Về “R” (Kim Nhật)- Phần I

4-ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN CHÍ THANH

8 giờ đêm 18-12. Lúc Thường vụ còn đang hội ý chưa ngã ngũ ra sao thì nhận được điện của Hà-nội báo cho biết là ngày mai, 19-12-60, Bộ Chính trị sẽ có đại diện đến tham dự Đại hội để tham quan và điều nghiên tình hình. Không cần phải nói, tất cả Thường vụ Đảng bộ, ai ai cũng biết đó là đồng chí Trường Sơn, tức là Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, phụ trách về Nông dân và Thanh niên, kiêm Chính ủy toàn quân của quân đội miền Bắc.

Vậy là Đại hội không thể kéo dài, khai mạc đúng theo dự định. Nhưng phòng hờ Đại tướng đến trễ, ngày khai mạc được dời lại một ngày tức ngày 20-12-60.

Quyết định này được thông báo ngay tức khắc cho Thọ và các nhân vật trong Ban Vận động biết. Tuy nhiên tin sẽ có Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được miền Bắc cử đến thì không hề tiết lộ.

Cho nên sáng ngày 19-12-1960, trong buổi lễ kỷ niệm “Ngày toàn quốc kháng chiến” cử hành tại vườn hoa Ba Đình, Hà-nội, chiếc ghế cố hữu dành cho Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trên khán đài bỏ trống, không có ai ngồi.

Trong giới ngoại giao cũng như báo chí, người ta rất quan tâm đến sự kiện này. Người ta thắc mắc tự hỏi, bàn tán nhau về lý do vắng mặt. Không ai biết gì cả. Các câu hỏi được nêu ra, nào bệnh hoạn, nào bị thanh trừng vì vụ cải cách ruộng đất, công tác bí mật v.v…

Nhưng đến tối ngày 20 tháng 12 năm 1960, đài Phát hanh Hà-nội loan tin Đại hội thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam khai mạc thì mọi người đều tự giải đáp được thắc mắc.

Tin Mặt Trận được thành lập được tung ra làm dư luận xôn xao, và nó báo hiệu cho cuộc chiến tranh, cuộc giết chóc tàn bạo, đau thương ở Miền Nam bắt đầu phát triển mạnh. Máu và nước mắt sẽ đổ tràn trên lãnh thổ nhỏ bé này…

8 giờ tối ngày 18-12-60, giờ Đông Dương tức 9 giờ tối, giờ Sàigòn, tất cả đại biểu dự Đại hội đều được báo tin phiên họp hoãn lại đến 20-12 vì lý do kỹ thuật. Thực ra, lý do chính là còn chờ “đồng chí Trường Sơn” đến vào ngày 19-12. Lý do thứ yếu là chậm lại một ngày biết đâu sẽ có thêm được nhiều đại biểu vì trục trặc sao đó, không đến kịp ngày.

Đồng chí Trường Sơn đến, vừa là cả “một vinh dự” cho “Miền Nam” nói lên sự quan tâm đặc biệt cũng như nỗi lo âu của Bác, của Bộ Chính trị và Trung Ương Đảng ở Hà-nội, vừa là để chỉ thị lần cuối cùng về chiến lược, chiến thuật, đường lối chính sách của Đảng trong giai đoạn hiện tại.

Và “đồng chí Trường Sơn” đến thực. Chiều ngày 19-12-60 “người ta” thấy có sự hiện diện của “đồng chí Trường Sơn” ở khu vực Đại hội nhưng “người ta” không làm sao biết được, hiểu được “đồng chí Trường Sơn” đến hồi nào, đến bằng phương tiện nào, đi bằng cách nào, đi bằng ngõ nào, bằng con đường Nam Vang – Mimot, hay Nam Vang – Sway Rieng, hoặc nhảy dù? Không ai rõ cả!

Dĩ nhiên danh từ “người ta” dùng ở đây, phải hiểu là một số ủy viên của Trung Ương cục Miền Nam, một số khu ủy viên và những cán bộ trung cao cấp của Đảng đã từng ra Bắc vào Nam, từng biết mặt Đại tướng Nguyễn Chí Thanh trước kia, chứ đại biểu của đại hội mà không thuộc vào loại vừa kể trên thì “sức mấy” biết được “đồng chí Trường Sơn ” là ai ?

“Người ta” ở đây chỉ là một số nhỏ, ngạc nhiên hỏi thầm nhau, lấy mắt báo hiệu nhau để mà phấn khởi :

– Có Đại tướng Ngyễn Chí Thanh đến!

– Chắc không?

– Mình thoáng thấy đằng khu nhà của an ninh. Giống lắm ! Không thể lầm được. Cảnh vệ không cho vào, chứ không mình đã vào để xem cho rõ mặt.

– Gấp gì, tối nay hoặc mai mình gặp ngay chứ gì !

Để gây thêm phấn khởi và niềm tin cho đại biểu, một mặt để Thường vụ lâm thời Trung Ương cục Miền Nam không bị khách khuấy phá, đủ thì giờ họp mặt với “đồng chí Trường Sơn”, Ban Tổ chức được lịnh mời tất cả các đại biểu đến hội trường dự buổi chiếu phim và đoàn văn công trình diễn văn nghệ.

Trước khi trình diễn văn nghệ, xem chiếu bóng, Huỳnh Tấn Phát thay mặt Ban Tổ chức nói chuyện với đại biểu ít phút.

Phát nói hôm nay 19-12-1960 là lễ kỷ niệm lần thứ 14 ngày toàn quốc kháng chiến. Phát nhắc lại lịch sử VN bị trị, những cuộc kháng chiến tuần tự tiếp nối cho đến ngày Việt Minh cướp chính quyền, tình hình từ 18-9-1945 đến 19-12-46, rồi cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954) cho đến hôm nay. Không cần phải nói, ai cũng biết rằng lịch sử mà Phát trình bày, đúng theo quan điểm lập trường của Mác xít, đúng theo lý luận, tài liệu của Đảng. Sau cùng Phát báo cáo và giới thiệu đoàn Điện ảnh Nhân dân, và Văn công Nhân dân.

Ít phút của Phát dài gần 1 tiếng đồng hồ. Cũng may, Phát chỉ tóm tắt ý nghĩa ngày lễ cũng như lịch sử thôi đấy. Trên hàng ghé đầu, Thọ lẳng lặng ngồi nghe, miệng cười rất tươi với tất cả hào hứng và phấn khởi.

Kế tiếp, Trần Bạch Đằng thay mặt đoàn Điện ảnh và Văn công giới thiệu tiết mục và chào mừng đại biểu đến dự đại hội. Có những cuốn phim được Đằng giới thiệu đến : “Vợ chồng A Phủ (của “Trung quốc vĩ đại” thực hiện theo kịch bản của nhà văn Tô Hoài), ” Chiến thắng Tây Bắc”, “Chiến thắng Điện Biên” và “Chung một dòng sông”. Mở màn cho đêm trình diễn là màn đồng ca “Giải phóng Miền Nam” của nhạc sĩ Huỳnh Minh Siêng.

Đằng giới thiệu và ca tụng đặc biệt, khen hết lời bản nhạc này, mục đích để giới thiệu và gây ấn tượng về bài ca mà mai đây sẽ được đề cử làm quốc thiều. Nếu không ca tụng hết lời, không quảng cáo dữ đội nhỡ họ không thèm nghe có phải “chết cửa tứ” không ? Giữa những cuốn phim sẽ có những màn đơn ca, tốp ca và vũ để chờ thay phim mới.

Quả thực, mãi theo dõi chương trình văn nghệ dài dằng dặc ở hội trường, không ai để ý đến cái “linh hồn của đại hội” và những kẻ có quyền thế nhất với những quyết định tối hậu mà “đồng chí Trường Sơn” đang thảo luận, chỉ thị cho Thường vụ Đảng bộ Trung Ương cục Miền Nam về kế hoạch lãnh đạo, về nhiệm vụ mới trong tình thế mới qua cái bình phong Mặt Trận được thành lập vào ngày mai (20-12-1960).

Như điện đã nhận được, Trung Ương (Hà-nội) chấp nhận toàn bộ nghị quyết và báo cáo của Trung Ương cục Miền Nam, cứ tiếp tục chuẩn bị chu đáo cho Đại hội, mặt khác Bộ Chính Trị sẽ cử đại biểu đến chỉ thị sau. “Đồng chí Trường Sơn” xác nhận lại lần nữa ý kiến thuận của Bác, của Bộ chính trị và Ban Bí thư Trung Ương Đảng. Bác và Bộ chính trị có nhắn gửi :

-… Nhờ tôi trao đến các đồng chí sự thương nhớ vô biên, lời thăm hỏi nồng nàn thân thiết nhất và hôn mỗi đồng chí một chiếc hôn. Nhắc đến các đồng chí Bác khóc đấy !

“Anh Hai chủ tịch xe ngựa”, Tư Thắng, Tư Khanh, Năm Quốc Đàng mắt sáng ngời lên. Xúc động, sung sướng ra mặt. Thật là nó phơi phới trong lòng. Chờ cho mấy câu nói động viên tình cảm của mình làm xúc động “các đồng chí thân yêu “, ngấm kỹ vào từng thớ thịt, “đồng chí Trường Sơn” mới nói tiếp đến những vấn đề khác. Kỹ thuật động viên của đồng chí ủy viên Bộ Chính Trị quả lên đến mức thượng thừa, thuộc về hàng đại cao thủ.

Tiếp đến, “đồng chí Trường Sơn” cho biết Trung Ương rất đồng ý đặt Nguyễn Hữu Thọ vào danh vị Chủ tịch Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam và Trung Ương sẽ mở chiến dịch tuyên truyền giới thiệu ở ngoại quốc về đường lối của Mặt Trận và cơ cấu tổ chức đó. Bộ Chính Trị chỉ thị Thường vụ Trung Ương cục Miền Nam phải trực tiếp chỉ huy, lãnh đạo quân đội, nắm các lực lượng võ trang. Nghĩa là đảm nhận luôn công tác của Quân ủy. Các cấp khu, tỉnh, huyện, xã cũng vậy. Đảng ủy của từng cấp lãnh đạo trực tiếp về quân đội, quân sự ở cấp đó. Có như thế, chỉ thị, chính sách của Đảng mới được thi hành một cách triệt để, nghiêm chỉnh. Trung Ương đã chỉ định 4 đồng chí ủy viên và cán bộ quân sự cao cấp Trung Ương Đảng bổ sung vào thành phần lãnh đạo Quân ủy. Đó là:

– Đồng chí Trần Lương, Trung tướng ở Tổng cục Chính Trị. Đồng chí Trần Lương sẽ là Tư lệnh các lực lượng võ trang, bán võ trang, đảm nhiệm chức vụ Ủy viên quân sự về phía Mặt Trận cho nó hơp pháp, hợp lý ở chính quyền . Tên Trần Lương được đổi lại là Trần Nam Trung.

– Đồng chí thứ hai là Thiếu tướng Trần văn Trà vừa được thăng Trung tướng, Ủy viên dự khuyết Trung Ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Miền Nam.

– Đồng chí thứ ba là Lê Trọng Tấn, Thiếu tướng cũng vừa được quyết định thăng Trung tướng, trước là Đại đoàn trưởng Đại Đoàn 312 rồi Sư Đoàn 312 – sư đoàn chủ công Điện Biên Phủ, đang ở Tổng Cục Tham Mưu.

– Và đồng chí thứ tư là đồng chí Trần Độ, cùng cấp bực với Lê Trọng Tấn. Trước là Chính ủy Đại Đoàn 312, rồi Sư Đoàn 312, coi như là một trong những người có công tại chiến dịch Điện Biên Phủ.

“Đồng chí Trường Sơn” nhắc lại chiến thuật của Đảng áp dụng trong giai đoạn hiện tại (1960), dù rằng trong Ban Thường vụ Trung Ương cục Miền Nam không ai là không biết quá rõ về vấn đề này. Nghĩa là, sau Hiệp định Genève 1954, VN bị phân chia thành 2 vùng Nam Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến. Miền Nam thuộc vùng Quốc Gia kiểm soát, trong khối Thế giới tự do và miền Bắc thuộc vùng Cộng Sản kiểm soát, trong khối Xã hội chủ nghĩa. Tất cả hai bên đều phải triệt thoái hết những tổ chức chính quyền cũng như quân đội của mình khỏi phần đất địch.

Do đó, về mặt pháp lý không bên nào có quyền để lại một tổ chức, một lực lượng quân sự dù nhỏ đến đâu để hoạt động quân sự hay chính trị chống lại chính quyền, bộ máy nhà nước trên phần đất không thuộc vùng kiểm soát của mình. Tất cả mọi hành vi có mục đích trên đều vi phạm Hiệp định Genève. Ủy Hội Quốc Tế có nhiệm vụ kiểm soát, giám sát việc thực thi nghiêm chỉnh Hiệp định này.

Nhưng trên thực tế lại khác. Sau Hiệp định Genève, Pháp vẫn còn cài lại hàng mấy trung đoàn Biệt động quân để hoạt động phá hoại và một số tổ chức bí mật khác, làm chính quyền miền Bắc mất ăn mất ngủ mấy năm liền. Chính quyền miền Bắc phải áp dụng tất cả mọi biện pháp như kiểm tra nhân khẩu, phân phối thực phẩm theo phiếu kiểm tra, kiểm tra thành phần, cưỡng bách lao động, cưỡng bách vào đoàn thể. Phát triển màng lưới công an nhân dân và triệt để đàn áp, thanh trừng mọi thành phần trung, phú nông, địa chủ, tiểu tư sản, trí thức, tư sản v.v…, thực hiện chế độ vô sản chuyên chính mới phục hồi lại sự an ninh, kiểm soát chặt chẽ như ngày nay.

Ở Miền Nam, việc cài lại các lực lượng quân sự, bán quân sự hay những tổ chức chính trị được tổ chức chu đáo, có hệ thống, có kế hoạch quy mô hơn nhiều. Hệ thống đó tổ chức từ xã lên huyện, lên tỉnh, lên khu đến Trung Ương, và từ Trung Uơng đến Hà-nội. Riêng về các lực lượng quân sự, bán quân sự tuy cài lại nhưng trong giai đoạn đầu chỉ làm công tác chính trị, dân vận xây dựng cơ sở quần chúng. Súng ống, vũ khí đạn được đem chôn dấu chờ khi có lịnh mới. Chính quyền Miền Nam cũng biết rõ như vậy, nên giống như Hà-nội, Sàigòn cũng áp dụng mọi biện pháp để thanh toán cho kỳ hết những lực lượng, những tổ chức này. Nhưng chính quyền Diệm Nhu giao trọng trách gần như hoàn toàn cho Công an Cảnh sát, Mật vụ, mà nhẹ về chính trị cũng như giáo dục. Cho nên vào những năm cực thịnh của chính quyền Diệm Nhu (1957-1958) nhìn chung thì thấy hầu như mọi cơ sở của Cộng sản để lại Miền Nam đều tan vỡ hết. Thực sự mọi hoạt động của họ không phải tan vỡ hoàn toàn mà chỉ rút lui triệt để vào bí mật, tạm thời ngưng hoạt động để gầy dựng lại cơ sở đó thôi.

“Đồng chí Trường Sơn” kiểm điểm lại tình hình đó để nhắc lại việc dù sự có mặt của Ủy hội Quốc tế chỉ là một trò chơi vô thưởng vô phạt, nhưng dù khinh thường hay không khinh thường Hiệp định Genève, về mặt pháp lý và công luận thế giới không thể xem thường, không thể vi phạm Hiệp định một cách trắng trợn, công khai thế nào cũng được. Bây giờ muốn phát động lại phong trào đấu tranh vũ trang tại Miền Nam thì về mặt pháp lý, muốn cho danh chánh ngôn thuận, cũng như che dấu được sự chỉ đạo chiến tranh của miền Bắc và tất cả cơ cấu tổ chức của Miền Nam “không do miền Bắc điều khiển” thì phải tạo cho nó một bộ mặt có vẻ Nhân dân quần chúng đặc hiệu Miền Nam, với những nhân vật Miền Nam “ngây thơ” và có vẻ “ô hợp” mới có thể lường gạt được pháp lý và công luận thế giới. Vì những lý do đó, cần phải công có gấp cái ” Mặt Trận ” mà Đảng đã tạo nên.

Giai đoạn hiện tại là giai đoạn khởi đầu của cuộc chiến tranh đặc biệt. Lấy vũ trang làm hậu thuẩn cho việc xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở Đảng. Lấy chiến thuật du kích làm căn bản, phá hoại, khuấy rối, lật đổ chính quyền các cấp của địch để làm nền tảng cho Cách mạng. Phô trương thanh thế Cách mạng, hạ uy thế địch để buộc địch và thế giới chấp nhận sự có mặt của cuộc cách mạng do “Mặt trận Giải phóng” lãnh đạo (chứ không phải do Đảng Lao động, do Hà-nội !). Sau đó củng cố cơ sở, phát triển du kích tiến lên chủ lực chính quy, tiêu hao rồi tiêu diệt sinh lực địch, chuẩn bị tổng công kích cướp chính quyền trên tay địch.

Vì những lý do ảnh hưởng về chính trị cũng như pháp lý không thể chối bỏ được của hiệp định Genève, những nhân vật của Đảng, của miền Bắc không thể có mặt một cách công khai, mà phải hết sức bí mật.

“Đồng chí Trường Sơn” giải thích về trường hợp mình :

– Như trường hợp tôi, các đồng chí thấy đấy. Phải tuyệt đối giữ bí mật, phải hết sức cảnh giác. Có tinh thần cảnh giác cách mạng cao độ mới bảo vệ được thực lực của Đảng. Từ nay các đồng chí chỉ biết bí đanh tôi là Trường Sơn, tên bên ngoài để gọi, để xưng hô, giới thiệu với mọi người là Sáu Vi. Cái tên Nguyễn Chí Thanh xem như là quá khứ, không thuộc về hôm nay nữa.

Vậy là kể từ đó mọi người chỉ biết có anh Sáu Vi, tức Trường Sơn qua những báo cáo đảng, qua những bài bình luận trên tờ báo của Đảng (“Tiền Phong”), của quân đội (“Quân Giải Phóng”), của Mặt Trận (“Giải phóng”, “Cứu quốc”) được phát hành toàn miền. Đôi khi để thay đổi không khí, bút hiệu Trường Sơn trên báo còn được thêm vào hai chữ “Hạ sĩ” tức Hạ sĩ Trường Sơn cho nó có vẻ văn nghệ đôi chút.

Về trường hợp của 4 tướng Trần Lương, Trần văn Trà, Lê Trọng Tấn và Trần Độ, anh Sáu Vi cho biết thêm là cũng vì lý do chính trị và nguyên tắc cảnh giác Cách mạng, nên các đồng chí đó chưa thể vào Nam ngay được. Danh sách của các ủy viên trong Mặt Trận vẫn không thay đổi chỉ trừ ủy viên Quân sự, trước đây chỉ định Trần Công Khanh nhưng bây giờ, vào phút chót Bộ Chính Trị chỉ định Trần Lương thay vào đó dưới cái tên mới Trần Nam Trung. Vì vậy ngày mai, Trần Công Khanh sẽ thay mặt cho ủy viên quân sự Trần Nam Trung báo cáo về tình hình quân sự trước đại hội. Bởi nhu cầu hiện tại đòi hỏi, đồng chí Trần Công Khanh chỉ là đại tá, không thể đảm trách nổi công tác quân sự trước mắt.

Về chính sách Đảng đối với “Quân đội giải phóng quân Miền Nam”, Sáu Vi chỉ thị cho Trung Ương cục Miền Nam một cách rõ ràng, dứt khoát :

– Quân đội là sức mạnh của Đảng, là công cụ, là cánh tay mặt của Đảng để bảo vệ Đảng và thực hiện mọi chính sách của Đảng. Do đó, quân đội phải thuần nhất, phải trung thành tuyệt đối với Đảng. Đảng phải nắm quân đội. Đảng lãnh đạo một cách tuyệt đối và chuyên chính, không chấp nhận một tư tưởng nào khác ngoài tư tưởng Mác Lê. Từ trên xuống dưới, đảng ủy, cấp ủy của cấp lãnh đạo, phải triệt để thi hành, tuân theo chỉ thị của Đảng và hoàn toàn chịu trách nhiệm với Tổng quân ủy về đơn vị của maình.

Quân giải phóng là một bộ phận của quân đội nhân dân, thực hiện nhiệm vụ “giải phóng Miền Nam, bảo vệ miền Bắc”. Học tập và noi theo truyền thống của quân đội nhân dân miền Bắc, từ ngày thành lập “đội võ trang tuyên truyền giải phóng quân” vào thời kỳ chống Nhật, rồi “Vệ quốc đoàn” thời kỳ chống Pháp và “Quân đội nhân dân” trong nhiệm vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa ngày nay, quân giải phóng anh dũng chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng, chiến đấu cho giai cấp công nông, mà họ là những con em của giai cấp đó. Những lời tâm niệm này, bất cứ là du kích, là địa phương quân, cơ động hay chủ lực cũng phải thuộc nằm lòng là : – Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Quân đội là công vụ của Đảng, Đảng chuyên chính trong quân đội. Đảng thực hiện cuộc cách mạng đó.

Sáu Vi còn nhấn mạnh thêm :

– Chính sách trong Giải phóng quân là chính sách của Đảng, không có một chính sách nào khác, chỉ trừ về phía Mặt Trận thì ta mới có chính sách đãi ngộ mà thôi…

Hình ảnh của nữ tài tử Phi Nga trong phim tuồng “Chung Một Dòng Sông” mờ dần, rồi mất hẳn trên khung vải trắng thì đèn bật sáng. Đêm văn nghệ chấm dứt. Tất cả đều đứng dậy, tiếng cười nói, tiếng bàn ghế đụng chạm tạo thành một âm thanh đặc biệt như tất cả những buổi tan hát của những rạp cải lương ở đất “Sè gòng”. Trong cái âm thanh hỗn độn ấy, bỗng nổi bật lên một giọng nói qua micro :

– Xin báo cáo với qúy vị đại biểu, sau buổi trình diễn văn nghệ, Ban Tổ chức xin mời quí vị về nhà dùng chè giải lao. Và xin mời tất cả các đồng chí trong đoàn văn công, đoàn điện ảnh và các đồng chí trong Ban Tổ chức đến nhà ăn.

Thọ cũng ra về như bao nhiêu người khác. Trên đường đi, Thọ không nói một câu nào. Gian nhà Thọ ở có bốn người : Thọ, Phát, Kiếm và Cung. Nhưng Phát thì còn bận ở hội trường lo việc tổ chức tiếp tân, còn Kiếm thì mất biệt không thấy tăm dạng từ sau buổi cơm chiều. Thọ không biết Kiếm đã đi đâu. Như vậy, chỉ còn có Thọ và Cung và hai anh bảo vệ kiêm cần vụ đang chạy tới chạy lui, kẻ lo bưng chè, bưng nước, người lo giăng mùng cho Thọ, Cung, Kiếm, Phát.

Giữa lúc ấy, có bác sĩ Mười Năng xách đèn pin tới. Trên tay cầm một ống thuốc Paludrine. Mười Năng nguyên là sinh viên năm thứ ba trường thuốc Hà-nội năm 1945, gia nhập Đảng Cộng Sản Đông Dương từ dạo ấy và trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp là chính ủy Trung đoàn với tên là Vũ Cương. Năm 1952, Vũ Cương được đi ra Bắc và học lớp Bác sĩ công nông đầu tiên của Cục Quân Y mở do Bác sĩ Nguyễn văn Càn, làm Cục trưởng, thực tập và phục vụ trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Do đó, những bác sĩ được đào tạo khóa đầu tiên ở rừng núi khu 4 còn gọi là “bác sĩ Điện Biên”. Sau Điện Biên Phủ, Vũ Cương được cử về làm quân y viện trưởng Thanh Hóa, tham gia Ủy Ban Liên Hợp cạnh Ủy Hội Quốc Tế. Nhờ vào nhiệm vụ cạnh Ủy Hội Quốc Tế, trong đoàn kiểm tra mồ mả năm 1955, Vũ Cương được chỉ thị bí mật ở lại Miền Nam 1957 trong một con rạch nhỏ của tỉnh Bạc Liêu đầy muối, đầy đồng cá và cũng đầy rừng. Từ đó Vũ Cương trôi nổi nhiều phen mới về được đến chiến khu D để đảm nhiệm trách vụ điều khiển Quân, Dân y Miền Nam, với cái tên mới là bác sĩ Mười Năng.

Mười Năng cười toét miệng, chìa ra mấy chiếc răng vàng óng ánh. Đôi mắt lươn đã ti hí lại càng ti hí thêm :

– Hai anh có mệt lắm không ?

Thọ và Cung cùng cười lại, bắt tay, mời Mười Năng ngồi. Cung trả lời :

– Thường thôi.

Mười Năng để ống thuốc trên bàn.

– Tôi đem đến cho mấy anh ống thuốc Paludrine. Mấy hôm nay, mấy anh uống thuốc phòng đều chứ ?

Thọ cười :

– Tôi thì cứ quên mãi. Nhưng khá cái là cả tháng nay tôi chưa bị sốt rét hay khó chịu một lần nào !

Ở chiến khu, ngay cả miền Bắc, vấn đề uống thuốc phòng sốt rét cho cán bộ, chiến sĩ trở thành một nguyên tắc bắt buộc, là kỷ luật trong quân đội theo điều lịnh quân y. Y tá đơn vị, cứu thương hay chiến sĩ vệ sinh có nhiệm vụ cho toàn thể đơn vị mình uống thuốc phòng, bảo đảm thuốc vào tận dạ dày.

Vấn đề uống thuốc phòng sốt rét xuất phát từ quan điểm khoa học. Á châu là miền nhiệt đới, nhiều rừng núi sình lầy, sinh ra không biết bao nhiêu là muỗi Anophèle – mà muỗi Anophèle là con vật hút máu người, truyền vào cơ thể người vi trùng bệnh sốt rét Falciparum, Vivax, hay Malariae. Trong lịch sử y học thế giới đã chứng minh cho ta biết rằng bệnh sốt rét là một bệnh vô cùng nguy hiểm, nguy hiểm hơn bất cứ một bệnh truyền nhiễm nào khác. Hậu bán thế kỷ 19 và tiền bán thế kỷ 20, hai cơn dịch sốt rét khủng khiếp nhất thế giới chẳng từng giết chết hơn 4 triệu dân Ấn-độ và hơn một triệu dân Tàu hay sao ? Ấy là chưa kể đến hậu quả của việc làm suy nhược nòi giống, giảm sút mức sản xuất, hạn chế sức chiến đấu.

Toàn thể quân đội nhân dân miền Bắc, đặt vào chế độ uống thuốc phòng. Mỗi tuần, mỗi người phải uống 0g.60 thuốc sốt rét hóa hợp như Paludrine hay Nivaquine, chia làm 2 lần, mỗi lần 3 viên 0g.10 vào sáng thứ hai và sáng thứ năm, hoặc sáng thứ ba và sáng thứ bảy. Vào những buổi sáng đó, sau khi ăn điểm tâm xong, toàn đơn vị tập họp trước sân trại. Chiến sĩ vệ sinh của Tiểu đội, cứu thương của Trung đội hay y tá của đại đội đưa thuốc cho từng người rồi nghiêng “bình ton” (bidon nước) rót nước chín vào một cái ca đưa cho uống tại chỗ, trong quân hàng, trước mặt y tá. Người nào uống xong được đánh dấu thập vào sổ uống thuốc phòng.

Ở Miền Nam, vì là một bộ phận của miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chế độ uống thuốc phòng là chế độ chung. Rừng núi Miền Nam từ lâu rồi nổi tiếng là căn cứ địa của sốt rét. Trung Ương Đảng chỉ thị phải triệt để uống thuốc phòng tích cực chống sốt rét.

Với Phùng văn Cung, Cung là bác sĩ nên chấp nhận sự kiện này một cách dễ đàng với sự thán phục là khác. Còn Thọ là luật sư, trên lý thuyết khoa học thì đồng ý nhưng về tình cảm, về thực tế thì Paludrine đắng quá, uống vào còn làm nôn nao khó chịu, đầu óc lơ mơ nên từ ngày đầu bước chân đến địa đầu Khu A đã được nghe giải thích rồi nhưng uống thì… chỉ uống lần đó rồi thôi.

Hôm nay Mười Năng đem thuốc đến và thuyết trình thêm lần nữa về việc uống thuốc phòng sốt rét. Để cho Thọ nhận chân được sức mạnh của “kẻ thù sốt rét ở tại rừng núi”, Mười Năng nêu lên một vài sự kiện và vài con số:

– Ngày trước anh đã từng nghe những công nhân cao su ở mấy đồn điền en en sốt, người xanh xao vàng vọt, lớn bụng, trướng nước, da vàng rồi chết dần mòn sau đó. Cho nên người ta bảo rừng sâu ma thiêng nước độc, thực sự chỉ là sốt rét. Như từ Đồng Nai thượng về đây, anh đã đi ngang sông Mã Đà. Vùng Mã Đà được coi như là vùng dữ tợn nhứt. Anh em thường nói trại câu sấm Trạng Trình ra là : “Mã Đà sơn cước anh hùng tận “. Anh biết không, theo thống kê y học, tài liệu còn lưu trữ tại Viện nghiên cứu y học quân sự miền Bắc, thì suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, số anh em cán bộ chiến sĩ ở khu D bị sốt rét chết nhiều gần gấp đôi số chết ở chiến trường. Thời kỳ đó, gian khổ gấp mấy lần bây giờ, thuốc sốt rét thiếu đến nỗi năm sáu người bệnh chỉ kiếm được một viên quinacrine, phải quậy ra một ly nước chia nhau uống. Bây giờ, tuy đầy đủ thuốc men, nhưng chỉ tính riêng ở bệnh viện 320, bệnh viện duy nhất của “R” mỗi tháng cũng có ít nhất là ba đồng chí bị hy sinh vì sốt rét ác tính không cứu chữa được. Anh xem nè nhé, chúng tôi dùng liều điều trị rất cao, vượt quá liều tối đa là 2 gram quinine mỗi ngày, chúng tôi vừa cho uống, vừa tiêm, vừa pha trộn với Sérum truyền vào tỉnh mạch… Nào là quinine, nivaqưine, quinacrine, tổng cộng có đến 3 gram hoặc 3gr.50 (tính bằng quinine). Rồi nào Solucamphre ngày 4 ống, vitamine B1 0,500, vitamine C 0,500 tiêm 2 lần một ngày, truyền sérum glucose hay Subtosan, Périston từ 500 cc đến 700 cc vào tỉnh mạch, thế mà bệnh nhân vẫn sốt cao 40°, nằm mê man bất tỉnh. Đó là những trường hợp sốt nặng, accès pernicieux, anh em dịch ra là “sốt rét ác tính”. Nhất là những người chưa bị sốt rét, từ một môi trường khác đến sống tại môi trường này thì dễ bị sốt rét ác tính lắm đó. Như anh chẳng hạn. Vậy thuốc đây, anh nhớ uống thuốc phòng cho đều, tuần 2 lần, mỗi lần 3 viên 0,10. Uống thuốc phòng đều anh sẽ ít bị sốt rét, nếu có cũng trị nhanh. Xin anh nhớ cho.

Khi Mười Năng về thì đã 12 giờ hơn. Chè cháo nguội lạnh chưa kịp ăn. Kiếm lại về gọi Thọ :

– Anh Ba, anh đi lại đằng này một tí có chuyện hay lắm.

Thọ không trả lời, lẳng lặng đi theo Kiếm đến căn nhà cảnh vệ. Vào nhà, Thọ thấy đủ mặt Thường vụ Trung Ương cục và có một người mà Thọ chưa hề gặp mặt ngồi giữa. Kiếm giới thiệu :

– Xin giới thiệu với anh Ba đây là anh Sáu Vi, đại diện của Trung Ương, thay mặt Bác Hồ và chánh phủ từ miền Bắc đến thăm và chào mừng chúng ta nhân ngày đại hội thành lập Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam. Và đây là anh luật sư Nguyễn Hữu Thọ, chủ tịch ủy ban vận động đại hội.

Mắt Thọ sáng lên. Sáu Vi nhoẻn miệng cười đứng đậy, bắt tay Thọ một lúc lâu. Cả hai nhìn nhau. Cái nhìn của Sáu Vi là cái nhìn của kẻ cả, một người trên với kẻ thuộc hạ. Cái nhìn đánh giá, nhận xét tư tưởng, giá trị của Thọ qua khuôn mặt, dáng dấp và cử chỉ buổi ban đầu. Còn Thọ, cái nhìn của Thọ là cái nhìn của một con nai tơ ngơ ngác, đầy ngây thơ và mặc cảm. Thọ nhìn cái gương mặt to, xương xương, cằm hơi bạnh, má nhăn, da ngâm đen, đặc biệt là đôi mắt lá răm, lầm lì đứng sửng dưới đôi hàng lông mày rậm và dài. Không biết Thọ đã nghĩ gì, nghĩ ra sao về Sáu Vi lúc đó, nhưng điều chắc chắn là Thọ muốn biết người đại điện cho Bác và Đảng, đại diện cho bộ máy cai trị miền Bắc uy nghiêm đến mức độ nào, con người có phù hợp thích đáng với sự quan trọng đặc biệt như đã giới thiệu hay không ?

– Mời anh ngồi ! Sáu Vi nói.

“Hai chủ tịch xe ngựa” nghiêng bình tích rót đầy chung trà bốc khói, thoảng một mùi hương đậm :

– Mời anh uống nước, anh Ba ! Đây là chè “Ba Đình” hương vị đặc biệt của miền Bắc mà anh Sáu mới mang vào biếu chúng mình đó.

Sáu Vi chìa ra trước mặt Thọ một điếu thuốc ló ra khỏi bao, sợi chỉ vàng óng ánh dưới ánh đèn đêm :

– Mời anh xơi thuốc ! Thuốc Thăng Long loại một của nền kinh tế Xã hội chủ nghĩa miền Bắc !

Thọ rút thuốc châm vào ngọn đèn và tợp một ngụm trà, chép miệng, khen ngon.

Tuy Thọ không quen, không có được cái kiểu thăm hỏi như : “Bác của chúng ta có khỏe lắm không ? Có hồng hào hơn trước ? Các đồng chí Trung Uơng đầy đủ sức khỏe để lãnh đạo Đảng và xây dựng Xã hội chủ nghĩa thêm vững mạnh, v.v…”

Nhưng Thọ cũng hỏi thăm đến nếp sinh hoạt và đời sống của nhân dân miền Bắc, hỏi thăm sức khỏe của Hồ chủ tịch và những người bạn đồng tù ngày trước : Phạm Huy Thông, Nguyễn văn Dưỡng bây giờ sinh sống ra sao ?

Qua vài câu chuyện, Sáu Vi đứng dậy đi mở trong ba lô lấy ra một hộp to, dẹp và dài được quấn nhiều lớp nylon cẩn thận. Sáu Vi tháo mấy lớp nylon, lộ ra một cái hộp bằng gỗ, bọc lụa hoa màu vàng ong ánh, mở nắp đưa hai tay cho Thọ :

– Thưa anh, đây là thư và tặng vật của Hồ chủ tịch mà tôi được lệnh thay mặt người trao cho anh. Hồ chủ tịch và Trung Uơng Đảng gửi đến anh và Đại hội lời chào đại thắng lợi và lời thăm hỏi sức khỏe nồng nàn nhất, thân thiết nhất.

Đôi mắt Thọ đã long lanh càng long lanh hơn, mở lớn. Tay Thọ run run đưa ra đỡ lấy hộp. Mặt Thọ biểu hiện một sự xúc động tột cùng. Có lẽ đó là lần thứ nhất trong đời Thọ có sự xúc động mãnh liệt. Thọ không hề biết trước, không hề nghĩ đến cái sự kiện mà Thọ cho là vinh hạnh nhất đời, một vinh hạnh to lớn bất ngờ, chưa bao giờ dám nghĩ. Giọng Thọ lạc đi :

– Thưa anh ! Thật là một vinh hạnh vô cùng to lớn, hết sức bất ngờ trong đời tôi mà tôi chưa bao giờ dám mơ ước. Tôi hết sức cảm động và sung sướng được Hồ chủ tịch, Chính phủ và Trung Ương Đảng nghĩ đến, chăm sóc một cách đặc biệt như thế này. Đây là lần thứ nhứt trong đời tôi… Anh cho tôi kính gởi đến Hồ chủ tịch kính mến, Chính phủ và Trung Ương Đảng lòng tri ân, lời chào thăm hỏi sức khỏe nồng nhiệt, kính yêu và tha thiết nhất của riêng tôi.

Bấy giờ Thọ mới kịp nhìn xuống. Hai cái hộp, một nhỏ, một lớn bằng sơn mài màu đen và một phong bì lớn, dài, màu vàng kim tuyến nhạt có những hình nổi màu trắng hiện lên, nằm gọn giữa nền nhung đỏ thẫm đập vào mắt. Góc bên trái của phong bì có in tiêu đề :

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Chủ Tịch Phủ

Phía dưới đóng một dấu son, 2 chữ ” Chủ Tịch” rất to nằm dưới quốc huy. Ở giữa phong bì, chếch về bên mặt mấy hàng chữ viết tay nét lớn.

“Kính gửi :

Ông Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và toàn thể đại biểu Đại hội Thành lập Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam”.

Trên nắp hộp sơn mài nhỏ, giữa có khắc một hàng chữ trắng:

“Kính tặng luật sư Nguyễn Hữu Thọ
H.C.M. “

và nắp hộp lớn :

“Kính tặng Đại hội thành lập M.T.D.T.G.P.M.N. “.

Trong cái không khí yên lặng im phăng phắc, Thọ lên tiếng :

– Xin phép mấy anh mở hai hộp sơn mài còn bức thư xin để đến ngày mai trình trước đại hội.

Nắp hộp nhỏ bật lên. Đó là một cặp bút máy màu đỏ có khắc chữ bằng vàng óng ánh. Sáu Vi lên tiếng giải thích :

– Đây là cặp bút máy “Hồng Hà” loại đặc biệt do nhà máy sản xuất bút và văn phòng phẩm “Hồng Hà” chế tạo.

Nắp hộp lớn cũng được bật lên. Trong lòng hộp chứa một lá cờ đỏ sao vàng thêu kim tuyến hàng chữ “kính tặng đại hội thành lập Mặt Trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam ” và một bức lụa dệt ảnh của chủ tịch Hồ chí Minh nền xám, nét ảnh màu tím than. Thọ và Sáu Vi phải đứng đậy, lúi húi căng ra với sự trợ lực của Kiếm và ” Hai chủ tịch xe ngựa”.

Sáu Vi giải thích tiếp :

– Quốc kỳ và ảnh của Hồ chủ tịch không phải cắt vải may ra hay vẽ hoặc thêu mà là dệt bằng tay. Tất cả đều làm bằng tơ tằm Hà Đông trộn kim tuyến. Sản phẩm này cũng là sản phẩm đặc biệt của nhà máy dệt “8 tháng 3 “, nhà máy dệt đặc biệt dưới sự chỉ đạo của Hội Phụ Nữ Việt Nam. Xây dựng được nhà máy này không phải do chính phủ hay Hội Phụ Nữ bỏ vốn mà do tiền của anh em bộ đội mỗi người góp 1 đồng và tiền của chị em phụ nữ công nhân. Tiền đó mua máy, dụng cụ, còn xây cất công trường nhà máy hoàn toàn do anh em bộ đội đến giúp công, không phải thuê ai. 8 tháng 3 là ngày ‘Phụ Nữ Dân Chủ Thế Giới “.

Sáu, bảy cái đầu châu lại. Mỗi người một tí, ngắm nghía và khen tưng bừng.

– Đẹp quá !
– Ừ ! Đẹp !
– Giống, không chê được!
– Phục quá !
v.v… và v.v…

Qua chuyện thăm hỏi, tặng quà, Sáu Vi ngồi nói chuyện với Thọ đến 3 giờ sáng. Chuyện miền Bắc, chuyện Miền Nam, chuyện thế giới và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc. Thọ chăm chú ngồi nghe như một cậu học trò chăm chỉ nghe thầy giáo giảng bài. Tuy chưa biết Sáu Vi là nhân vật thế nào, vai vế ra sao ở miền Bắc nhưng qua lối nói chuyện, lập luận và nhận xét về Miền Nam, về tình hình chung, Thọ phục lắm. Vi biết về Miền Nam còn nhiều hơn Thọ những sự kiện mà Thọ chưa hề biết. Tay tổ chính trị có khác. Cái tên Sáu Vi sao lạ hoắc, Thọ chưa nghe nói đến bao giờ.

Nếu Thọ biết rằng Sáu Vi chỉ là một tên giả, một bí danh, còn thực sự người ngồi nói chuyện trước mặt mình là đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chính ủy toàn quân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư trong ban Bí thư Trung Uơng Đảng Lao động V.N. thì có lẽ Thọ sẽ hoảng lắm. Sự khâm phục có lẽ còn gia tăng gấp bội và cử chỉ của Thọ lúng túng gấp mấy lần.

Khi tiễn đưa Thọ ra sân “về ngủ để có sức mai làm việc ” Sáu Vi xác nhận lại lần nữa vai trò của mình :

– Trong hoàn cảnh hiện tại, có nhiều bất tiện về phương diện chính trị, tôi chỉ có thể gặp anh và một số đồng chí khác mà thôi. Cho nên việc thay mặt cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham dự Đại hội một cách công khai, đường hoàng điều đó không được. Phải giữ bí mật, tuyệt đối bí mật, vì sứ mạng của tôi cũng là một sứ mạng bí mật. Anh thông cảm cho và không tiết lộ với bất cứ một người nào khác. Chúc anh ngủ ngon và đại hội thành công mỹ mãn, đạt đến kết quả cao nhất.

Thọ và Kiếm lửng thửng ra về. Ánh đèn pin loang loáng theo mấy lối quanh.

—>Giờ phút hồi hộp
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s