Về “R” (Kim Nhật)- Phần II

2-CÁC KHU VỰC R

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946-1954, Việt Minh chia Nam bộ làm 3 khu : khu 7 khu 8 và khu 9. Miền Tây Nam bộ gồm những tỉnh ở bên kia sông Hậu giang (Bassac) là khu 9. Miền Trung Nam bộ gồm những tỉnh : Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Long Châu Sa (phần đất bên này sông Hậu của các tỉnh Long Xuyên, Châu Đốc và Sa Đéc). Mỹ Tho, Tân An là khu 8. Và những tỉnh còn lại của miền Đông Nam bộ là khu 7. Riêng thành phố Sàigòn Chợ Lớn Gia Định là đặc khu Sàigòn Chợ Lớn.

Ngày nay, dựa vào sự phân chia đó, Trung Ương Cục Miền Nam sửa đổi khu 7 thành I-1, khu 8 thành I-2, khu 9 thành I-3, thành phố Sàigòn Chợ Lớn và luôn tỉnh Gia Định I-4.

Và nếu ngày trước tất cả các cơ quan cấp Nam bộ, bộ phận đầu não của Nam bộ như Trung Ương Cục Miền Nam, Bộ Lư lệnh Nam bộ, Ủy ban kháng chiến hành chánh Nam bộ. v.v… lấy rừng U Minh thượng, U Minh hạ làm căn cứ (thuộc tỉnh Rạch Giá, Bạc Liêu) thì ngày nay Trung Ương Cục Miền Nam, Bộ chỉ huy các lực lượng Giải phóng Quân, Mặt trận DTGPMN chuyển về vùng rừng núi của miền Đông.

Do đó, căn cứ “R”, vùng đất thuộc quyền quản lý của “R” nằm trong phần đất của I-1, tức quân khu 1. Và căn cứ này được chia thành những khu vực nhỏ như : Khu A, Khu B, khu C, khu E và khu H. Những khu này là khu vực Hậu Cần “R”, được “R” trực tiếp quản lý để phục vụ cho “R” và như cầu chiến lược chung cho toàn miền.

Không hiểu lượm ở đâu ra cái danh từ “khu C” mà mỗi khi muốn nói đến vùng rừng núi Tây Ninh, biên giới Cam bốt , các nhà quân sự của vn hay Mỹ đều gán cho nó là ‘khu C”.

Điều đó không đúng. “Khu C” của VC không phải ở đó ! Đó là Khu B. Sự sai lầm đó có lẽ xuất xứ từ những năm đầu của cuộc chiến rồi trở thành thói quen cho những năm sau này dù đã biết rồi cũng không buồn sửa lại cho đúng với địa danh và sự phân vùng mà “R” đã quy đinh.

Nói đến miền Đông Nam bộ, từ mười mấy năm về trước đến giờ người ta nghe nói đến nhiều nhất là 2 chiến khu : chiến khu Dương Minh Châu và chiến khu D.

Lật bản đồ tỉnh Tây Ninh ra, ta thấy ngay chiến khu Dương Minh Châu là vùng rừng thưa, cây tạp và thấp khởi đầu từ xã Đôn Thuận quận Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh, dọc theo sông Sàigòn chạy lên Sóc Lào, Bà Nhả, Bến Củi rồi rẽ vào sông Bà Hảo (một nhánh sông của sông Sàigòn bên bờ hữu ngạn), lấy sông Bà Hảo làm ranh giới chạy ngược lên Trại Đền, Tha La, Cầu Cần Đăng (nằm trên đường lộ đá đỏ Sóc ông Trăng – Bồ Túc Katum – Cầu Cần Đăng, Trại Bí). Vùng rừng nằm phía hữu ngạn của sông Sàigòn từ Đôn Thuận chạy dài lên Bà Hảo, cho đến hữu ngạn của sông Tha La (tức ngọn sông Bà Hảo) đến Cần Đăng đó là khu Dương Minh Châu.

Còn khu D, chiến khu D là vùng rừng thấp lẫn rừng già ở phía tả ngạn sông Sàigòn, từ Bến Cát, Dầu Tiếng, Bến Súc, Tân Uyên Biên Hòa chạy tít về phía Tây vượt qua Phước Thành, Phước Bình, đến biên giới Miên. Mạn bắc là Đồng Nai thượng. Vùng rừng mênh mông hoang vu không một bóng người (ngoại trừ rải rác những buôn đồng bào thượng) đó là chiến khu D.

Trong cuộc chiến tranh ngày nay, Khu Dương Minh Châu vẫn còn giữ nguyên ranh giới cũ, thuộc quyền quản lý và xử dụng của tỉnh ủy và tỉnh đội Tây Ninh.

Chiến khu D thì bây giờ không còn nữa. Tên Khu D được xóa trong bản đồ quân sự của Cục Tham Mưu “R”. Thay vào đó được phân định thành những khu khác, trong phạm vi những tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Thành, Phước Long, Bình Dương, Biên Hòa, Bình Tuy Phước Tuy, như Khu A, Khu B, khu C, khu E, khu H. Những khu này gọi chung là “Khu vực Hậu Cần R”.

Khu A là khu đông bắc của chiến khu D cũ, được phân định trong khu vực Tân Uyên, Lộ 13 đến Phước Bình, sông Đồng Nai. Khu B còn gọi là khu Tây bắc, ranh giới phía Đông và phía Nam là sông Sàigòn và chiến khu Dương Minh Châu phía Tây, phía Bắc là sông Vàm Cỏ Tây và biên giới Miên – Việt.

Khu C là khu mà quân đội Mỹ-Việt mệnh danh là khu tam giác sắt. Khu vực ở giữa Dương Minh Châu, Khu A và Khu B, giới hạn bởi sông Sàigòn, Núi Cậu, Phước Thành, Quốc lộ 13, Bến Cát, An Điền, An Thành, Phú Hòa đông.

Khu E gồm Rừng sát (phía bắc sông Lòng Tảo), quốc lộ số 1 đến Định Quán, xuống thẳng Hàm Tân, Xuyên Mộc.

Khu H lấy sông Sàigòn làm ranh giới đến Miên, Phước Bình đi thẳng về hướng đông gặp sông Đồng Nai và biên giới.

Cho nên mỗi khi đọc báo thấy “quân đội Đồng Minh hành quân vào Khu C của VC ở Tây Ninh” ta phải hiểu đó là Khu B của “R” .

Như vậy thì “R” ở đâu ? “R” là các cơ quan đầu não, lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng, của Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang, bán vũ trang ở Miền Nam. Họ ở Khu B ! Theo một cách nói khác, đó là khu Tây Bắc. Nhưng chắc chắn tại khu rừng nào, tọa độ nào thì lại là vấn đề khác, chỉ có những cơ quan tình báo mới biết được, mới có thẩm quyền trả lời.

Trong những năm 1959 -1960 -1961, những ai thường mò mẫm chiếc Radio để tìm đài này, đài nọ, ít nhất cũng một lần bất chợt gặp một luồng sóng lạ, nói những câu nghe không ra làm sao cả. Ví dụ như :

– Chị Ba I-2, anh Bảy I-3 cho TB về “R” trước tháng 6. Đang có E mới. Cố gắng vượt khó khăn. Theo phương châm diện phản diện, hai mặt giáp công v.v…

Những câu nói mật mã này, chỉ người trong cuộc mới hiểu do đài phát thanh Giải Phóng truyền đi trong khoảng 9g đến 9g30 sáng. Dạo ấy, nhắn tin, truyền mệnh lệnh của “R” đối với các quân khu, các Tỉnh ủy thường dùng phương tiện này. Rồi, “cán bộ mùa Thu” càng ngày về càng đông, dụng cụ máy móc chuyên chở từ Hànội vào, tăng theo cấp số nhân sự để cung ứng cho nhu cầu hiện đại mới có thể đương đầu nổi với phương tiện tối tân của quân đội Việt – Mỹ xử dụng trong cưộc chiến tranh này.

Vào thời 1959, lúc chưa thành lập Mặt trận GPMN, “R” trơ trọi có Thường vụ Trung Ương Cục và một số cán bộ cốt cán tập kết trở về với nhiệm vụ xây dựng và củng cố cơ sở. Ngoài ra, lực lượng quân sự trực thuộc “R”, quân số chưa đầy 2 tiểu đoàn mà non phân nửa là đám tàn binh Bình Xuyên của Tư Thiên và Cao Đài ly khai của Thiếu tá Mừng. Vũ khí trang bị toàn súng trường Đông Dương, trường Đức, trường Mas của Pháp. Họa hoằn cả trung đội mới có được vài cây các-bin hoặc ga-răng M2. Về loại súng máy thì có mitulles, vài cây Thompson, trung liên Mas. Và một số khác là súng tự tạo. Đạn thì hiếm hoi mỗi cây vài chục viên, cũ mèm viên nổ viên không.

Kể ra họ cũng còn một số đạn, vũ khí được chôn giấu để lại sau ngày tập kết và số vũ khí lấy được chở 3 xe GMC ở trận đánh Tua Hai (Tour 2) trong những ngày cận Tết 1960 nhưng còn phải để dành để lập lực lượng mới, nên trang bị cũng không thay đổi được gì.

Trong quân số hiện có, ngoài đám Bình Xuyên và Cao Đài ly khai ra, hầu hết số còn lạị đều là cán bộ từ cấp tiểu đội trở lên, đa số là “mùa thu”. Đứng trước tình trạng đó, “R” chủ trương tăng số lính nòng cốt này, chia thành từng nhóm nhỏ, len lỏi bí mật về những xã, những xóm ven đường 13, 16, ven chiến khu Dương Minh Châu và các làng cao su, tuyên tuyền vận động, kiếm tân binh.

Rồi cuối năm 1960, MTGPMN được tuyên bố thành lập, rồi Sáu Vi vào Nam. Hà-nội bắt đầu tập trung hết mọi phương tiện, khả năng cho cuộc chiến tranh Miền Nam.

“R” bắt đầu nổi danh và vững mạnh từ dạo đó.

—> Ông tổ của đường dây “Ông Cụ”
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s