân đưa nhau đi du hí.

Một chiếc xe chờ sẵn gần khách sạn.

Chưa đầy một giờ sau, chiếc xe hơi trở về chỗ cũ nhưng thiếu hai người vì hai người này đã nằm trước nhà của họ, với một viên đạn xuyên qua nách, chọc thủng tim.

Thiếu tướng Hùng hỏi các cán bộ ;

– Mọi việc êm thắm chứ ? Có ai chú ý không ?

– Thưa chắc chắn là có người chú ý nhưng sáng mai cơ. Anh có có cần thay đổi chỗ ở ?

– Thay đổi làm gì khi nơi đây, chúng ta yên hết ?

– -Địa điểm này đã lộ.

– Chúng ta đi tới đâu rồi thì cũng lộ. Đã vậy, ở nơi khác, chúng ta đâu được thanh y (tình báo Trung Hoa Dân Quốc) bí mật bảo vệ. Dầu sao chăng nữa lúc này, Việt Minh cũng chưa dám công khai đương đầu với “nước bạn đồng minh” được xếp vào hàng ” Đệ tứ cường”… Hơn nữa, ngày mai tôi còn chờ một việc quan trọng.

Ngày hôm sau, cán bộ của Thiếu tướng Hùng biết rõ “việc quan trọng chờ đợi” đó là gì?

—>Xem tiếp

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, TRẦN KIM TRÚC: Tôi giết Nguyễn Bình. Bookmark the permalink.

3 Responses to TÔI GIẾT NGUYỄN BÌNH (Trần Kim Trúc)

  1. Lê Thy says:

    Xin chân thành cảm tạ bạn NQT độc giả BVCV đã gởi cho Lê Thy những sách:
    – Tôi giết Nguyễn Bình (Trần Kim Trúc)
    – Về R- hồi ký chiến trường viết về bí mật của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (Kim Nhật)
    – và loạt sách viết về Tình báo chiến lược Hà Nội tại Dinh Độc Lập của Trần Trung Quân:
    * Gián Điệp Nhị Trùng
    * Cụm A22
    * Lái buôn tổng thống.

    Trân trọng
    Lê Thy

    Like

  2. NQT says:

    NQT rất vui khi thấy những cuốn sách này thay vì nằm trong thùng, thì nay được BVCV đăng cho mọi người cùng đọc. Bravo Lê Thy đã bỏ công đánh máy lại.

    Like

    • Lê Thy says:

      Lại xin gởi lời cám ơn độc giả NQT đã gởi thêm 5 quyển sách để cho LT không “thất nghiệp” từ đây tới cuối năm. Cũng may là xương cốt nhất là mấy ngón tay được trời thương nên không bị bệnh thấp khớp của người già vẫn còn thi triển “thập dương chỉ” trên bàn phím đánh máy.

      Một lần nữa vô cùng cảm tạ NQT.

      Trân trọng,
      Lê Thy

      Like

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s