Về “R” (Kim Nhật)- Phần I

PHẦN I

NHỮNG NGÀY ĐẦU CỦA NGUYỄN HỮU THỌ

1-SỨ GIẢ TRUNG ƯƠNG CỤC

Sau Hiệp định đình chiến 54, Trung Ương cục Miền Nam đề ra ba công tác lớn và chỉ thị cho các cấp phải thi hành gấp rút, hoàn thành trước cuối tháng 10/54. Ba công tác đó là:

1)Tổ chức học tập sâu rộng từ trong Đảng ra đến ngoài quần chúng, từ các cơ quan, bộ đội đến nhân dân và Hiệp định đình chiến.

2) Tiếp thu các vùng tập kết.

3) Phát triển công tác cơ sở.

Công tác thứ ba là công tác tối quan trọng, công tác chiến lược quyết định của giai đoạn “Tiền Tổng Tuyển Cử” 1954-1956.

Thế cho nên không ai lấy làm lạ khi thấy thành phần được tập kết ra Bắc hầu hết là giới quân sự. Cán bộ dân chánh Đảng chỉ một số ít không đáng kể. Số còn lại, trước khi trở về địa phương hay chuyển vùng hoạt động đều phải trải qua một lớp huấn luyện tập trung hay tại chức ngắn hạn từ 3 đến 15 ngày về tình hình chính trị, công tác dân vận cơ sở, phương châm hoạt động v.v..

Vào khoảng cuối tháng 10 năm 1954, trên lộ Đông Dương từ Rạch Giá về Sàigòn người ta thấy có một chiếc Citroen 11, cốp vuông, sơn đen, chạy bon bon góp mặt với những xe cộ khác chạy trên đường. Trên xe có 3 người, một tài xế già ngồi ở tay lái và một đôi vợ chồng ngồi ở băng sau.

Người chồng mặc bộ vét màu xám, gương mặt xương xương, da trắng, trán hơi cao. Phong thái, cốt cách đúng là một một nhà trí thức trẻ ngoài ba mươi tuổi. Người vợ tóc cắt ngắn, uốn quăn, hơi mập, mắt to, miệng hơi hô, mặc chiếc áo dài rộng, bên ngoài phủ chiếc áo “đình chiến”, bụng nổi to lên, tố cáo cái thai sắp đến ngày sinh nở.

Đôi vợ chồng ấy là Trần Bửu Kiếm và Phạm thị Yến. Trần Bửu Kiếm là Tổng thư ký Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chánh Nam Bộ và Phạm thị Yến là dược sĩ, chủ Pharmacie Phạm thị Yến ở đường Tổng đốc Phương (hiện bị tù ở Côn Đảo vì hoạt động trí vận – một tổ chức cơ sở của VC trong giới trí thức do tòa án Quân sự đặc biệt ở Saigon xử năm 1960, 18 năm khổ sai).

Về Saigon, Trần Bửu Kiếm không ở chung với vợ tại nhà ở đường Cây Mai mà tạm ngụ tại một khách sạn ở đường Đồng Khánh.

Bấy giờ, Kiếm đã nhận một công tác khác do Trung Uơng Cục giao cho nên cái tư cách Tổng thư ký Ủy Ban kháng chiến Hành Chánh Nam Bộ không còn dùng đến nữa mà chỉ lấy danh nghĩa Kỳ Ủy Đảng Dân Chủ Nam Bộ. Điều này không ai lạ gì. Kiếm từ trước đã là ủy viên Kỳ Ủy Nam Bộ của Đảng Dân Chủ do Trung Ương Cục Miền Nam đảng Lao Động biệt phái sang để kiểm tra và lãnh đạo ngầm.

Ngoài việc liên lạc với Thành Ủy Sàigòn và những tổ chức khác, việc đầu tiên của Kiếm là đi thăm lại những nhà trí thức có tên trong Phong Trào Hòa Bình 1954. Dĩ nhiên trong số đó có luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Sở dĩ các nhân vật trong Phong Trào Hòa Bình 1954 được Kiếm chiếu cố đến trước tiên, đặc biệt như vậy là vì Phong Trào Hòa Bình là một tổ chức tư, một tổ chức quần chúng yêu nước có cảm tình với kháng chiến, tạo nên để làm áp lực đối với Pháp. Chính vì không phải là một tổ chức của Đảng nhưng nếu nắm được thì sẽ lợi cho Đảng biết ngần nào nên những nhân vật trong Phong Trào Hòa Bình được Kiếm quan tâm là vậy.

Thời gian 2 năm trôi qua. Việc tổng tuyển cử thống nhất cả hai Miền Nam Bắc không thành. Các cơ sở Đảng để lại Miền Nam hoạt động gần như tan vỡ hết : lớp bị chính quyền bắt giữ, lớp bị theo dõi phải trốn tránh những nơi khác, lớp mất liên lạc bơ vơ, lớp chán nản không hoạt động nữa, lo làm ăn.

Mặt khác, số cán bộ nhân viên, chiến sĩ tập kết ra miền Bắc, đặc biệt nhất là cán bộ chiến sĩ của sư đoàn 330 và sư đoàn 338, thất vọng, bất mãn đến cực độ vì lời hứa “1956 sẽ tổng tuyển cử, sẽ thống nhất, đất nước thuộc về ta, các đồng chí sẽ trở về Nam sum họp với gia đình” do Đảng và chính phủ hứa không thành.

Cái Tết đầu năm 1957, đầu năm 1958, người ta thấy hầu hết cán bộ, chiến sĩ của 2 sư đoàn này ôm nhau khóc suốt đêm giao thừa, la hét, đập bàn và người nào cũng nốc ừng ực hết chai “ba xi đế” này đến ly “ba xi đế” khác để cho say, cho nguôi niềm thương nhớ và uất ức. Tiếng khóc cứ tỉ tê suốt mấy ngày Tết, như đưa ma. Đảng và chánh phủ lúng túng, bối rối ra mặt, hết nhân vật này đến trấn an tới nhân vật khác đến an ủi, ủy lạo rồi sau đó phân tán mỏng chia đi nhiều nơi, không tập trung như trước để tránh trước tình trạng hỗn loạn có thể xảy ra. Sư đoàn trưởng 338 là Tô Ký và sư đoàn trưởng 330 là Đồng văn Cóng được gọi về Trung Uơng nhận chỉ thị đối phó.

Trước tình thế này, Bộ Chính trị do Hồ Chí Minh làm chủ tọa mở phiên họp bất thường và quyết định “cứu cấp ” cho phong trào hoạt động ở Miền Nam, chuẩn bị cho cuộc ” kháng chiến lần thứ hai chống Mỹ Diệm”, kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh võ trang theo đường lối cách mạng vô sản chuyên chính. Thế là chiến tranh lại sắp sửa nổ bùng, biến Miền Nam trở thành hỏa ngục.

Trở lại vấn đề “Phong trào Hòa Bình” năm 1954, một số bị chính quyền Sàigòn thời bấy giờ bắt giam giữ, một số còn tự do ở bên ngoài. Cho đến cuối năm 1956 thì tất cả những người bị giam giữ có thể coi như được trả tự do hết.

Và một số ít nhân vật trong Phong Trào này đã được Trần Bửu Kiếm tuyên truyền, lôi kéo đưa ra miền Bắc. Số lớn còn lại trong đó có luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Lúc ở tù, luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị giam giữ chung một buồng cùng với giáo sư Nguyễn văn Dưỡng và thạc sĩ Phạm Huy Thông. Sau khi được thả ra, Nguyễn Hữu Thọ về sinh sống ở Nha Trang. Tại đây, Trần Bửu Kiếm đã đến thăm Nguyễn Hữu Thọ nhiều lần.

Năm 1958 coi như năm cực thịnh của ” triều đình Ngô Đình Diệm” và cũng là năm xem như toàn bộ hệ thống cơ sở của VC gài lại hoạt động ở Miền Nam tan nát không còn gì. Giữa lúc đó, Hà-nội quyết định gởi cán bộ vào Nam, mở đầu cho phong trào hồi kết, xây dựng lại lực lượng, lập lại cơ sở để mở “phong trào đồng khởi” toàn bộ vào 1959.

Dù muốn dù không, dù coi thường hiệp định Genève đến đâu, hai bên Sàigòn và Hà-nội vẫn còn bị hiệp định Genève ràng buộc, còn sợ bị dư luận và ảnh hưởng thế giới kiềm chế, nên đối với Hà-nội, muốn mở lại cuộc chiến tranh vũ trang, đánh Miền Nam không thể và không dám làm một cách công khai được. Muốn che mắt thiên hạ, muốn cho thiên hạ lầm lẫn và không thể đổ trách nhiệm về mình, Hà-nội cử đại tướng Nguyễn Chí Thanh bí mật vào Nam quan sát tình hình, thi hành quyết nghị mật của Bộ Chính trị.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên là Ủy Viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung Ương Đảng trong ban Bí thư, phụ trách về vấn đề nông dân và thanh niên. Về phía quân đội thì Nguyễn Chí Thanh là Bí thư Tổng Quân Ủy Trung Ương hay nói cách khác là Chính Ủy toàn quân.

Nguyễn Chí Thanh từ Hà-nội cải trang vào Nam Vang và cho người về liên lạc với Thường Vụ Trung Ương Cục Miền Nam đóng ở giữa rừng sâu chiến khu D, thuộc tỉnh Phước Thành. Nguyễn Chí Thanh sau khi nghe báo cáo tình hình, trao quyết nghị của Trung Ương chỉ thị cho Trung Ương Cục Miền Nam phải gấp rút chuẩn bị cho công bố một tổ chức, tên được chọn sẵn là “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”.

Có như thế, danh có chính ngôn mới thuận. Có như thế, nó mới có “chánh nghĩa” đặc hiệu của nhân dân Miền Nam, không dính đáng gì đến miền Bắc, đến Hà-nội. Và tổ chức làm thế nào trong đó có đủ mọi thành phần tham dự như : trí thức, nhân sĩ, nông dân, công nhân, nghệ sĩ, tôn giáo, đảng phái, dân tộc thiểu số v.v…

Thế là từ cuối năm 1958, cuộc vận động được Trung Ương Cục Miền Nam tiến hành ráo riết. Nhưng còn mỗi một băn khoăn lớn là không biết chọn ai làm chủ tịch, cầm đầu cho cái tổ chức đó. Nếu đưa một cán bộ của đảng, một ủy viên Trung Ương Đảng thì dễ quá, thiếu gì người, nhưng như vậy thì việc đó tự nó đã tố cáo sự vi phạm trắng trợn của Hà-nội lại không có lợi về mặt tuyên truyền.

Phải chọn một người trong giới trí thức tương đối có tiếng tăm để gây nên một tiếng vang, nhưng người đó là ai ? Ai có thể chịu, dám từ bỏ mọi sự nghiệp, chịu gian khổ, hy sinh đến tiếng tăm mình?

Nhiều người được đặt ra để vận động nhưng không thành. Cuộc vận động giữa Trần Bửu Kiếm và Nguyễn Hữu Thọ trở nên ráo riết, cũng chưa mang lại kết quả nào. Trong lúc đó, Hà-nội thúc dục hàng ngày việc công bố danh sách và tổ chức “Mặt Trận dân tộc giải phóng Miền Nam”.”

Đến giữa năm 60, việc đưa Nguyễn Hữu Thọ ra làm chủ tịch Mặt Trận vẫn chưa thành, Trung Ương Cục Miền Nam bèn dự định chọn bác sĩ Phùng Văn Cung. Sứ giả được tung ra, đi mời những đại biểu được vận động trước và chọn sẵn về dự buổi họp tại căn cứ giữa rừng sâu, gần cầu Cần Đăng, trên đường đá đỏ Trà-băng Trại bí – Xóm mới- Bồ túc – Sóc ông Trang thuộc tỉnh Tây Ninh, cách biên giới Việt Miên khoảng 7 cây số ngàn.

Nhưng… vào một sáng tháng mười năm 1960, trạm giao liên Suối Đá của “đường dây Ông Cụ (tức đường giao liên đưa cán bộ từ Bắc vào Nam) tiếp nhận hai người khách đặc biệt cùng một đại đội theo bảo vệ. Họ đi từ phía sông Đồng Nai, vượt qua đồi Bù Cháp, đồi Tam Cấp đến.

Hai người khách đó, một người mặc sơ mi trắng cụt tay, quần tây xám, mang giầy Bata, cỡi ngựa, và một người mặc đồ bà ba đen đi bộ, chân mang dép râu. Cả hai đều mồ hôi nhễ nhại, dù đường đi lá rừng che phủ không lọt chút nắng và khí hậu về trưa vẫn còn gai gai lạnh.

—>Đường vào khu chiến
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s