Về “R” (Kim Nhật)- Phần II

4-Khu A

Trong thời gian Quốc Đăng ra Bắc hơn hai năm, tình hình Miền Nam đã thay đổi hoàn toàn. Ngay cả nội bộ cũng có nhiều “tiến bộ ” vượt bực mà Đăng không ngờ đến.

Ngày đi, các cơ sở Đảng, cũng như tổ chức quần chúng toàn miền Mam gần như bị tan rã hoàn toàn, tê liệt không hoạt động gì được. Phần lớn bị công an, mật vụ của ông Diệm bắt bớ, giam cầm. Rồi những chiến dịch Hoàng Diệu, chiến dịch Nguyễn Huệ càn quét tan nát chẳng còn gì. Số cán bộ còn lại rút lui vào bí mật, ngưng hoạt động. Một số khác rời bỏ hàng ngũ trở về đời sống bình thường, hoặc chuyển vùng, “trốc công sự” để lánh thân. Chỉ có tổ chức Trung Ương Cục là không hề hấn gì, vì ở tận rừng sâu chiến khu D, lính Quốc Gia không thể nào đi tới nổi, nhất là không ngờ có sự kiện này.

Nhưng ngày về đến Suối Đá, Đăng gặp Ba Vinh, một Ủy viên của Đảng ủy Khu A, đi công tác lên vùng Bù Cháp nghiên cứu tình hình để phát triển cơ sở sản xuất tự túc. Tại đây, nghe Ba Vinh báo cáo là Văn phòng Trung Ương đã dời về Tây Bắc và thành lập Khu A từ hơn một năm nay. Đăng ngạc nhiên hết sức. Tình hình đồng khởi từ tháng Tư tại thí điểm Bến Tre, Mỹ Tho mang đến “thắng lợi vô cùng to lớn”, sau đó các tỉnh Miền Nam đều “nổi dậy” tái võ trang, xây dựng lực lượng như thế nào Ba Vinh đều nhất nhất kể lại cho Quốc Đăng nghe.

Chẳng những vậy, Ba Vinh còn bảo rằng Trung Ương Cục đã đề cử Đăng kiêm nhiệm bí thư Đảng ủy Khu A, trước khi Trung Ương Cục dời về Tây Bắc. Như vậy, Đăng là thủ trưởng trực tiếp của Vinh. Mới đây, Trung Ương Cục vừa đánh điện sang hỏi Đăng đã về đến chưa ? Nếu đến, điện ngay cho Trung Ương Cục biết và mời Đăng về họp Đại hội Đảng, sau khi hoàn thành Đại hội Thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam vào ngày 19 tháng 12 tới đây.

Từ kinh ngạc này sang ngạc nhiên khác, Quốc Đăng há hốc mồm nghe Ba Vinh báo cáo, quên cả nỗi mệt nhọc đường xa, quên cả ngủ, cả ăn. Có thể nói, Đăng vui mừng, phấn khởi tột độ. Trong giờ phút đó, Vinh thấy Đăng như trẻ thêm hàng chục tuổi.

Hết vấn đề này, Đăng bắt Vinh báo cáo sang vấn đề khác, không kịp để cho Vinh thở. Đến chừng hết chuyện để hỏi, thì Vinh hỏi lại Đăng sức khỏe thế nào, chuyến đi ra sao, miền Bắc, Đảng và các bạn bè tập kết, anh em v.v…? Chừng đó Đăng mới nhớ là còn cả một đại đội cán bộ mùa thu theo mình. Xem đồng hồ, mới hay đã mải mê nói chuyện suốt 10 tiếng đồng hồ liền. Bỏ cả buổi cơm chiều và đêm đã gần về sáng.

Đến chừng đó, trong lúc mọi người gần thức dậy, Đăng mới kéo Ba Vinh đi ăn cơm chiều.

Thay vì đi lên đồi Bù Cháp, Ba Vinh đưa Quốc Đăng về văn phòng ở ngọn suối Bà Hào. Riêng về đại đội cán bộ mùa Thu, Quốc Đăng ra lịnh cho đưa về đóng quân ở một đồi, gần rẫy khoai mì của Ba Quân, nghỉ ít hôm bồi dưỡng, chờ Quốc Đăng trở lại quyết định sau.

Như vậy, ai ai cũng được nghỉ ngơi, lấy sức đi tiếp quãng đường cuối cùng về Tây Bắc. Trong khi đó, Đăng đủ thì giờ tìm hiểu nắm vững tình hình để phối hợp với hiểu biết của mình cũng như những kinh nghiệm thu thập được trong những ngày ra miền Bắc, “chuẩn bị” với Thường vụ Trung Ương Cục.

Hơn hai năm xa Miền Nam, Quốc Đăng trở về tất cả đều thay đổi. Quy luật phát triển theo chiều hướng thuận, tiến bộ vượt bực không ngờ. Theo chỉ thị của Trung Ương và quyết định của Trung Ương Cục : gấp rút xây dựng căn cứ địa của Cách mạng. Nó là trung tâm điểm, nơi đào tạo và xuất phát lực lượng cán bộ chỉ huy, lãnh đạo cho các Quân Khu, các tỉnh. Mặt khác, căn cứ địa còn là khu vực giấu quân và thiết lập quy mô cơ sở hậu cần, cung ứng đầy đủ nhu cầu chiến trường trong nhiều năm liền và có thể chuyển từ hình thái chiến tranh đặc biệt sang chiến tranh cục bộ.

Do đó Khu A và Khu B thành hình. Sự phân chia, quy định ranh giới khu vực có tính tạm thời và lược định. Vì rằng hiện tình lúc ấy, thiếu cán bộ chỉ huy cũng như quân số cần thiết để kiểm soát và quản lý một cách chặt chẽ được. Trên lý thuyết, và dựa vào vị trí chiến lược, tất cả vùng rừng núi miền đông Nam bộ nằm trong mấy tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Phước Long, Phước Thành, Bình Long, Biên Hòa, Phước Tuy, Bình Tuy được xem là khu vực hậu cứ của các cơ quan cao cấp nhất – lãnh đạo về quân sự cũng như chiính trị – mà sau nầy là bộ chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang, bán vũ trang giải phóng và Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền Nam.

Thực ra, Trung Ương Cục Miền Nam chưa ý thức được cũng như chưa hề nghĩ đến việc quản lý một vùng quá ư rộng lớn ngoài sức tưởng tượng, ngoài tầm tay của mình, trong khi thực lực cách mạng chỉ vỏn vẹn không hơn một đại đội đang trú đóng tại chiến khu D. Nhưng Trung Ương Đảng và Bộ Chính trị đã chỉ thị, đã nghị quyết thì Trung Ương Cục Miền Nam phải chấp hành tuyệt đối.

Mặt khác, qua những công điện, qua những tài liệu chiến lược, nhất là những kế hoạch cụ thể của miền Bắc gửi vào theo con đường từ Hà-nội đến Phái đoàn thương mại của Ca văn Thịnh đóng thường trực tại Nam Vang. Rồi từ trụ sở Phái đoàn Thương mại đó vượt qua biên giới Miên – Việt đến tận tay Thường vụ Trung Ương Cục Miền Nam.

Điều đó, không có gì khó hiểu. Các ủy viên trong Ban chấp hành Trung Ương Cục Miền Nam dù sao cũng chỉ là những người xuất thân từ nông dân, công nhân hoặc tiểu tư sản nông thôn hay thành thị, căn bản về văn hoá rất kém. Đa số chưa thoát qua bậc Trung học thời Pháp. Ho chỉ được học tập, trau giồi về lý luận Đảng, học tập chính trị và kinh nghiệm bản thân trong thời kỳ kháng chiến 9 năm chống Pháp. Họ chưa được học qua hay huấn luyện ở một lớp điều khiển bộ máy nhà nước nào, một lớp chính quy nào, nhất là những hiểu biết về chuyên môn thì vấn đề tổ chức và quản lý hậu cần trong thời đại khoa học hiện đại họ làm sao hiểu được, biết được, có kinh nghiệm được!

Huống hồ theo sách lược cách mạng, đường lối Đảng áp dụng chiến tranh nhân dân trong chiến trường du kích tập trung qui mô, qua kinh nghiệm 9 năm kháng Pháp ở Miền Nam bây giờ có thay đổi khác. Họ chỉ hiểu, chỉ biết sự khác biệt đó qua giấy tờ, qua lý luận Đảng, còn kinh nghiệm thực tế thì chưa. Cuộc chiến tranh ở Miền Nam Việt Nam sẽ là cuộc chiến tranh dưới hình thái đặc biệt, không phải cuộc chiến cục bộ :

“Nó có thể từ chiến tranh đặc biệt chuyển sang chiến tranh cục bộ như cuộc chiến tranh ở Triều Tiên (1950-1952). Nhưng vì thiếu lý do, căn cứ vào những điều kiện khách quan cũng như chủ quan về địa lý, về chính trị, đế quốc Mỹ xâm lược, thôn tính Miền Nam VN phải dưới hình thái đặc biệt, không dám tiến hành chiến tranh cục bộ… ?. “

Lý luận đó chưa nói lên được thực tiễn chiến tranh, chiến lược quân sự, chiến thuật tác chiến như thế nào thì khó mà hoạch định được những kế hoạch thích hợp. Chỉ có Trung Ương Đảng ở miền Bắc, Bộ Chính trị Đảng, với những tướng lãnh cao cấp từng học qua những trường cao cấp về chuyên môn, về quân sự, học tập kinh nghiệm chiến tranh ở Liên Xô, Đông Đức, Trung quốc v.v… và có kinh nghiệm lãnh đạo bộ máy nhà nước mới nhận định thấu triệt đường hướng cách mạng trong tương lai. Trung Ương cục Miền Nam chấp hành nghị quyết, chấp hành chỉ thị một cách triệt để là phải.

Vấn đề cán bộ điều khiển, Trung Ương sẽ cung cấp đầy đủ. Ngay cả phương tiện tài lực, vật lực, dụng cụ, vũ khí, miền Bắc và 12 nước Xã hội chủ nghĩa cung cấp, nhất là “Trung quốc vĩ đại” thì Trung Ương cục Miền Nam còn phải lo gì ?

Nhưng ngày Quốc Đăng từ Hà-nội về đến Khu A coi như trên danh nghĩa, Khu A đã có rồi, nhưng xét về kết quả công tác thì chẳng khác ngày thành lập là mấy. Nếu đổ thừa tại không có Thủ trưởng, tức “ông Năm Quốc Đăng” ở nhà, điều đó không đúng. Điều đáng nói là nên xem toàn Khu A lúc ấy quân số được mấy ngoe, để quản lý và tổ chức suốt cả một vùng mênh mông ?

Lúc đầu, nghe Thường vụ Trung Ương Cục đã dời sang Tây Bắc, gần biên giới Miên- Việt, Quốc Đăng định nghỉ lại ở Khu A vài hôm rồi cùng đoàn cán bộ mùa Thu về Khu B luôn, để báo cáo và hội ý giải quyết các vấn đề công tác, kể cả công tác ở Khu A. Điều trước mắt, giải quyết vấn đề phân phối và xử dụng đoàn số 1. Nhưng khi về, văn phòng Đảng ủy Khu A, được Ba Vinh báo cáo lại tình tình công tác của đảng ủy, Quốc Đăng quyết định ở lại lo củng cố tổ chức, đặt kế hoạch phát triển cho Khu A. Ngày họp đại hội thành lập Mặt Trận vào 19-12, nếu bây giờ theo đoàn cán bộ đi Khu B thì phải ở lại luôn, dự hai cuộc đại hội đó. Đi cũng dở, ở lại cũng không yên. Đường đi đâu phải một, hai ngày đến được, ít nhất cũng phải 10 hôm. Còn qua lộ, qua sông, qua nhiều ấp chiến lược, khu dinh điền nguy hiểm lắm, chết chóc như chơi.

Thôi thì, gần đến đại hội đi luôn thể!

Về đoàn cán bộ, Quốc Đăng quyết định giữ lại cho Khu A, chờ thảo luận lại với Thường vụ Trung Ương Cục phân phối sau cũng không muộn. Nay mai, đoàn số 2, số 3 v.v.. liên tiếp về mãi, tha hồ Trung Ương Cục xử dụng. Còn hơn bây giờ trước mắt, Khu A đang thiếu cán bộ, thiếu lính trầm trọng. Xử dụng được lực lượng này, đỡ khổ cho Khu A biết mấy.

Đành nơi nào cũng là cách mạng, địa phương nào, đơn vị nào cũng là cơ sở và tổ chức của Đảng nhưng địa phương mình, đơn vị mình ai ai cũng muốn nó nổi tiếng, muốn nó đạt nhiều thành tích hơn mọi địa phương, đơn vị khác. Nghĩ vậy nên Quốc Đăng cho đánh điện ngay về Trung Ương Cục thông báo tin mình đã về đến Khu A. Mặt khác, viết một báo cáo dài, đầy đủ mọi chi tiết cho người mang về Trung Ương Cục .

Bắt đầu vào việc xây dựng Khu A, Quốc Đăng đem áp dụng những điều học tập được về tổ chức và chỉ huy ở miền Bắc. Trước tiên là các bộ phận điều hành, cần thiết phải có cho bất kỳ một đơn vị nào: Văn Phòng, Ban Chính Trị, Ban Tài Vụ, Ban Tham Mưu, Ban Tiếp Liệu, Ban Quân Y, Ban Quân Khí v.v… Riêng về các khu vực hậu cần, cơ quan hậu cần không phải chiến đấu, họ để phục vụ cho những đơn vị chiến đấu. Dù vậy, nguyên tắc tổ chức vẫn là nguyên tắc chung… Họ áp dụng vào việc sắp xếp đơn vị họ và thêm bớt những bộ phận chuyên môn. Như Khu A là một khu vực hậu cần, có nhiệm vụ cung cấp cho các đơn vị chiến đấu, công tác có tính cách giai đoạn và dự trữ. Để chuẩn bị cung cấp đầy đủ cho một chiến trường du kích, gian khổ thì dự trữ có nghĩa là sản xuất và thu mua.

Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn, chưa kiểm soát được nhân dân, chưa được nhân dân cung cấp lấy, nuôi quân, cung cấp thực phẩm là cái gánh nặng nhất cho bất kỳ tổ chức hậu cần nào trên thế giới này. Ở Khu A cũng vậy. Giữa rừng sâu của đông bắc khu D cũ, bên kia bờ sông Bé, Sông Mã Đà, chỉ toàn rừng là rừng, cây cao, bóng cả, đồi đá gập ghềnh, xa nhân đân, xa đồng bằng, xa thành thị lấy gì dự trữ ? Gạo đâu ? Muối đâu? Thức ăn đâu ? Ấy là chưa kể đến dụng cụ, vật liệu hết sức tầm thường như con dao, cái rựa, cái búa, cái xẻng đào đất mà đời sống ở rừng hết sức cần thiết.

Công tác sản xuất để tự túc cho chính bản thân cũng đã vất vả, khó khăn, nói gì đến việc cung cấp cho nhiều người khác. Trước khi lên đường trở về Nam, trong một buổi nói chuyện với Trần văn Trà tại Ủy ban Miền Nam, Trần văn Trà nói với Quốc Đăng về kế hoach của Ủy ban trong những ngày sắp tới :

– Miền Nam là tuyến đầu của Tổ quốc, miền Bắc phải là một hậu phương vững mạnh, làm tròn bất kỳ một công tác khó khăn nào để hỗ trợ cho Miền Nam. Về lực lượng dự trữ, lực lượng cán bộ, anh không phải lo, chỉ sợ rằng không đủ gạo cho họ ăn tại các trạm tiếp đón trong khi chờ đợi phân công nhiệm vụ mới đó thôi. Rồi những đoàn quân nghĩa vụ, những đơn vị thực binh đang ráo riết huấn luyện như anh đã thấy. Tất cả dành cho Miền Nam.

Đối với Khu A, ngoài các Ban trên thêm Ban Sản Xuất. Ban Sản Xuất là một ban quan trọng: thực hiện công tác trọng tâm của đơn vị hậu cần này.

Đó là tất cả những điều làm Quốc Đăng quan tâm đặc biệt đến nỗi phải dời lại ngày đi về Trung Ương Cục và giữ đoàn cán bộ mùa thu số 1. Quốc Đăng cho tổ chức buổi liên hoan và sau đó cho họp Đoàn báo cáo tình hình, nhiệm vụ trước mắt, loan báo quyết định tạm thời của Trung Ương Cục mà Quốc Đăng là một ủy viên , đặc trách Khu A. Trong buổi họp, Quốc Đăng đả thông trước những tư tưởng sai lầm như công thần chủ nghĩa, ngại khó, ngại khổ trong chiến trường sắp tới và những nguyên tắc máy móc, giáo điều không hợp thời, hợp cảnh có thể xảy ra ở Miền Nam.

Theo báo cáo của đồng chí trưởng đoàn thì hầu hết anh em nôn nao đòi đi chiến đấu, đòi trực tiếp cầm súng cầm súng chiến đấu, không thích làm công tác một chỗ ở cơ quan nhất là công tác hậu cần ở giữa rừng sâu Khu A này.

Ao ước của hầu hết cán bộ là được gặp lại đồng bào, sống với đồng bào ở đồng bằng để bù lại những năm dài xa cách quê hương. Quốc Đăng phải chỉnh các tư tưởng sai lầm này mất gần nửa tiếng đồng hồ, phải động viên hy sinh, động viên đến vai trò nhiệm vụ người Đảng viện, phản ứng đó mới xẹp xuống.

Quốc Đăng chỉ thị cho Ban Chỉ huy Đoàn làm bảng danh sách, lý lịch cá nhân của từng người, nghề nghiệp chuyên môn cũng như tìm hiểu nguyện vọng của họ để Đảng ủy nghiên cứu và phân công tác. Trong khi đó, Quốc Đăng cho họp Đảng ủy để thảo luận đề án công tác, chỉnh đốn tổ chức.

Ban Tham Mưu sẽ được gọi là B1, Ban Chính Trị gọi là B2, Ban Sản Xuất gọi là B3, Ban Tài Vụ gọi là B4, Ban Quân Y gọi là B5, Ban Tiếp Liệu gọi là B6. Gọi tắt như thế nó vừa gọn, vừa giữ được bí mật, kẻ địch nhất thời khó có thể hiểu được. Nhiệm vụ của:

– B1 là công tác tham mưu, nghiên cứu điều hành về quân lực, vũ khí, lo về công tác bảo vệ an ninh, chiến đấu khi cần;

– B2 giữ nhiệm vụ quản lý cán bộ chiến sĩ, nghiên cứu lý lịch đề bạt khen thưởng, công tác chính trị nội bộ, giáo dục tư tưởng và công tác Đảng.

– B3 làm nhiệm vụ nghiên cứu kế hoạch và điều hành các công tác sản xuất tự túc như phá rừng, làm rẫy, trồng lúa, trồng khoai mì, trồng bắp, tổ chức chăn nuôi, đánh cáv.v…

– B4 có bổn phận cung cấp và thanh toán chi thu tài chánh với các đơn vị trực thuộc.

– B5 làm công tác quân y, tổ chức hệ thống bệnh viện, bệnh xá, dược phẩm để điều trị cho cán bộ chiến sĩ cán bộ của đơn vị, và cung cấp dược phẩm, dụng cụ cho bất kỳ đơn vị chiến đấu nào của “R” khi đến địa phận này.

– B6 phụ trách mua thực phẩm, vật liệu ở vùng địch, tổ chức hệ thống vận tải, lập các kho dự trữ và sau cùng là cấp phiếu mua thực phẩm, phiếu gạo, phiếu muối cho các đơn vị đến lãnh hoặc mua ở khu gần nhất.

Trên giấy tờ, trên hình thức tổ chức thì như thế, nhưng chưa có đủ lính thì làm thế nào ? Cán bộ không thiếu vì vừa có cả hơn một đại đội cán bộ mùa Thu, còn lính mới thực là cả một vấn đề.

Đánh điện xin Trung Ương Cục, Cục bảo Cục cũng đang thiếu, đang chờ các Tỉnh ủy gửi tân binh lên. Thôi, Khu A nên tự lực vậy.

Trước tình thế không thể nào khác hơn được, tạm thời dẹp các công tác, tập trung cán bộ nhân viên tung xuống các địa phuơng quanh Khu A để “mộ lính” , vận động thanh niên tòng quân. Từng toán, từng tiểu đội được gởi đến Đất Cuốc, Nước Trong, Phước Sang rồi lần sang Phú Giáo, Bố Lá, Bình Mỹ, yếu lộ 16 và mấy làng Cao su ở Dầu Tiếng, Thanh An, Thanh Tuyền, Đường Long thuộc ven chiến khu D.

Số cán bộ còn lại, Quốc Đăng cho lập những cơ sở thu mua, tiếp nhận thực phẩm chuyển về để kịp phục vụ cho đường dây. Và Quốc Đăng chỉ định Ba Vinh làm Tham Mưu trưởng Khu A, tức thủ trưởng B1, đi nghiên cứu con đường 16 để khai thác con đường này. Đường 16 là con đường Bến Cát đi Phước Thành, Phước Bình.

Việc vận động thanh niên tòng quân đưa về Khu A, tuy có nguy hiểm nhưng cũng không phải là một việc khó khăn. Mỗi toán, khi đến địa phương, liên lạc với chi bộ ở đó, chi bộ sẽ thu xếp vấn đề ăn ở và giới thiệu với những quần chúng tốt. Rồi theo chiến thuật rỉ tai, tuyên truyền từng người, khích động lòng yêu nước, khơi sâu mối thù giai cấp giữa công nông và các giai bên trên, giữa người nghèo và người giàu : Chỉ có làm cách mạng, thoát ly gia đình chống lại Mỹ-Diệm thì mới có một đời sống vinh quang. Tuyên truyền đươc một người, chờ người này rủ thêm những người bạn khác của họ.

Nam hay Nữ, già hay trẻ, bé hay lớn đều được cả, nhưng đối tượng chính phải là nam nữ thanh niên.

Nhờ nhiều điều kiện thuận lợi như tình cảm của nhân dân đối với cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, mỗi người ít nhiều đều có những bất mãn đối với xã hội, đối với người khác và chính quyền địa phương, nhất là ảnh hưởng vang dội của trận đánh Tua Hai (Tour II) ở Tây Ninh và phong trào đồng khởi nên các toán tuyển mộ thu được nhiều kết quả tốt. Số tân binh càng ngày càng nhiều, hết tốp này sang tốp khác được đưa về Khu A.

Về vấn đề xây dựng cơ sở tiếp liệu, vì vận chuyển khó khăn, nhất là muốn đưa hàng về căn cứ phải qua lộ, qua sông, qua nhiều vùng đồn bót, ấp chiến lược nên tổ thu mua hoạt động không kết quả mấy, chỉ quanh quẩn mua lại của những quán bán lẻ ở vừng Đất Cuốc, Nước Trong, phía bên kia bờ sông Bé. Tình hình này, phải mấy năm sau mới cải thiện được.

Vấn đề khai thác con đường 16 là việc kiểm soát, đánh thuế các loại xe tư nhân như : xe đò, xe du lịch, xe hàng vận tải chạy trên con đường này, Phước Thành về Bình Dương Saigon, hay ngược lại. Những loại thuế đánh vào xe cộ tuy có thu vào ngân quỹ một số tiền lớn, năm bảy trăm ngàn đồng mỗi năm, nhưng nếu so với loại thuế khai thác lâm sản và chiến lợi phẩm về kinh tế thì số thuế trên chả nhằm vào đâu.

Dù sao, đường 16 là một liên tỉnh lộ, lưu lượng xe cộ không bao nhiêu, việc mua bán thương mãi không phồn thịnh bằng những con đường khác. Ban Tham Mưu Khu A cũng biết vậy. Chỉ có khai thác lâm sản và những đoàn công voa vận tải hàng hóa, thực phẩm cho quân sự cả dân sự là những mối lợi kếch xù đáng tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Lý thuyết thì như vậy, nhưng thực tế còn có nhiều vấn đề rắc rối phức tạp và vô số khó khăn. Những vấn đề rắc rối, phức tạp thưộc phạm vi nội bộ như vấn đề chủ quyền khai thác và vấn đề quản lý vùng. Điều này này có nghĩa là lộ 16 đi ngang qua Khu A, nhưng nó cũng nằm trong địa phận tỉnh Bình Dương, tỉnh Phước Thành, Phước Bình thì Bình Dương có quyền khai thác rồi Phước Thành, Phước Bình cũng vậy. Nếu Đảng ủy Khu A đánh giá đúng mức tầm quan trọng của việc khai thác đường 16 thì các tỉnh ủy của Bình Dương, Phước Thành, Phước Bình họ còn thấy trước, biết rõ gấp mấy lần những gì xảy ra ở địa phương họ. Bất kỳ cơ sở đảng nào cũng đều có bộ phận kinh tài, chuyên nghiên cứu và khai thác bất kỳ mối lợi lớn hay nhỏ mà họ có thể khai thác được để làm giàu cho quỹ địa phương, đủ cung ứng cho mọi nhu cầu ở địa phương mình. Khi nào có thừa mới gửi lên trên.

Như vậy, chỉ có một con đường mà ba bốn nơi cùng muốn khai thác thì sao đây? Dĩ nhiên địa phương nào cũng muốn giành quyền khai thác về mình. Thuế thì chỉ có thể bắt người ta đóng một lần thôi, chứ đâu phải mạnh ai nấy thâu, vậy còn gì là chính sách và có gì vô lý bằng.

Vì nghĩ như vậy nên Ba Vinh đến văn phòng Khu ủy I-1, để liên hệ về vấn đề này. Khu ủy trả lời chưa biết rõ là Bình Dương, Phước Thành đã thỏa thuận với nhau chưa, nhưng theo quan điểm của I-1, vấn đề này thuộc quyền lợi của địa phương. Khu A chỉ là khu vực hậu cần ở vùng căn cứ, không dính dáng đến việc điều hành tổ chức hành chánh ở các tỉnh.

Khu ủy I-1 đem nguyên tắc ra trả lời, làm Ba Vinh đành phải ngửa cổ chịu phép, không cãi lý vào đâu được. Vấn đề thu thuế xe đò, xe vận tải trên đường 16 kể như không thành. Không sao! Việc khai thác lâm sản mới đáng kể hơn.

Ai cũng biết rằng, từ trước đến giờ, việc mở cúp cây rừng, khai thác gỗ súc là một nguồn lợi lớn. Mỗi năm thu hàng tỷ bạc. Mà ở Nam bộ chỉ có rừng Biên Hòa, Bình Dương, Phước Thành, Phước Long, Phước Bình tức là chiến khu D cũ là có nhiều gỗ súc. Rừng chiến khu D cung cấp số lượng gỗ súc tối đa. Nếu đánh thuế được khối lượng gỗ súc này, Đảng ủy Khu A mỗi năm thu vào hàng chục triệu như chơi.

Thoáng nghe qua ta thấy hơi vô lý, vì các nhà khai thác lâm sản, mở cúp cây rừng, đấu thầu, đóng thuế kiểm lâm, thuế sản xuất, thuế lợi tức đầy đủ cho nhà nước thì cứ việc thuê người hạ cây, cho xe be kéo về Sàigòn phân phối, tiêu thụ, có gì khó khăn đâu.

Thực sự, Quốc Gia đã đánh thuế, kiểm soát, cho phép nhưng các tay thầu khai thác cây rừng không thể đem về một cây nào dù là cây con chứ đừng nói đến gỗ súc. Muốn mở cúp, hạ cây, các nhà khai thác lâm sản còn phải đi xin phép, điều đình đóng thuế trước với “BÊN TRONG” nữa. Họ cho phép mới đốn cây, chuyên chở được. Không xin phép, không điều đình và vi phạm những điều lệ họ đã ra thì coi như xe be bị đốt, chủ xe bị mời đi hoặc bị bắn bỏ nếu cần !

Núi rừng bao la, hoang vu vắng vẻ dường như chưa hề có vết chân người. Nó gây cho ta cảm giác rờn rợn lạnh, lo sợ vu vơ mỗi khi bước vào rừng, chung quanh toàn một màu xanh mỏi mắt, tranh tối tranh sáng với tiếng gió rít trên cao, tiếng cành cây gẩy và tiếng kêu quái đản của những loài chim lạ như chim chuông, chim culi, chim “bóp em bóp” v.v…

Vậy mà, bất kỳ cúp cây rừng nào được cấp giấy khai thác, kể từ đầu năm 1959, trong những ngày đầu đi dọ cây, quan sát đường đất, những nhà khai thác lâm sản vừa dừng xe díp lại ở một nơi nào đó thì đã có người ghi số xe, để những lần sau trở lại với đoàn thợ rìu chuyên hạ cây là y như có người mang súng đến hỏi : “Ai cho phép mấy anh đến hạ cây ở đây ?” Và ” Ông chủ của mấy anh là ai ?”

Dĩ nhiên là những nhà khai thác chối dài :

– Thưa ông, tôi chỉ là người làm thuê, đại điện ông chủ tôi ở Sàigòn đưa thợ rừng đến cúp cây. Giấy phép của chúng tôi đây.

Đối diện với nhà khai thác lâm sản là một người đàn ông nước da trắng xanh, đầu đội cái nón vải, mặc một bộ đồ âu phục bằng vải đen, chân mang dép râu, lựu đạn và bao đạn cài quanh thắt lưng vải to bản, tay cầm súng tiểu liên. Đôi mắt người đàn ông đó lạnh lùng, nghiêm khắc, một thứ lạnh lùng khó mà mô tả được. Chỉ biết ánh mắt đó phớt qua chỗ nào là da thịt chỗ đó cảm thấy mọc óc, gai gai lạnh, lạnh dần đến sống lưng. Sau khi đưa giấy tờ cho người đàn ông đó đọc, nhà khai thác lâm sản nhìn quanh thấy thêm nhiều bóng đen khác, nhiều nòng súng khác thấp thoáng sau những gốc cây to, ngay cả bên kia đường. Người đàn ông mặc đồ đen nói :

– Mời anh theo tôi vào trong kia nói chuyện. Ở đây sát đường không tiện. Tạm thời, chúng tôi giữ hết giấy tờ này, sau khi nói chuyện với anh xong, chúng tôi sẽ trả lại và anh trở ra xe.

Dù muốn, dù không, trước họng súng không có cách nào khác hơn là vâng lời. Và khi vào trong rừng sâu cách đường chừng 200m, những nhà khai thác rừng được biết :

– Khu rừng này thuộc quyền quản lý của công đoàn giải phóng, bất kỳ ai muốn vào rừng phải có sự đồng ý và cho phép của Công đoàn.

– Muốn khai thác cây phải đóng một số tiền thuế do công đoàn quy định, thu một lần hoặc chia ra làm nhiều lần, dựa vào số cây được hạ.

– Giới hạn khai thác ở vùng này hay vùng khác, do Công đoàn quy định và theo những quy chế riêng, dựa vào nguyên tắc bảo vệ rừng.

– Những xe be nào không đóng thuế không được kéo cây.

– Phải báo tin cho Công đoàn biết mỗi khi có lính Quốc Gia đến cũng như mọi sự di chuyển, ý định hành quân ở khu vực này.

– Phải báo cáo với Công đoàn những “tên phản động” cố ý len lỏi vào dọ thám.

– Nếu ai vi phạm vào những quy định trên, tùy theo lỗi nặng nhẹ mà bị cảnh cáo, đưa đi giáo dục một thời gian, hoặc bị trừng phạt tịch thâu, phá hủy và không bảo đảm an ninh cho sinh mạng.

Đại khái, nét lớn được quy định của công đoàn là như vậy. Trong những năm đầu 1959-1960 có nhiều xe bị đốt, tài xế bị bắt và vài nhà khai thác lâm sản bị đe dọa vì những điều luật trên kia.

Có nhiều lần quân đội Quốc Gia hành quân thình lình đến những khu vực hạ cây, chạm súng với các toán võ trang của họ. Quân đội cũng như chính quyền Quốc Gia thừa rõ sự có mặt của mấy ông “công đoàn giải phóng” này, cũng như tình hình an ninh ở đây nhưng cũng không sao thay đổi hình thức được. Vì khi quân đội đến thì họ rút đi, quân đội về thì họ trở lại. Thợ rừng vẫn gặp họ mỗi ngày, nói chuyện với họ, mời họ hút thuốc, uống la-ve nhưng không ai biết họ từ đâu đến, đến bằng lối nào. Họ hỏi thăm về chuyện làm ăn, họ tuyên truyền cách mạng và họ kêu gọi mọi người ủng hộ giúp đỡ cách mạng.

Tuy họ nói chuyện vui cười thế, nhưng không ai từ chối được. Nếu từ chối, hoặc có cử chỉ gì để họ phiền thì kể như phải xách rìu về nhà giữ con cho vợ và xin đừng bao giờ vác mặt đến đây.

Các nhà khai thác lâm sản, các chủ xe be lúc đầu cũng phàn nàn, bất mãn về sự đóng thuế ba bên bốn phía này, những thứ thuế không theo luật lệ nào cả. Nhưng sau rồi vì muốn làm giàu, muốn nồi gạo ở nhà bao giờ cũng đầy nên “vui vẻ” chấp nhận nước đôi nầy. Thuế nhiều, công đắt, phí tổn cao thì giá cây lên, người tiêu thụ è cổ ra gánh chịu chứ họ có chịu xu nào. Có ai trách họ thì họ bảo:

– Tôi là người làm ăn, tôi đâu có muốn chết. Thời buổi loạn lạc chiến tranh mà !

Bây giờ, nó đã trở thành một “sinh hoạt bình thường” của cuộc làm ăn. Với các trạm kiểm lâm thì người ta cố tìm cách này hay cách khác để gian lận thuế nhưng với “BÊN TRONG” thì họ rất thật thà chẳng dám giấu một xu. Với Quốc Gia, gian lận bất quá chỉ bị phạt tiền, nhưng “đằng kia” gian lận họ biết được, kể như bế mạc cuộc đời.

Vào năm 1956, 1957 mỗi cube (thước khối) chỉ 7 hoặc 8 trăm, ngày nay tăng lên từ 10 đến 12 ngàn cho loại cây dầu. Bằng lăng thì lên đến 15 -18 ngàn một cube. Dĩ nhiên giá cây leo thang nhảy vọt như vậy do tiền sụt giá, do sinh hoạt đắt đỏ, nhưng mặt khác nó cũng do sự chịu quá nhiều thứ thuế, gặp quá nhiều khó khăn. :

Vào những năm 1959, 1960 nhiều cúp cây được mở ở đường 16, lộ 13, lộ 20 khu vực này thuộc Khu A. Thấy việc kiểm soát và đánh thuế các loại xe, thỏa thuận với khu ủy I-1 không xong, Ba Vinh liền đề cập đến vấn đề này. Nhưng kết quả cũng chẳng đi đến đâu. Theo quan điểm của I-1 thì vẫn là việc điều hành công tác chánh quyền của địa phương, ở địa phương nào do tỉnh ủy địa phương đó quyết định. Các lực lượng Công đoàn địa phương họ có trách nhiệm kiểm soát. Khu A là một khu vực hậu cần không thể xen vào công việc hành chánh của các địa phương, cơ sở khác.

Chỉ có khai thác đường 16 hay 13 bằng cách tổ chức những trận đánh bất ngờ vào các đoàn Công voa, hoặc trưng mua hay trưng thâu những xe chở hàng hóa, thực phẩm của “bọn tư sản” hay thương gia “ngoan cố”, “ác ôn” là khu ủy I-1 không có ý kiến, vì đứng về mặt tổ chức, Khu A không dính đáng gì đến I-1. Khu A là một tổ chức của Trung Ương Cục, của “R”, chịu trách nhiệm trước Trung Ương Cục. Hay nói cách khác, Khu A đối với I-1 là một cơ quan bạn, nếu có vấn đề gì thì chỉ liên hệ địa phương, thoả thuận trên tinh thần giúp đỡ mà thôi.

Nếu Khu A có lực lượng, có khả năng kiểm soát các trục lộ giao thông xuyên qua khu vực mình, cứ khai thác . Trong trường hợp cần thiết, liên hệ trước, I-1 sẽ cho lực lượng hỗ trợ.

Ba Vinh tiu nghỉu trở về văn phòng Đảng ủy Khu A, báo cáo cho Quốc Đăng biết kết quả của cuộc thảo luận với I-1 là như vậy. Thôi thì đành gác lại, chờ khi nào xây dựng được lực lượng riêng.

Mấy ngày sau, Quốc Đăng nhận được điện của Thường vụ Trung Ương Cục mời về chuẩn bị cho Đại hội thành lập Mặt Trận và Đại hội Đảng. Quốc Đăng lên đường sau khi hoạch xong kế hoạch biên chế Khu A giao cho Ba Vinh thực hiện.

***

Dạo ấy, sau chiến dịch Hoàng Diệu do tướng Dương văn Minh (lúc đó là đại tá) làm Tư lịnh hành quân tảo thanh dư đảng Bình Xuyên, Cao Đài ly khai và các nhóm chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm vào tận chiến khu D. Trần Lệ Xuân được bọn đàn em dâng cho một số kế hoạch “làm ăn” công khai và quy mô núp dưới danh nghĩa “gây quỹ hoạt động cho Đảng Cần Lao Nhân Vị”. Một trong những kế hoạch đó là khai thác gỗ súc ở rừng chiến khu D, khu vực sông Mã Đà, bên kia bờ sông Bé. Để tiện việc chuyên chở gỗ súc ở cái kho bất tận đó phải mở con đường xuyên qua Khu A. Mặt khác, về phương diện quân sự, con đường đó là một mũi dùi, một lưỡi gươm cắt đôi vùng hậu cứ của đối phương. Thiết lập con đường tất phải đóng thêm những đồn bót mới để kiểm soát và bảo vệ nó. Cho nên, giới quân sự cũng rất tán đồng ý kiến mở con đường chiến lược để… chở gỗ súc này. Với những xe ủi đất hạng nặng, việc phá rừng làm đường ở những miền đất cao là việc dễ dàng, rất ít tốn nhân công.

Con đường đó khởi sự từ Đồng Xoài, xuyên qua chiến khu D, chạy ngang sông Mã Đà đi về hướng Đông, đến bờ sông Đồng Nai và theo bờ sông đi ngược về nguồn một đoạn. Bên kia sông Đồng Nai cũng có một con lộ khác đi Tà Lài và từ Tà Lài về đường 20.

Tại Mã Đà được bắc ngang một cây cầu sắt. Để giữ cầu, Quốc Gia cho một đơn vị đến đóng ở đây. Nhưng chiến cuộc càng ngày càng lan rộng đến mức đe dọa trầm trọng hơn, quân đội thấy rằng đồn Cầu Sắt Mã Đà nằm sâu “giữa lòng đất địch”, vị trí của nó rất quan trọng, phải biến vị trí này thành một cứ điểm, có đủ khả năng kiểm soát, cũng như có thể mở những cuộc hành quân nhỏ khi cần, Do đó, đồn Mã Đà được tăng cường quân số, xây dựng lại hệ thống phòng ngự kiên cố và mặt khác, công binh được phái đến kiến thiết một sân bay.

Đồn Mã Đà quả là một cây đinh đóng sâu vào tim Khu A, gây rất nhiều tai hại cho Khu A. Đảng ủy Khu A vô cùng khó chịu, “đặt thành vấn đề” và quyết tìm đủ mọi cách, dù phải đánh đổi với giá đắt cũng được, để nhổ cho được cây đinh đó. Ấy là chưa kể con đường mới mở không khác lưỡi dao chặt đứt Khu A, quan trọng cho những cuộc hành quân không tưởng tượng được.

Nhưng muốn là một việc, làm lại là việc khác. Với thực lực của Khu A chỉ một dúm thế kia, muốn tự vận thì cứ xông vào. Đảng ủy Khu A cũng biết vậy, đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt, một mặt lo phát triển, xây dựng lực lrrợng, một mặt tổ chức canh phòng bảo vệ và cử Ba Vinh đi vào buôn Lý Lịch của đồng bào Thượng mnua chuộc, lôi kéo, tuyên truyền vận động họ, tổ chức “đội du kích Lý Lịch”.

Rồi theo cái đà đi lên của chiến cuộc, quân số Khu A càng ngày càng đông, đa số là thanh niên của các tỉnh Bến Tre, Mỹ Tho và Gia Định. Phong trào về “R”, xây dựng lực lượng Miền, chính quy hóa các tổ chức hậu cần “R” trở thành những công tác chiến lược, thường xuyên.

Cho đến cuối năm 1962, sau khi tỉnh lỵ Phước Thành bị các đơn vị tổng hợp của “R” với sự phối hợp của tiểu đoàn Quyết Thắng của I-4, tiểu đoàn 500 của I-1 đánh chiếm, Thiếu tá Tỉnh trưởng Trần Minh Mẫn hy sinh thì đồn Cầu sắt Mã Đà cũng được rút đi cho đến ngày nay. Song song theo sự kiện đó, về tổ chức của Khu A cũng được kiện toàn và phát triển với 3 đại đội chiến đấu có nhiệm vụ bảo vệ Khu A : C-101, C-102 và C-116.

Nhiệm vụ của Khu A trở thành kho dự trữ chiến lược để cung cáp cho những đơn vị chiến đấu tập trung. Theo nghị quyết 1963 của Trung Ương Cục, Khu A sẽ là căn cứ giấu quân, phải tiếp nhận những Trung đoàn thực binh được đưa từ miền Bắc vào, còn là nơi xuất phát của những chiến dịch lớn với quân số cỡ sư đoàn. Do đó, ngoài các đơn vị chiến đấu trên, ngoài các ban chuyên môn như B1, B2, B3, B4, B5, B6, B7, Khu A còn có những đại đội sản xuất, chuyên phá rừng làm rẫy trồng mì và trồng bắp như C-103, C-104, C-106. C-108, C-111, C-112, B-195. Hàng nghìn mẫu mì mọc lên suốt từ đồi Bù Cháp, đồi Trà Be đến Suối Ràng, Suối Bé, Suối Lớn, Suối Cối Xay và dọc theo sông Mã Đà. Quân số của các C nay tám phần mười là những thiếu nữ từ 15, 16 đến 21 hoặc 22 tuổi là cùng.

Và còn những C làm công tác khác như C-110, C-113. C-110 là xưởng quân khí tức Công Binh xưởng, và C-113 là đại đội đường dây với các trạm từ Đồng Nai thượng đến bờ sông Bé, Phước Sang. Đường dây đưa những đoàn cán bộ mùa Thu và khu 6, Khu A về “R” hay ngược lại.

Sau trận đánh chiếm tỉnh lỵ Phước Thành, Trung đoàn chủ lực Miền đầu tiên của “R” được thành lập, đó là trung đoàn Q-761 tức trung đoàn 1 của Công trường 9 (1965) do Thiếu tá Tư Chương làm Trung đoàn trưởng.

Riêng Quốc Đăng, trong dịp này cũng được Trung Ương Cục quyết định thuyên chuyể đưa đến xây dựng khu E tức vùng rừng thuộc Rừng Sát, Phước Tuy và Long Khánh để tạo thành khu vực hậu cần mới.

Dĩ nhiên Quốc Đăng vẫn là ủy viên Trung Ương Cục kiêm Bí thư Đảng ủy khu E.

Để thay cho Quốc Đăng, Trưng Ương Cục bổ nhiệm Hai Cà, nguyên Thiếu tá Trung đoàn trưởng thuộc Sư đoàn 338 ở miền Bắc. Sư đoàn 338 là một trong 2 sư đoàn Miền Nam tập kết thuộc quyền sư đoàn trưởng Tô Ký chỉ huy. Hai Cà vừa về đến Khu A là đã tham dự trận đánh tỉnh ly Phước Thành.

Áp dụng theo nguyên tắc chính quy, Hai Cà biên chế lại tổ chức và đề nghị Trung Ương Cục cho thay đổi, bổ sung cán bộ lãnh đạo. Hai Cà chọn những cán bộ đã từng thuộc quyền của mình trước kia lúc còn ở sư đoàn 338. Số cán bộ cũ, “cán bộ mùa đông” bị Cà hạ bệ thay vào toán cán bộ mùa thu. Trừ có mỗi một Ba Vinh (Trần quang Vinh) cấp bậc tiểu đoàn trưởng (D trưởng) là còn ở nguyên chức vụ cũ, thủ trưởng B 1- Tham mưu trưởng

Cái tên U-50 và Hòm thư 3425-A được khai sinh, làm bí danh và bí số cho Khu A. Thời gian của Hai Cà phụ trách Khu A, Cà đã tạo ra nhiều giai thoại mà từ đầu năm 1965, lúc được thuyên chuyển làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 4 mới thành lập cho đến ngày nay, lính Khu A vẫn còn nhắc mãi về cái thời kỳ ăn cháo khoai mì, ăn bắp kể từ giữa năm 1953 đến gần cuối năm 1964.

Nếu 1ính Khu A nhắc tới Quốc Đăng chuyện thù không đội trời chung với cây đa, bất kỳ hễ gặp cây đa ở đâu là quyết đốn cho kỳ được, băm góc ra từng mảnh, vì cho rằng cây đa là loại có rễ phụ ăn bám, bóc lột vào giống cây khác. Ngược lại, Khu A rất nhiều xoài, mít, thanh trà, dâu, lôm chôm, vải, trường, bất đồ Đăng gặp ai đốn cây ăn trái là y như bị Đăng hét cho một chập, ra lịnh cho anh lính đó phải trồng lại, phải làm thế nào cho nó dính lại, sống lại thì thôi.

Với Hai Cà, Cà không làm những chuyện đó mà là chuyện trộm khoai mì. Vào giữa năm 1963, cơ sở thu mua gạo của U-50 ở Vĩnh Tân, Bình Mỹ trên quốc lộ 13 đột nhiên không mua được gạo, không làm sao có gạo cung cấp hàng tháng cho các đơn vị trực thuộc. Cả mấy nghìn người ở Khu A lâm vào tình trạng đói. Lúc đó, các kho dự trữ vẫn còn nhưng là dự trữ chiến lược, cưng cấp cho tiền phương nên Cà ra lịnh đóng cửa kho. Các đơn vị phải tự lực xưống dồng bằng mua gạo, tải về bằng cách bỏ vào bồng (loại bao vải đựng bột mì 60 lít) mang trên vai, đi bộ hàng chục ngày mới về đến. Đường đi về quá xa, qua lộ qua sông nguy hiểm, số gạo mỗi người mang lại ít, cứ nhót dần dọc đường, khi về đến đơn vị chỉ còn đủ cho một người ăn trong thời gian trở xuống đồng bằng vùng Hố Bò, Lộc Thuận, Cầu Xe để mua, tải số gạo khác. Số người không đi được, bệnh hoạn ở nhà cũng lâm vào tình trạng thiếu gạo ăn.

Trước tình trạng đó, Hai Cà họp đảng ủy Khu A quyết định ăn khoai mì thay gạo, khẩu phần mỗi người một ngày hai kí khoai. Tuy các C-103, C-104, C-106, C-108, B-195 v.v… đã trồng được hàng ngàn mẫu mì nhưng là mì dự trữ không được ăn. .U-50 chỉ cấp cho các đơn vị những miếng rẫy lẻ, cho nên khoai mì cấp phát ăn được vài tháng đã hết, phải dùng đến khoai mì tự túc của đơn vị, rồi cũng hết nốt. Mỗi ngày, mỗi đơn vị phải cho người đi mót khoai mì còn sót lại ở những miếng rẫy cũ. Đói bắt đầu xuất hiện, đến nỗi các B chuyên môn chỉ kiếm đủ khoai mì để nấu cháo lỏng. Còn những đơn vị như C-110, C-113, B-195 ở đồi Trà Be, Bù Cháp Suối Đá phải đốn bắp kè nấu thay cơm. Những đơn vị khác đua nhau đi đào củ chụp, củ năng.

Khoai mì vô số lại không cho ăn, trong khi lính Khu A sắp chết đói. Nếu đơn vị nào cũng vậy, lén đi ăn cắp khoai mì ở rẫy 15 mẫu, ở rẫy Suối Ràng vô phúc gặp Trung đội cảnh vệ của B1 hay Hai Cà coi như số khoai mì bị tịch thâu hết, còn bị đem về văn phòng kiểm thảo, nhịn đói, chờ khi nào đơn vị trưởng đến làm bản tự kiểm lãnh ra mới cho về.

Đầu năm 1965, Mười Thiện được Trung Ương Cục đưa từ Khu B về làm thủ trưởng U-50 thay cho Hai Cà. Và U-50 được đổi bí số lại : đoàn 30.

Điều đáng kể nhất trong thời gian Hai Cà làm thủ trưởng U-50 (tức Đảng ủy Khu A) là xây dựng được cơ sở thu mua ở Vĩnh Tân, Bà Đã và hệ thống vận tải bằng xe Camion từ ấp chiến lược Bình Mỹ ở quốc lộ 13, vượt qua sông Bé, qua lộ ủi đến ngã tư “ông tư Trần ” cạnh cầu dây Mã Đà. U-50 đã góp một phần không nhỏ trong chiến dịch Bình Giả tháng 12-64 đến tháng 2 năm 1965 ở khu E.

Đầu năm 1965, trước tình hình mới của chiến cuộc, binh sĩ Mỹ được điều động tăng thêm, Trung Ương Cục Miền Nam nhận định rằng Mỹ sẽ trực tiếp chiến đấu bên cạnh quân đội Quốc Gia, không còn ở cương vị có vấn quân sự nữa. Chiến tranh sẽ ác liệt hơn, gay go hơn, chiều hướng có thể từ chiến tranh đặc biệt chuyển sang chiến tranh cục bộ. Để đối phó kịp thời với tình thế mới, lực lượng cách mạng phải phát triển vượt bực, lớn nhanh như “Phù Đổng hiên Vương” mới giữ vai trò chủ động được. Riêng về Khu A cũng phải được biên chế lại, cũng như vai trò của thanh niên ở Khu A trong giai đoạn này không phải ià những công việc của hậu cần. Công việc ở hậu phương, ở các đơn vị hậu cần phải để cho phụ nữ đảm trách. Ngay cả bệnh viện G2, bệnh viện lớn nhất của Khu A cũng phải thi hành chủ trương này.

Điển hình cho chủ trương này là việc Trung Ương Cục bổ nhiệm Thiếu tá Mười Thiện, một sĩ quan hậu cần trong thời tập kết ra Bắc, phục vụ ở sư đoàn 338, lúc về Nam công tác tại Cục hậu cần “R” do Tư Thắng làm cục trưởng, từ Khu B sang thay chân cho Hai Cà, để Hai Cà nhận nhiệm vụ mới: Trung đoàn trưởng trung đoàn 4. Lực lượng của trung đoàn mới này, do sự sáp nhập D800 A của I-1, 3 đại đội C-101, C-102, C-116 – tức ba đại đội bảo vệ của U-50 dưới tên mới là D308 và một tiểu đoàn do I-3 gởi lên.

Các C sản xuất trước đây làm nhiệm vụ trồng khoai mì, trồng bắp, trồng lúa, cũng như các loại hoa mầu khác được tập họp lại thành D312. Quân số của D312 tám chục phần trăm là thanh thiếu nữ, 15 có, 17 có, nhưng đại đa số vẫn là đám “trẻ con lao nhao” 15, 17. D312 nhận nhiệm vụ mới, phục vụ chiến trường chứ không làm công việc chuyên môn phá rừng trồng rẫy nữa.

Nhiệm vụ chính của Khu A là sản xuất, dự trữ thực phẩm, kề từ nay coi như đã chấm dứt. Thực phẩm mà Khu A dự trữ, cung cấp cho chiến trường đều do các cơ sở thu mua đảm trách. Lính Khu A từ đấy được cấp phát gạo theo chế độ 25 lít chứ không còn ở chế độ 10 1ít mỗi tháng như những ngày qua.

D312 làm công tác phục vụ chiến trrờng, nghĩa là làm công tác tải gạo, tải thương, tải súng đạn. phụ giúp các cơ quan khác trong mọi việc khi cần.

Dạo đó, người ta chưa tìm ra danh từ oai hùrg là “thanh niên xung phong” để gọi chung cho những đơn vị lao công chiến trường, nên người ta vẫn gọi D312 là tiểu đoàn tải Khu A.

Mười Thiện về Khu A mang theo kế hoạch biên chế đó của “R”, còn nhận một công tác trọng đại khác : chuẩn bị đầy đủ mọi phương tiện hậu cần để phục vụ cho một chiến dịch lớn tại Khu A vào đầu mùa mưa. Mọi chi tiết và kế hoạch thực hiện tỉ mỉ sẽ chỉ thị sau.

Bước chân về đến Khu A, đi kèm với một loạt biên chế cải tổ quan trọng các cơ cấu tổ chức cũ, Mười Thiện cũng nhận được chỉ thị của Cục Tham Mưu “R”, cho đổi lại bí số cũ U-50 đã trở thành Đoàn 30 vì bí số U-50 đã bị lộ, địch đã biết rồi.

Trải qua hai “trào” Quốc Đăng, Hai Cà, Ban chỉ huy Khu A xem như chỉ có một người. Bất cứ việc gì dù lớn hay nhỏ đều phải do quyết định của Quốc Đăng hay Hai Cà, nhưng khi Mười Thiện về, Ban chỉ huy Khu A có đến những ba người : Mười Thiện, Bảy Huê và Ba Vinh.

Trước kia, Bảy Huê là thủ trưởng B4, Ba Vinh thủ trưởng B1, bây giờ được Cục chính trị đề bạt nâng lên. Tuy Mười Thiện là thủ trưởng, nhưng chỉ là thủ trưởng quân chính, chịu trách nhiệm về kỹ thuật chuyên môn hậu cần, không phải nắm quyền sinh sát như hai ông thủ trưởng trước. Bảy Huê được chỉ định làm thủ trưởng chính trị hay nói cách khác là chính trị viên đoàn 30, tức Bí thư Đảng ủy. Ở chế độ Chính ủy, Đảng lãnh đạo tuyệt đối thì ông chính trị viên trên danh nghĩa chỉ mang chức vụ chỉ huy phó, nhưng quyền hạn thực rộng rãi vô cùng. Do đó, mọi vấn đề thuộc nội bộ, ngay cả giải quyết những vấn đề chuyên môn khác trên lãnh vực hậu cần đều do Bảy Huê giải quyết ký tên. Vai trò Mười Thiện như lu mờ dần.

Từ đầu năm 1965, bộ mặt của Khu A bỗng nhiên thay đổi và rộn rịp hẳn lên. Thay đổi, vì một loạt biên chế tổ chức, rộn rịp bởi không khí chuẩn bị chiến dịch. Đường xe hơi từ Bình Mỹ về sông Bé, đêm nào cũng hàng chục xe cam nhông cỡ lớn chuyên chở hàng chiến lược chạy rầm rì suốt sáng. Xe nào cũng đầy ăm ắp những gạo, mắm, đường, sữa, thực phẩm, dụng cụ, cũng như những thùng súng đạn. Song song với xe cam nhông, Tiểu đoàn tải D312 cũng i-à, ì-ạch cõng hàng trên lưng. Trung đội xe bò cũng khua lạch cạch, lăn bánh. Tất cả đều như hối hả, khẩn trương, vượt sình, vượt hố dưới lằn đại bác từ Bến Cát bắn lên, từ Phước Thành bắn xuống.

Bên này bờ sông Bé thì thế, bên kia sông là rừng sâu, xe hoạt động suốt ngày, đâu sợ phi cơ phát hiện. Với phịp điệu đó, đường xe cũng được một tiểu đội công binh khác phụ trách mở đường cho dài thêm, tiến dần về Đồng Nai thượng. Để hỗ trợ cho công tác tải chiến lược này, Trung đoàn 4 do Hai Cà chỉ huy mới được thành lập, đóng quân dài theo sông Bé đến Bà Đã, nằm ở lộ 16. Cho đến khi chiến dịch Bình Giả chấm dứt, Trung đoàn 2 (Q-762) về thay chân để Trung đoàn 4 đi khu E tiếp nhận vùng hoạt động.

Về quân y cũng vậy, cũng biên chế lại, phát triển lớn gấp ba. Bệnh Viện G2 thành Đội 16, xây dựng thêm bệnh viện Đội 17 để đủ nhận thương binh của chiến dịch. Bác sĩ đại úy Bùi Hòa, thủ trưởng B5, tức chủ nhiệm quân y Khu A cũng chạy đôn, chạy đáo chấp hành kế hoạch này. ·

Mực độ rộn rịp của Khu A càng ngày càng tăng cho đến khi Ban chỉ huy tiền phương do Ba Đình, Cục phó Cục Tham mưu Bộ Tư lệnh “R”, đại điện cho Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng Giải phóng Quân Miền Nam, Chỉ huy trưởng chiến dịch Bình Giả từ khu E kéo về Khu A để chuẩn bị chiến dịch mới.

Khi Ban chỉ huy tiền phương này về đến Khu A 1à ba Trung đoàn Q-761, Q-762, Q-763, cũng đi theo. Q-761 về thẳng suối Ràng đóng quân ở đó, Q-763 về căn cứ ở Bà Đã và Q-762 đến đóng quân ở khu C Long Nguyên tức vùng được gọi là khu Tam giác sắt.

Sau chiến dịch Bình Giả, quân số của ba Trung đoàn này bị hao hụt nhiều. Nặng nhất là Trung đoàn 2, cần phải được bổ sung lại, nghỉ ngơi, dưỡng quân, hội họp rút kinh nghiệm và bình bầu chiến sĩ thi đua theo truyền thống xưa nay, trước khi bắt đầu chuẩn bị cho một chiến dịch khác.

Trên các con lộ giao thông của Khu A, hàng ngày tấp nập người xuôi ngược. Rồi các đoàn dân công do các tỉnh ủy Bình Dương, Phước Thành, Tây Ninh đưa đến theo lệnh của “R” để phục vụ cho chiến dịch mới. Và cũng cần phải kể đến mấy đội giải phẩu dã chiến tiền phương của Phòng Quân Y, theo phục vụ giải quyết chiến thương tại mặt trận.

Trong dịp này, những mẫu khoai mì dự trữ của Khu A chưa bị phi cơ rải chất độc hóa học làm rụi cây thúi củ, đều được moi lên ăn sạch.

Về phương diện công tác chuyên môn hậu cần của Khu A, tất cả các bộ phận, đơn vị vừa biên chế lại của Đoàn 30 phải làm bở hơi tai, không kip nghỉ. Công :ác hậu cần phục vụ cho hàng chục ngàn người, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu đủ mọi phương tiện, khả năng, dù muốn dù không, phải công nhận rằng đó là một gánh nặng vô song. Phải chi cung cấp trong 5, 10 ngày không nói làm gì, đàng này phải cung cấp trong nhiều tháng. Tính riêng về gạo thôi, mỗi ngày Khu A cần dùng coi như 10 tấn gạo, ba tháng phải xử dụng đến ngàn tấn như chơi.

Chiến dịch chưa mở màn, nếu đã mở màn cũng phải kéo dài trong nhiều tháng, đâu phải năm, mười ngày là xong. Huống hồ theo chỉ thị của “R” báo cho Đảng ủy Đoàn 30 biết, từ tháng 3 năm 1965 xem như khởi đầu phục vụ chiến dịch. Ngày kết thúc có thể đến tháng chín, tháng mười. Nguyên tắc cảnh giác cách mạng, bảo vệ bí mật của Đảng, Trung Ương Cục hay nói cách khác là Quân ủy Miền chỉ có thể phổ biến chừng ấy, sau này theo từng giai đoạn chiến dịch, sẽ phổ biến và chỉ thị thêm.

Đấy, chỉ tính về gạo đã đủ thấy mệt. Còn thực phẩm, theo chế độ cung cấp năm 1965 của hậu cần, trong thời gian chiến dịch mỗi người được hưởng tiền khẩu phần mua thực phẩm một ngày là 8 đồng, như vậy sơ sơ mỗi ngày phải mua 80.000đồng thực phẩm, chưa tính đến những khoản khác. Rồi nào quân y, quân trang v.v… trăm thứ. Nói về giá trị, 1đồng năm 1965, có phải bằng 3, 4 đồng bây giờ không ?

Chiến dịch đó là chiến dịch Đồng Xoài, được chuẩn bị từ đầu năm 1965 cho đến ngày nổ súng là 9-6-65.

Sau chiến dịch Đồng Xoài, Đoàn 30 được củng cố thêm cán bộ và biên chế lại lần nữa để thích hợp với tình thé mới của chiến trường. Đoàn 30 được đổi bí số là Đoàn 81 cho đến ngày nay.

Cũng từ ngày đó, tháng 8-65, đơn vị chủ lực của “R” được thành lập đến cấp Sư đoàn. Theo quyết định của Trung Ương cục và Quân ủy, ba Trung đoàn chủ lực Miền, Trung đoàn 1, Trung đoàn 2, Trung đoàn 3 được thành lập trước tiên này, ghép lại thành Sư đoàn dưới cái tên Công trường 9. Trung đoàn 4, Trung đoàn 5, cộng với một Trung đoàn khác từ miền Bắc vào ghép lại thành Công trường 5.

Chiến trường hoạt động của Công trường 9 là Khu A, Khu B và khu C. Công trường 5 chịu trách nhiệm ở Khu E, lấy đường quốc lộ số 1 rẽ lên đường 20 làm ranh giới cho hai khu của hai Công trường.

Cùng lúc đó, hai Trung đoàn thực binh đầu tiên từ miền Bắc đưa vào vượt qua sông Đồng Nai đóng quân ở khu vực Cầu dây Mã Đà, chờ đợi một Trung đoàn nghĩa vụ khác còn đi sau để thành lập Công trường 7 và làm lễ xuất quân theo lệnh của “R”. Được tin quân báo cho biết, trong những ngày gần Tết, Mỹ sẽ càn Khu B, nên Bộ Tư lệnh “R” điện sang Khu A cho đoàn 81 đưa hai Trung đoàn thực binh về Khu B ngay. Hai Trung đoàn đó là 16 và 41.

Đồng thời, đoàn 81 cũng được thông báo chuẩn bị chống càn và chống phi pháo, vì ngoài phi cơ, nhất là B52, còn những khẩu đội pháo nặng 105 ly và 155 ly vừa được tăng viện để phòng thủ cho tỉnh lỵ Phước Thành. Những căn cứ ở vùng sông Bé, Đồng Triêng, Bàu Chân Ra, cầu sắt Mã Đà, ngay cả con đường Thống Nhất dưới Mã Đà qua Suối Lớn, Suối Xay, Suối Xà Cót, đến cả Bàu Điền đều nằm trong tầm pháo 155 1y.

Mà thực, từ đầu năm 1966, kể từ sau cuộc hành quân tháng 3 của quân đội Mỹ vào sông Bé, Bàu Chân Ra, vùng bên này lộ ủi, pháo ở Phước Thành đổ vào vùng này liên miên. Cho nên Ban chỉ huy Đoàn 81 và các B trực thuộc, dù mới dời căn cứ về Suối Vên Vên hồi tháng 8-65, cũng phải dời đô lần nữa về khu vực ngọn Mã Đà.

Qua cuộc hành quân của quân đội Mỹ vào Khu A tháng 3-66, Cục Tham mưu chỉ thị cho tất cả các cơ quan hậu cần phải gấp rút thành lập những đội du kích cơ quan. Ai cũng phải cầm súng, học động tác quân sự cơ bản, học xạ kích ·lấy yếu lĩnh ” và chiến thuật du kích chiến. Chỉ trừ những người già cả, đàn bà có con và những người bệnh mới được miễn. Như vậy, ngoài những đơn vị chiến đấu hàng ngày theo đường dày ông Cụ từ Bắc vào, tạm đóng ở Khu A chờ bồ sưng cho những đơn vị khác, hoặc lập thành những đơn vị mới, toàn thề cán bộ chiến sĩ của đoàn 81 đều phải tích cực học tập quán sự, học tập chống càn. Quân số Khu A hầu hết là phụ nữ, hay nói cách khác là những thanh thiếu nữ ở lớp tuổi 15 đến 20 hoặc 22. Mổi người đều được phát một cây súng trường bá đỏ hoặc carbine, 150 viên đạn, thắt lưng và một số lựu đạn ” cán chày”.

Ba Vinh cùng một tổ cán bộ đến từng đơn vị một, nghiên cứu địa hình xây dựng kế hoạch học tập phòng vệ chiến đấu. Vần đề này Cục Tham Mưu đã chỉ thị rất rõ ràng là trong tình thế mới, không có sự phân biệt nơi nào là hậu phương, nơi nào là tiền tuyến. Trong cuộc chiến tranh nhân dân và chiến trường du kích cài răng lược, chỗ nào cũng có thể là chiến trường. Để bảo vệ cớ quan, bảo vệ tai sản của Đảng, chính đơn vị phải tự đảm trách, dĩ nhiên sẽ có những đơn vị chiến đấu lùng địch, chận địch, nhưng đó là vấn đề khác, không thể ỷ lại chủ quan, tư tưởng đó không thể chấp nhận được .

Về trách nhiệm, bất kỳ đơn vi nào, khi có địch càn căn cứ mà không có súng nổ, mìn nổ, không có máu giặc thì Ban chỉ huy và cấp ủy Đang ở đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước quân ủy. Cấp ủy các cấp phải lãnh đạo thi hành triệt để chỉ thị này.

Chỉ thị trên, không phải chỉ áp dụng cho Khu A mà cho toàn thể các khu căn cứ, khu vực hậu cần A, B, C, E, H.

Tháng 1-66, Khu A cũng được chỉ thị của đảng ủy Cục hậu cần cho tổ chức đợt học tập nghị quyết bồ sung “của đảng ủy Cục về ” tình hình mới, nhiệm vụ mới của riêng ngành hậu cần, kiểm điểm thành tích, ưu khuyết điểm trong những năm qua. Đồng thời, mọi chiến sĩ phải thông hiểu, thực hiện cho kỳ được vấn đề ” Tam đại dân chủ trong quân đội” và chiến thuật “phân tán mỏng” cơ sở hậu cần trở thành những màng lưới rộng và đều khắp, qua Hội đồng cung cấp, Ban chỉ huy tiền phương v.v…

“Tam đại dân chủ” trong quân đội đó là dân chủ chính trị, dân chủ kinh tếdân chủ chuyên môn. Đơn vị nào chưa thành lập “Hội đồng quân nhân” phải xúc tiến học tập, thành lập ngay.

Ấy thế, đoàn 81 lại phải một lần biên chế nữa, cho đến ngày nay.

—> Khu B: Miền và R
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s