Về “R” (Kim Nhật)- Phần II

5-Khu B: MIỀN VÀ R

Theo quan niệm thông thường của mọi cán bộ chiến sĩ, Miền là Dân Đảng và “R” là “Bộ chỉ huy Tối cao các lực lượng vũ trang và bán vũ trang “.

Dân Đảng tức là Mặt Trận Dân tộc G.P.M.N và Trung Ương Cục Miền Nam. Nhưng từ bao nhiêu năm qua, “người ta” cho vai trò Trung Ương Cục – vai trò tối hậu quyết định mọi vấn đề về chiến tranh – ẩn vào Bộ chỉ huy “R” và ẩn vào những nhân vật mặc áo bà ba đảm nhận những chức vụ có vẻ tầm thường ở các cơ quan Mặt Trận nên dễ gây cho mọi người cái ảo tưởng vắng mặt Trung Ương Cục trong các chính sách và quyết định của MTGP.

Những người tự cho mình là thông minh, hiểu biết, đại trí thức “học sâu hiểu rộng” và cả những người làm chính trị của ngoại quốc, những nhà ngoại giao ngây thơ, cứ ngỡ Mặt Trận Dân tộc giải phóng là một tổ chức nhân dân thuần túy, không có “chất” Đảng.

Từ năm 1960 trở về 1955, trên khắp Miền Nam, không có tổ chức nào khác ngoài Đảng. Khắp mọi nơi, từ thành thị đến thôn quê, nơi nào Đảng cũng cài người hoạt động, gây cơ sở liên lạc theo hệ thống : chi bộ xã, huyện ủy, tỉnh ủy, khu ủy và trên hết là Trung Ương Cục Miền Nam.

Năm 1957, khi cuộc tổng tuyển cử trên toàn quốc không thành, Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị Đảng ở Hà-nội chỉ thị củng cố lại cơ sở, phát triển lực lượng, tái võ trang chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lần thứ hai. Trung Ương Cục Miền Nam bắt đầu chuyển mình, Quốc Đăng được cử đi mở đường, tổ chức “đường dây Ông Cụ” để đưa cán bộ tập kết trở về. Trong khi đó, một số cán bộ chuyên môn, cán bộ chính trị được Hà-nội gởi đến “tiếp sức bằng con đường Ủy Hội Quốc Tế, con đường Nam Vang – Saigon, hay Nam Vang – rừng Tây Ninh, hoặc từ Hà-nội đi tàu vào đổ bộ ở mũi Cà Mau. Ấy là chưa kể một số cán bộ ở chiến trường C, tức chiến trường Lào được chỉ thị trực tiếp của Trung Ương Đảng phái vào Nam nhận nhiệm vụ mới.

Do đó, trong những ngày Quốc Đăng còn vượt đèo, vượt suối lặn lội ra Bắc thì tại căn cứ Khu A đã nhiều biến đổi rồi. Cùng một lượt, việc thành lập khu căn cứ, cái tên Khu A và Khu B ra đời từ cuối năm 1958. Trung Ương Cục từ đó dời về Khu B, căn cứ ở gần sông Tha La.

Như “đồng chí Trường Sơn”- tức Sáu Vi, tức đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính Trị Đảng, Chính ủy toàn quân, thay mặt Trung Uơng trực tiếp lãnh đạo “cuộc Cách mạng Miền Nam” đã chỉ chị cho Trung Ương Cục trong đêm 19-12-1960, tại khu vực cảnh vệ ở địa điểm Đại hội Thành lập Mặt Trận : “Bộ Chính trị và Trung Uơng Đảng quyết định cử Trung tướng Trần Lương làm Tư lệnh, Trần văn Trà Phó Tư lệnh cùng Trần Độ, Lê Trọng Tấn và một số tướng lãnh khác chỉ huy các lực lượng võ trang và bán võ trang ở Miền Nam”.

Việc thực hiện chiến lược, chiến thuật quân sự ở Miền Nam trong “cuộc kháng chiến lần thứ 2 chống Mỹ Diệm” vô cùng quan trọng, đòi hỏi phải biết áp dụng chiến-kỹ-thuật hiện đại, hết sức khoa học, tiến bộ và phải có một kiến thức sâu rộng về quân sự, nắm vững đường lối chiến tranh nhân dân. Nhưng Hiệp định đình chiến 1954 không thể xem thường, bởi còn có dư luận thế giới và công pháp quốc tế đi kèm. Nếu đưa Trần Lương, Trần văn Trà, Trần Độ, Lê Trọng Tấn v.v… vào Nam ngay sẽ có một làn sóng bất bình, phản đối của các nước liên hệ. Dư luận thế giới sẽ lên án, chính nghĩa cách mạng không còn nữa thì việc tuyên truyền lôi kéo quần chúng theo cách mạng, vấn đề tranh thủ dư luận thế giới, không thể nào thực hiện được. Người ta sẽ bảo, sẽ la to lên, sẽ phẫn nộ kết án là Hà-nội xâm lăng, Hà-nội xé hiệp ước Genève, tấn công Sàigòn.

Về mặt chính trị, ngoại giao là thế. Còn quân sự cũng nguy hiểm không kém. Nếu đối phương biết, tất áp dụng mọi biện pháp mạnh, thích nghi với sự ủng hộ, can thiệp trực tiếp và ồ ạt như vũ bão của quân đội Mỹ, của khối Liên phòng Đông Nam Á trong khi lực lượng cách mạng còn phôi thai, yếu kém, chưa có gì thì còn gì là cách mạng Miền Nam ? Tai hại sẽ kinh khủng không sao lường trước được.

Chừng ấy, có áp dụng chiến lược, chiến thuật gì cũng không sao cứu vãn nổi. Đánh giặc mà không chủ động được chiến trường, không nắm được thời cơ thuận lợi, để kết quả vượt quá tầm tay không khác nào tự vận . Đại cuộc thì thế, riêng cá nhân người điều khiển cũng khó toàn mạng.

Vì những lý do trên, Trần Lương và các tướng lãnh chưa thể vào Nam ngay. Con mắt gián điệp, tình báo quốc tế đang theo dõi từng diễn biến một ở Hà-nội. Mọi sự vắng mặt của bất kỳ một nhân vật tương đối hơi quan trọng nào mà không giải thích được lý do chính đáng tất sẽ bị lộ ngay.

Thế cho nên Trần Lương dưới tên mới Trần Nam Trung là ủy viên quân sự MTDTGP Miền Nam và cũng là Tư lệnh các lực lượng quân sự nhưng dạo ấy chẳng một ai biết mặt mũi ra sao. Cả cái ông chủ tịch Mặt Trận là Nguyễn Hữu Thọ cũng không biết nốt. Tại Đại hội thành lập Mặt Trận người ta chỉ biết Trần Công Khanh là đại điện cho Trần Nam Trung mà thôi.

Thời gian đó kéo dài cho đến cuối năm 1962, “R” vẫn do Trung Ương Cục trực tiếp lãnh đạo, điều khiển, quyết định mọi việc, cụ thể là “Hai chủ tịch xe ngựa” , Tư Thắng và Khanh,về hình thức tổ chức cũng chưa thành. Ban Tham Mưu, Ban Chính Trị, và Ban Hậu Cần thay danh từ riêng là B-1, B-2, B-3, mỗi B đều có một số cán bộ trung cấp đảm trách.

Đại thể được xem như chỉ huy chung về các lực lượng quân sự là Trần Công Khanh nhưng mỗi khi quyết định về kế hoạch, chính sách phải có sự đồng ý của “Hai chủ tịch xe ngựa” vừa làm công tác Thường vụ Đảng vừa đặc trách về kinh tài, dĩ nhiên về phía “R”, Thắng phải điều khiển Hậu Cần, cũng như Khanh điều khiển ban Tham Mưu. “Hai chủ tịch xe ngựa” nắm bộ phận Chính Trị và lãnh đạo chung.

Trong bất cứ cuộc chiến tranh nào, công tác tình báo vẫn là công tác tối quan trọng, được nâng lên hàng đầu. Có biết địch, hiểu địch, mới thắng được địch. Đánh mà không có tình báo không khác nào chờ kẻ thù đến tiêu diệt mà thôi. Cho nên, Sàigòn muốn biết thật rõ những tay tổ nào ở Hà-nội đã bí mật vào Nam, trực tiếp điều khiển “cuộc kháng chiến lần thứ hai chống Mỹ – Diệm” này, để lật tẩy lập luận “vô can” của miền Bắc. Mặt khác, những tin tức đó hết sức cần thiết cho những cuộc hành quân, những chiến lược, chiến thuật về quân sự.

Khoảng tháng tư 1962, ở Sàigòn, người ta đồn “tùm lum” là quân đội mới nhận được nguồn tin mật, do một tình báo viên, có một ông tướng VC ở miền Bắc vừa xuất hiện, với một trung đội hộ vệ ở vùng Bà Chàm, biên giới Miên – Việt, tỉnh Tây Ninh. Đang đêm, 2 tiểu đoàn Dù thình lình được báo động tập họp lên phi cơ để mở cuộc hành quân bao vây chớp nhoáng. Hình như ông tướng đó là Văn Tiến Dũng.

Những tin đồn đại như vậy vẫn xảy ra luôn, nhưng kết quả và sự thực thế nào, nào ai biết rõ. Cứ người này chuyền sang người khác kèm theo những lời nhận xét, thêm bớt cho có vẻ quan trọng hơn lên.

Xưa nay người ta thường bảo : “Có lửa mới có khói”. Điều này đúng. Những tin đồn đó không có gì lạ cả.

Cũng vào khoảng tháng tư 1962, U-60 tức cơ quan Hậu Cần Khu B, do Tám Cường làm thủ trưởng Quân Chính và Hai Phục làm thủ trưởng Chính Trị, một hôm, mấy cán bộ của U-60 đi nghiên cứu đặt trạm thu mua, đi mua hàng bên kia biên giới ở Bà Chàm về bảo, nếu dần dà trễ chừng 5 phút thì bị lính Quốc Gia nhảy dù bắt được ở Trà Pàng. Lúc đó, có một đại đội của U-70 bảo vệ hai cán bộ cao cấp nào đó, đi qua nên tháp tùng theo sau cho vững bụng. Độ chừng 5 phút thì máy bay tới đổ quân xuống cách đó không đầy 500 thước.

Những cán bộ của U-60 phái đi công tác lần ấy có hai người là “cán bộ mùa Thu” vừa về Nam cuối năm 1960. Khi báo cáo công tác với Tám Cường, một người ra vẻ phấn khởi, cao hứng tột độ, bảo nhỏ Tám Cường:

– Anh Tám ! Tôi gặp Đại tướng! Có lẽ vào trong này tham quan, nghiên cứu chiến trường. U-70 cho một đại đội đi đón. Cũng may, nếu chậm chừng 5 mười phút thì bị lính Nhảy Dù địch bao vây rồi.

– Đại tướng Võ ? Vô lý !

– Không ! Nguyễn Chí Thanh!

– À! Ổng đi một mình ?

– Với một ông nữa, nhưng vì nhìn không rõ mặt nên tôi không biết là ai.

“Cán bộ mùa Thu” có khác ! Vì mới về Nam lần đầu và việc gặp đại tướng không khác gì được lên cung Quảng gặp chị Hằng Nga. Có ngờ đâu rằng Nguyễn Chí Thanh đã xuất hiện tại đại hội thành lập Mặt Trận trong đêm 19-12-60. Lần này không biết là lần thứ mấy nữa đây !

Cái lần mà Sàigòn đồn đãi nguồn tin hành quân chớp nhoáng để vây bắt ông Văn Tiến Dũng, có lẽ là lần này. Nhưng ông tướng đó không phải Văn Tiến Dũng mà là Nguyễn Chí Thanh và Trần Lương. Hay nói cho “hợp thời” , đó là ông Trần Nam Trung – ủy viên quân sự của MTGPMN, Tư lệnh Bộ chỉ huy tối cao các lực lượng vũ trang và bán vũ trang Giải phóng quân Miền Nam.

Và cũng vào khoảng tháng tư 1962, một buổi trưa, sau khi ngủ dậy, y sĩ thượng úy Huỳnh văn Đ. cựu chủ nhiệm quân y trung đoàn thuộc sư đoàn 338, lúc đó vừa về Nam ít lâu, phụ trách Quân y hậu cần ” R” được một anh cảnh vệ đến bảo :

– Anh Bảy! Báo cáo với anh, anh Ba cho mời anh đến hội ý ngay bây giờ. Có việc khẩn !

– Anh Ba Bụng hả ?

– Dạ!

“Anh Ba Bụng” được xem như một nhân vật cao cấp trong Ban chỉ huy quân sự “R”, là một ủy viên Quân ủy Miền. Y sĩ thượng úy nhà ta ba chân bốn cẳng đến gặp Ba Bụng ở cách đó khoảng 5 phút đường rừng. Ba Bụng mặc một bộ đồ xá xẩu cổ lật bằng vải Nam Định đen, rộng thùng thình, nhưng cũng không sao giấu nổi cái bụng to đầy mỡ. Tay xoa xoa bụng, mắt nheo nheo mấy cái, Bụng nói ngay :

– Anh Bảy ! Chốc nữa nhờ anh xem qua tình hình sức khỏe cho một người khách từ xa đến thăm chúng mình. Anh chuẩn bị ngay đi là vừa !

– Thưa anh Ba, ai đấy anh ? Có cần phải bày biện trang hoàng theo chính qui không ?

Ba Bụng suy nghĩ một thoáng, nhếch môi cười :

– Một người khách đặc biệt! Đó là anh Tư Chi. Anh cứ vác đồ nghề của anh đến đây là đủ.

Ông thượng úy quân y ngẩn người ra. Tư Chi, cái tên nghe lạ hoắc. Dù vẫn biết đó là một bí danh, Huỳnh văn Đ. không sao tưởng tượng ra là nhân vật nào.

Nửa giờ sau, Đ. đến thăm sức khỏe cho ông khách.

Sau nầy khi nhắc tới chuyện đó, y sĩ thượng úy Đ. phát biểu ý kiến như sau :

– Mình tưởng ông nội nào, ai dè ông Trà. Thoạt đầu cứ ngỡ thằng cha Ba Tầu nào. Đầu đội cái nón nỉ xám sụp trán. Miệng ngậm điếu thuốc lá. Mặc sơ mi lụa màu hột gà, quần nỉ xám, mang dép da, tay đeo đồng hồ vàng. Miệng túi áo trên giắt ba cây viết. Nước da ông ta trắng, tóc lại hớt thấp, giống mấy tay ba tàu ăn chơi Chợ Lớn hết sức ! Kể ra cũng một lứa tuổi với mình, năm mươi nhưng xem như mới ngoài 30 tuổi. Trẻ thật. Vóc cũng bảnh trai, thư sinh đó ai có ngờ là một ông Tướng. Người ta sung sướng hưởng thụ nhiều, lâu già có khác. Như vậy, hồi năm 1952, Trung Ương Cục vận động với Bà Luật sư Lê đình Chi đem dâng con gái là Lê Thoa cho ổng kể cũng hợp. Lê Thoa lúc đó mới 17, 18 hơ hớ xuân xanh làm nhiều tay thất điên bát đảo, tự tử rầm rầm. Cô ta nổi tiếng là hoa khôi số 1 của miền Tây. Rốt cuộc đem cống cho ông Trà. Ngày nay đã ba con nhưng hãy còn đẹp lắm. Ổng tuy lớn tuổi nhưng cũng đâu có già gì? Về cái chuyện khám bệnh, ngoài Hà-nội, cỡ mình mò đến cái lông chân của ổng cũng chưa được phép, nói gì khám mất công. Thực lần đó, mình không ngờ là được khám cho ổng. Nguyên tắc bảo vệ sức khỏe cán bộ cao cấp là thế. Mỗi khi đi đâu xa, dù bệnh hay không bệnh, bác sĩ phụ trách sức khỏc cán bộ cao cấp phải đến xem qua tình trạng chung thế nào, lo bồi dưỡng trước chớ để cho bị bệnh mới chữa thì coi như trùng đầu, mạt luôn, chỉ còn nước về nhà giữ heo cho hợp tác xã thôi!

***

Tháng 12 năm 1960, Đại hội Thành lập Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền Nam được tổ chức tại một địa điểm gần cầu Cần Đăng, cách biên giởi Miên khoảng 7 cây số ngàn. Từ đó, ngoài tổ chức Trung Ương Cục Miền Nam, có thêm Mặt Trận.

Nhưng ai đã khai sinh ra Mặt Trận ? Ban vận động thành lập đại hội do ai khởi xướng và tổ chức ? Tưởng không cần phải lặp lại. Như ta đã biết :

-Tất cả đều do Trung Ương Cục Miền Nam, mà đứng đầu Trung Ương Cục lúc đó là “anh Hai chủ tịch xe ngựa”. Nếu không có Trung Ương Cục Miền Nam thì không có Ban Vận Động thành lập đại hội. Và không có Ban Vận Động thành lập đại hội thì không có Mặt Trận. Nhưng dù có hay không có Mặt Trận, vẫn có cuộc chiến tranh đau thương tang tóc cho cái dân tộc nhỏ bé đáng thương trên dải đất chữ S này, kéo dài đến ngày nay và sẽ còn kéo dài không biết đến bao giờ nữa.

Cái Mặt Trận mà tuyệt đối đại đa số đại biểu là cán bộ cao cấp của Đảng…”Nhân Dân Cách Mạng”, mà “Nhân Dân Cách Mạng” là tên mới của Đảng Lao động tại Miền Nam và Đảng Lao động lại là thối thân của Đảng Cộng sản Đông Dương do Hồ chí Minh lãnh đạo.

Điều đáng suy nghĩ, là cuộc chiến tranh đã bắt đầu vào năm 1959. Nói cách khác, cuộc “đồng khởi” đấu tranh vũ trang đã mở màn ở Bến Tre, Mỹ Tho, Tân An rồi trên khắp Miền Nam trước khi thành lập Mặt Trận những hơn một năm trời. Thế ai lãnh đạo, chủ xướng, chỉ huy trong thời gian chưa có Mặt Trận ?

Để vẽ thêm trò, tháng 3 năm 1961 đại đội Đảng toàn Miền được triệu tập, xác định tình hình đã bước sang giai đoạn mới. Trung Ương Cục , cụ thể là “Hai chủ tịch xe ngựa ” đọc toàn văn bản báo cáo chính trị của Hồ chủ tịch trước Đại hội Đảng miền Bắc năm 1959 và nghị quyết của Bộ Chính Trị Đảng, đề ra những nhiệm vụ mới, đường lối, chánh sách, vai trò của Đảng trong cuộc đấu tranh cách mạng Miền Nam. Xong, đại hội tuyên bố thành lập Đảng “Nhân Dân Cách Mạng”. Từ nay “Trung Ương Cục Miền Nam” Đảng Lao Động Việt Nam sẽ được cáo chung, vì ngôn từ đó, cái tên đó không còn thích hợp với tính chất giai đoạn mới. Chỉ có Trung Uơng Đảng Nhân dân Cách mạng Miền Nam mà thôi !

Đảng xác nhận rằng, Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Đảng là đảng của công nông, lập trường của Đảng là lập trường công nông, lý thuyết chỉ đạo là lý thuyết Mác xít, Lê nin nít. Đường lối đấu tranh là chính trị kết hợp song song với vũ trang.

Theo truyền thống và quan điểm lập trường của Đảng, quân đội phục vụ chính trị thì quân đội phải là quân đội của Đảng, là sức mạnh để thực hiện đường lối chủ trương cũng như bảo vệ Đảng. Quân đội tuyệt đối do Đảng lãnh đạo, không chấp nhận một tư tưởng nào khác, ngoài tư tưởng Mác Lê nin. Do đó, đảng phải nắm quyền chỉ huy, chuyên chính.

Về phần Bộ Chỉ huy các lực lượng quân sự “R”, tại đại hội thành lập Mặt Trận, theo chỉ thị của Nguyễn Chí Thanh, Trung Uơng quyết định đưa Trần Nam Trung ra làm Ủy viên quân sự. Trần Nam Trung tức là Trung tướng Trần Lương, Ủy viên Trung Ương Đảng Lao động VN. Trần Lương, vì nhiều lý do chính trị, quân sự cũng như ngoại giao, chưa tiện xuất hiện ở Đại hội thành lập Mặt Trận hoặc ở Miền Nam, nên Trần Công Khanh tức Tư Khanh cấp bực Thượng Tá được Trung Uơng ở miền Bắc chỉ định đảm nhiệm thay. Tư Khanh nguyên Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh chiến trường C, tức chiến trường Lào 1955 đến 1958.

Danh từ “R” biểu hiện sự có mặt một cơ quan chỉ huy về quân sự cao cấp nhất của CS ở Miền Nam, dù rằng thực tế lúc đó chưa có Bộ Chỉ huy. Đơn vị vũ trang của “R” chưa quá hai Tiểu đoàn.

Sang năm 1961, Trung Ương Cục chỉ thị cho các “I” phải cố gắng tuyển tân binh gởi về “R” bằng mọi cách : tuyên truyền, vận động, kể cả việc dùng biện pháp “quân sự” như càn vào ấp chiến lược lùa thanh niên đi theo, nếu ai kháng cự xem như đó là phần tử phản động ngoan cố, có quyền áp dụng mọi biện pháp mạnh để làm gương cho những kẻ khác. Rồi những việc chận xe đò, đón đường “mời” khách qua đường ở những quãng vắng v.v…

Số thanh niên đó được gom từ xã lên quận, quận gom về tỉnh để đến căn cứ, huấn luyện quân sự, chính trị từ một tuần đến vài tuần, tùy theo từng địa phương. Sau đó, chọn lựa hoặc gởi về “R”, hoặc giữ lại cho lực lượng cơ động tỉnh, hoặc trả về cho địa phương, vì nhiều lý do.

Vì vậy, số tân binh của các “I” gửi về “R” căn bản quân sự, bắn súng chưa rành, học hành về chính trị, về tổ chức chẳng ra làm sao cả thì mong gì đánh chác, chủ lực với ai ? Trước sự kiện đó, “R” thành lập trường huấn luyện tân binh. Tân binh nào được đưa về “R” bổ sung vào các đơn vị chiến đấu phải qua trường này. Mặt khác, nó còn huấn luyện hộ cho I-4 và I-1.

Về U-60 , được thành lập với tư cách Hậu Cần Khu B, quản lý suốt vùng đất Tây Ninh và Bình Long, giới hạn bởi sông Bà Hão, sông Saigon chạy suốt đến biên giới Miền. Nó cũng có đủ những bộ phận:

– B-1, B-2, B-3, B-4, B-5, B-6 ;

– các C bảo vệ ;

– các trạm thu mua ở An Tịnh (Trảng Bàng), Suối Cụt, Phú Hoà đông (Bình Dương), Cầu Khởi (Tây Ninh) và biên giới Miên – Việt ;

– hệ thống kho thực phẩm cũng như các bộ phận chuyên môn khác.

Nếu so sánh về mặt cung cấp, dự trữ chiến lược thì nhiệm vụ của nó quan trọng hơn Khu A nhiều. Trách nhiệm của nó nặng hơn Khu A gấp bội. Nó phục vụ cho các cơ quan, các lực lượng “R” hoặc bất kỳ từ đâu đến Khu B, đến “R” công tác. Chẳng những vậy, nó còn hỗ trợ cung cấp cho các khu khác khi cần đến sự chi viện tiếp sức.

Nhưng về vấn đề quyền hạn, trách nhiệm chỉ huy, điều hành công tác so với Khu A nó khác biệt rất nhiều.

Nếu Đảng ủy Khu A (U-50 ) nắm quyền quản lý đất đai Khu A, công tác có tính cách độc lập như Phân “R” hay Phân Cục của Cục Hậu Cần. Đảng ủy Khu B (U-60 ) thì gần như luôn luôn có sự can thiệp của “R” và “R” quyết định, điều khiển mọi công tác, từ kế hoạch phân phối, kế hoạch bảo vệ cho đến địa điểm đóng quân xây căn cứ, nhất nhất đều phải xin chỉ thị của “R”.

Có tình trạng đó vì các cơ quan cao cấp nhất của “R” đều đóng tại Khu B . Khu B không là căn cứ, vùng quản lý của U-60 nữa mà còn của “R”. Đã là căn cứ của “R” tất sự điều khiển, kiểm soát, công tác đều phải do “R” trực tiếp lãnh đạo. Ngay như kế hoạch bảo vệ căn cứ, Cục Tham Mưu nghiên cứu rồi phổ biến đến từng đơn vị cơ quan đóng ở Khu B. U-60 chỉ có quyền hạn trong nội bộ và điều khiển các đơn vị trực thuộc trong phạm vi thu mua ở cạnh “R”. U-60 chỉ là một cái bóng mờ như những vì sao còn sót lại của buổi sáng sớm, lúc mặt trời hé mọc.

Ban chỉ huy của U-60 đến 1963 được thay đổi lại.

Tám Cường về Hậu Cần, Hai Phục thuyên chuyển sang làm Chính Trị viên trường huấn luyện Quân y “R”. Thay vào đó, những cán bộ Hậu Cần từ Miền Bắc trở về nhiều khả năng, nhiều kinh nghiệm hơn : Ba Thắng, Tư Mai, Bảy Hùng. Cho đến năm 1967, sự thay đổi này vẫn còn nguyên vẹn.

Như trên đã nói, bộ mặt và sinh hoạt của Khu B tùy thuộc vào “R” cho nên mỗi khi nói về Khu B, người ta nghĩ ngay đến Bộ Chỉ huy “R”, Bộ Chỉ huy “R” còn gọi là Bộ chỉ huy Ba Cục tức Cục Chính Trị, Cục Tham Mưu, Cục Hậu Cần.

Cuối năm 1962, Trung đoàn chủ lực thứ hai của “R” được thành lập mang tên Q-762 do Tám Vân làm Trung đoàn trưởng. Như vậy, thực lực lúc bấy giờ “R” có được 3 trung đoàn là Q-761, Q-762, và U-70 .

Nhưng U-70 (sau nầy đổi lại là Trung đoàn 87) là Trung đoàn bảo vệ “R”, bảo vệ căn cứ, gần như chưa xuất trận, tham gia chiến dịch nào. Nếu có, chỉ là những trận đánh lẻ tẻ, đánh du kích qua những trận càn của quân đội Mỹ vào Khu B từ đầu năm 1966 đến nay. Chỉ có Trung đoàn 1, Trung đoàn 2 tham chiến hết trận này sang trận khác trong khu vực Tây Ninh, Bình Dương, Phước Thành, Bình Long, cả khu E, Bà Rịa.

Thành lập được 3 Trung đoàn chủ lực đã là một cố gắng, vấn đề bổ sung quân số cho 3 Trung đoàn đó sau mỗi trận đánh chống càn, hay mỗi chiến dịch là cả một việc khó khăn. Nói đến lực lượng quân sự, nói đến lính, phải nói chiến đấu, chứ đâu phải có lực lượng quân sự để chơi. Huống hồ, không muốn đánh giặc cũng không được, hết trận bao vây này đến trận bao vây khác của quân đội Quốc Gia, tứ đầu thọ địch chứ không phải là lưỡng đầu thọ địch nữa ! Rồi còn những cuộc công đồn để mở rộng căn cứ, tạo cho “R ” có một vùng căn cứ rộng tương đối an ninh. Và đã là con người, không ai không bệnh tật, nhất là ở vùng rừng núi, vi trùng sốt rét là chúa tể, không ai thoát khỏi tay nó thì mối đe dọa nghiêm trọng, khủng khiếp nhất, thường xuyên đối với các Trung đoàn chủ lực là sốt rét chứ không phải quân đội Quốc Gia.

Qua những trận đánh Bến Cầu, Gò Dầu, Bến Súc, Trảng Bàng, Bàu Bàng. Đường Long, Bồ Túc v.v… nó chứng minh một cách hùng hồn về vấn đề hao hụt quân số cần phải bổ sung đó. Và những bảng tổng kết, thống kê hàng năm lưu trữ tại phòng Quân y của cục Hậu Cần “R”, bệnh sốt rét không là đầu mối của sự quan tâm lo lắng của “R” sao ?

Với những lý do trên, phải đến năm 1964 “R” mới có thêm được Trung đoàn 3 (Q-763) do I-3 và I-2 mỗi nơi trích ra một đại đội trong các tiểu đoàn cơ động tỉnh tạo thành. Quân số chủ yếu tạo thành Q-763 là I-3.

Tháng 8 năm 1965, ba trung đoàn này được ghép thành Công trường 9 (sư đoàn 9). Đồng thời, “R” ra lệnh tập trung hết các đơn vị địa phương của I-1, và Khu A biên chế thành Công trường 5 (sư đoàn 5).

Sang năm 1966, 2 trung đoàn 1ính nghĩa vụ từ Miền Bắc đưa vào (trung đoàn 16, trung đoàn 40) hợp với trung đoàn 87 (tức trung đoàn bảo vệ “R”) thành lập Công trường 7 (sư đoàn 7).

Từ năm 65 trở về sau, lấy cái “mốc” trận Đồng Xoài làm chuẩn (tháng 6-65) thì vấn đề quân số bổ sung hết sức gay go. Tân binh không có, các trường huấn luyện phải đóng cửa. Các “I”, các tỉnh, nơi nào cũng thiếu vì chiến trận ngày càng ác liệt với sự tham gia của quân lực Đồng Minh. Hết trận này đến trận khác, vừa choảng nhau xong chưa kịp nghỉ ngơi, báo cáo xin thêm quân số bổ sung cho số thương vong trận rồi thì lại bị vây, buộc phải nhận chiến, đánh thêm trận nữa, trong khi đạn hết, lương thiếu, chiến sĩ mệt nhoài và quân số chiến đấu còn chừng phân nửa.

Nghĩa là từ cái “mốc” 1965, đánh dấu một giai đoạn mới, thay đổi hoàn toàn bộ mặt và ý nghĩa cuộc chiến tranh ở Miền Nam, mở đầu thời kỳ quân đội miền Bắc ồ ạt xâm nhập Miền Nam chiến đấu thay cho “Giải phóng qưân”, làm nhiệm vụ viễn chinh cho Hà-nội và cho Đảng.

Bộ chỉ huy “R”, trong những năm trước 1963, ngoại trừ những lần xuất hiện của Nguyễn Chí Thanh, của Trần Lương, Trần văn Trà, xem như chỉ có “”Hai chủ tịch xe ngựa”, Tư Khanh, Tư Thắng và Ba Định là những người trực tiếp điều khiển, chỉ huy “R”. Vai trò của Nguyễn Chí Thanh, của Trần Lương, Trần văn Trà là vai trò của Trung Uơng Đảng đến kiểm tra, chỉ thị kế hoạch.

Bắt đầu từ năm 1963 trở về sau, Nguyễn Chí Thanh, Trần Lương, Trần văn Trà thực sự có mặt thường xuyên tại Bộ chỉ huy “R”. Rồi thêm vào đó, hai nhân vật cao cấp mới : Ba Long và Trần Quốc Vinh.

Ba Long tức tướng Lê Trọng Tấn, trước kia là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 trong chiến dịch Cao Bắc Lạng (1950) và sau đổi lại thành sư đoàn 312, sư đoàn chủ công Điện Biên Phủ (1953- 1954). Còn Trần Quốc Vinh tên mới của Chính ủy Trần Độ, nguyên Chính ủy Đại đoàn 312 rồi Chính ủy sư đoàn 312. Năm 1963, vừa được thăng Trung tướng là vào Nam để bổ sung cho Bộ chỉ huy “R” cùng một lượt với Lê Trọng Tấn.

Việc đổi tên mới, chọn bí danh mới, là một việc rất bình thương, đúng theo nguyên tắc Đảng mà thôi. Có thế, địch mới không phát giác được tung tích, tránh con mắt kiểm soát của Ủy hội Quốc Tế và tình báo của đối phương. Có thế, vấn đề chính trị cũng như ngoại giao mới tránh được những phiền toái, rắc rối. Và ít ra, họ cũng đạt được kết quả mong muốn ở những năm đầu. Mãi đến năm 1966 mới lộ chân tướng trước công luận và vấn đề này trở thành một sự việc “đã rồi”.

Với Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính Trị, Đại tướng Chính ủy toàn quân của miền Bắc dĩ nhiên là nhân vật cao cấp nhất ở Miền Nam.

Kế đến, là Trần Lương, Ủy viên chính hức Trung Ương Đảng.

Tiếp theo là Trần văn Trà, Ủy viên dự khuyết Trung Uơng Đảng, Trung tướng của quân đội miền Bắc, rồi đến Lê Trọng Tấn, Trần Độ v.v…

Họ đã thay chân hoàn toàn cho Trung Ương Cục Miền Nam, cho Bộ Chỉ huy “R”, nắm trọn quyền lãnh đạo, điều khiển toàn bộ cái gọi là “cuộc cách mạng Miền Nam”.

Trước kia, khi chưa có những nhân vật cao cấp này vào, “Hai chủ tịch xe ngựa” được xem như là nhân vật số 1, quyền thế nhất về phía Đảng cũng như “R”. Bây giờ, “Hai chủ tịch” chỉ còn là một bóng mờ, một dư hương của ngày xưa, một con đom đóm nhỏ bay bổng tít mù lẩn mất vào trong khu vực của những vì sao lớn. Chẳng những vậy, những Khanh, những Thắng, rồi Ba Định v.v… chỉ còn là những cán bộ cấp dưới, phụ trách những đơn vị trực thuộc theo lệnh của Bộ Chỉ huy mới do Trung Uơng Đảng gửi từ Hà-nội vào. Nhưng… có một điều mà “Hai chủ tịch xe ngựa”, Khanh, Thắng, cả Quốc Đăng – một “khai quốc công thần” – không ngờ, là “trường hợp Nguyễn thị Định “.

Nếu từ năm 1963 đến nay:

– Nguyễn Chí Thanh đương nhiên là Bí thư Trung Ương Cục, Bí thư Quân ủy Miền, quyền uy tột đỉnh;

-Trần Lương, Phó bí thư Trung Ương Cục , Tư lệnh Bộ Chỉ huy “R”;

– Trần văn Trà đảm nhận Phó Tư lệnh “R” ;

– Lê Trọng Tấn, Phó Tư lệnh kiêm Cục trưởng Cục Tham Mưu;

– Trần Độ, Phó Tư lệnh kiêm Cục trưởng Cục Chính Trị kiêm phó Chính ủy “R”,

thì địa vị “Hai chủ tịch xe ngựa”, Khanh, Thắng tuột xuống hàng thứ yếu, một cấp dưới, trực thuộc của “R”.

“Hai chủ tịch xe ngựa” chuyển về làm thuần công tác Đảng, một ủy viên Thường vụ Trung Ương Cục, và cũng là một ủy viên của Quân ủy Miền.

Khanh trở thành Cục phó Cục Tham Mưu. Thắng được bổ nhiệm Cục trưởng Cục Hậu Cần. Các Cục chỉ là những bộ phận trực thuộc của Bộ Chỉ huy.

Trường hợp của Nguyễn thị Định là một trường hợp hi hữu, đặc biệt. Trong những năm trước, khi “Hai chủ tịch xe ngựa” là Bí thư Trung Ương Cục , Định chỉ là Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bến Tre. Bắt đầu từ 1959, sau lần gặp Nguyễn Chí Thanh tại đại hội thành lập Mặt Trận, Định được đề bạt, thăng cấp Bí thư Khu ủy 12. Đến 1963, Định lại được quyết định thăng lên hàng Ủy viên Trung Ương Cục, ngang hàng với “Hai chủ tich xe ngựa”, Khanh, Thắng, Quốc Đằng. Đến 1964, Định được đề cử làm Tư lệnh Phó, Bộ Chỉ huy tối cao các Lực lượng vũ trang, bán Vũ trang Miền, nghĩa là về phía chính quyền, Định là cấp trên, là cấp chỉ huy trực tiếp của Khanh, của Thắng, ngang hàng với Trà.

Năm 1963, trên đường công tác sang Khu A, Khanh vượt lộ 13 bị một đơn vị biệt kích của Quốc Gia phục kích, Khanh bị hạ sát tại chỗ. Anh cần vụ và tiểu đội cận vệ phải giải vây trối chết, mở đường máu chạy thụt mạng, mới còn sót được vài chư vị.

Đơn vị biệt kích ngày hôm đó, có lẽ chỉ biết mình vừa hạ sát được một “cán bộ cao cấp của Việt Cộng”, nhưng cao cấp như thế nào, tên tuổi ra sao, địa vị, chức vụ tất không sao biết rõ. Anh em biệt kích cắt lấy đầu của Khanh, tịch thu cây súng ngắn Browning với túi tài liệu mang theo.

Anh cận vệ của Khanh chạy bán mạng, chừng nửa giờ sau gặp Tiểu đoàn D-500 của I-1 chận hỏi, anh ta mới khóc lóc báo tin đó và yêu cầu tiểu doàn này truy kích theo để lấy lại thủ cấp chôn cho nguyên vẹn. D-500 hối hả băng rừng, lướt bụi, mấy giờ sau mới tìm gặp đơn vị biệt kích, dùng chiến thuật biển người mới giật lại được.

Về cái chết của Thắng, thực là một cái chết lãng òm. Thắng chết vì tai nạn B52 ở Hố Đá ngày 24 tháng 12 năm 1965 – ngày thứ hai của chiến dịch Dầu Tiếng, tấn công vào sư đoàn 5 Bộ binh của Việt Nam Cộng Hoà ở rừng cao su Dầu Tiếng.

Sau khi thành lập Công trường 9 (sư đoàn 9), chiến dịch Dầu Tiếng là trận Công trường 9 xuất quân đầu tiên. Thắng là Cục trưởng cục Hậu Cần, cũng là chủ tịch Hội đồng Cung cấp Trung Uơng. Thắng đi kiểm tra hệ thống cung cấp ở khu C. Dầu Tiếng thuộc khu C, Đảng ủy Hậu Cần ở đó có nhiệm vụ cung cấp và phục dịch mọi nhu cầu cho các đơn vị phục vụ chiến dịch. Mười Bị là Thủ trưởng khu C, bí thư Đảng ủy. Thắng đến công tác với Mười Bị để kiểm tra tình hình và chỉ thị kế hoạch công tác.

Trong những ngày đầu chiến dịch, Thắng đi thăm các cơ sở cung cấp nằm ở khu C. Khi đến Hố Đá thăm Tiểu đoàn dân công phục vụ đóng quân tại đó, thì có tiếng phi cơ B52 tới.

Thông thường, kinh nghiệm cho biết B52 thả bom chia làm nhiều đợt, mỗi đợt 3 chiếc sắp hàng dọc so le nhau. Từ đợt này cách đợt kia từ 1 đến 3 phút. Lần đó, B52 thả đến mười mấy đợt.

Mấy anh em cận vệ xô Thắng xuống chiến hào sâu đến đầu người ở bên đường. Dưới chiến hào, hai bên vách đều có khoét những lỗ sâu vào gọi là hàm ếch. Anh em cận vệ kéo Thắng vào hàm ếch, Thắng không chịu vào. Thắng cho rằng chui vào hàm ếch dễ bị đất sụp, đè chết một cách lãng nhách. Anh em năn nỉ mấy cũng không được.

Loạt bom thứ nhất rơi xuống đúng địa điểm Tiểu đoàn dân công mà Thắng đang có mặt. Dưới chiến hào đầy nhung nhúc những người. Bom nổ inh tai, khói bốc mù mit. May mắn, không trái bom nào rớt đúng chiến hào.

Đến 3 chiếc B52 đợt thứ hai, ném bom xuống, tiếng bom rơi xé gió ào ào như cơn bão. Một anh cận vệ cố kéo Thắng vào hàm ếch, Thắng cứ dằng ra. Bom nổ hàng loạt, đất lại văng tung toé, cây cối gẩy đổ ngổn ngang ập xuống chiến hào. Và một cành cây gẩy rơi xuống cắm đúng giữa đầu Thắng. Thế là Thắng hy sinh, trong khi hàng trăm người ở khu vực đó không ai làm sao cả.

Ngoài mấy anh cận vệ, không một ai biết đó là Tư Thắng Cục trưởng cục Hậu Cần “R”, chủ tịch Hội đồng Cung cấp Trung Uơng. Quan trọng hơn, Thắng là Ủy viên Trung Ương Cục Miền Nam.

Điện báo về “R” sau đó 45 phút. Xe Thắng được một trung đội hộ tống, cáng bằng võng, đi ngày đêm hỏa tốc về Suối Nước Trong, nơi Bộ chỉ huy “R” đóng để làm lễ truy điệu và chôn cất.

Đám táng của Thắng diễn ra trong lặng lẽ, âm thầm.

Ngoài 8 anh cảnh vệ của tổ chức đặc cảnh B1 khiêng áo quan, tham dự đưa theo ra phần mộ chỉ vài mươi người khách toàn bộ Bộ chỉ huy “R” và vài cán bộ cao cấp của Cục Tham Mưu, Cục Chính Trị với tất cả Đảng ủy viên Cục Hậu Cần. Đám táng được giữ bí mật. Nhưng rồi vài tháng sau cán bộ, chiến sĩ của ba Cục, ai ai cũng biết rõ về cái chết của Thắng.

Lúc Thắng còn sống, Ban chỉ huy Cục Hậu Cần có Tư Võ và Năm Hòa. Cả hai đều mang cấp bậc đại tá của quân đội Miền Bắc vào Nam đảm nhiệm chức vụ Cục phó Cục Hậu Cần.

Trong dịp này, mọi người tưởng là ” Hai chủ tịch xe ngựa” sẽ được Sáu Vi (Nguyễn Chí Thanh) và Trung Ương Cục cử vào chức vụ này thay thế cho Thắng. Nhưng không, Năm Hòa được bổ nhiệm thay làm Cục trưởng. Điều này có nghĩa Năm Hòa được thăng cấp lên Thiếu tướng, uy tín đối với Đảng được nâng cao.

Về sự sắp xếp tổ chức cũng như cán bộ của “R” cứ giữ y như thế cho đến hôm nay (1967).

Nhưng cũng cần ghi nhận thêm rằng, về vấn đề cán bộ cao cấp của “R”, năm 1964 “R” được bổ sung thêm năm ông Tướng khác, do sự điều động và bổ nhiệm từ Hà-nội.

– Ông tướng thứ nhất là Thiếu tướng Hoàng Cầm, bí danh Năm Thạch. Hoàng Cầm nguyên là sư trưởng sư đoàn 312 từ năm 1957 ở miền Bắc, thay chân cho Thiếu tướng Đàm Quang Trung. Hoàng Cầm từng được miền Bắc đề cao là người hùng trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

– Ông tướng thứ hai là Đồng văn Cống, nguyên Tư lệnh sư đoàn 330 một trong hai sư đoàn Miền Nam tập kết. Xuất thân là biện làng, rồi tiến lên làm hương quản ở Hương Điềm, quận Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, Cống gom góp được một số súng 2 lòng, súng lửa cầm đầu Phong trào tự vệ ở quận nhà, sau tháng 8 năm 1945. Năm 1946, Pháp chiếm lại tỉnh Bến Tre, Cống chiêu mộ một số anh em trong làng, trong quận để thành lập “bộ đội anh Cống”. Rồi Cống gia nhập Đảng, được Đảng cất nhắc phong làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 99. Năm 1954, tập kết ra Bắc, Cống được đề bạt lên Tư lệnh sư đoàn 330. Năm 1958 phong quân hàm, Cống mang lon đại tá. Và đến 1963, thì Cống được thăng Thiếu tướng, rồi được Đảng bí mật đưa đến Nam Vang bằng phi cơ. Sau đó, Cống đi xe đến tỉnh Tà Keo, vượt biên giới Hà Tiên về U Minh thượng, nhận nhiệm vụ Tư lệnh Quân khu 3 tức I-3. Cống nhận nhiệm vụ từ Hà-nội nên không phải ghé “R”, vấn đề bảo vệ sẽ ít gặp phiền toái, vất vả hơn.

– Ông tướng thứ ba là Tô Ký, nguyên Tư lệnh kiêm Chính ủy sư đoàn 330. Tô Ký xuất thân là công nhân “Ba Son” Sàigòn, gia nhập Đảng Cộng sản Đông dương trước 1945. Năm 1945, là chi đội trưởng chi đội 16, sau đổi thành Trung đoàn 312 của khu 7, miền đông Nam bộ. Về Đảng, Tô Ký còn là Bí thư Khu ủy, cho nên khi tập kết ra Bắc, Tô Ký vừa là Tư lệnh Sư đoàn 330, vừa là Chính ủy Sư đoàn, và khi phong quân hàm, Tô Ký được đề bạt là Thiếu tướng. Sau đó, Tô Ký được thuyên chuyển đến Quân khu Tả Ngạn làm Chính Quân khu. Tô Ký nhận nhiệm vụ từ Hà-nội, nên cũng được đưa bí mật vào Nam Vang, đi xe về Sway Riêng, vượt biên giới nằm ở ven biên Đồng Tháp Mười, để lãnh đạo Quân khu 2 (I-2) cả về mặt quân sự lẫn Đảng, nhất là chỉ đạo cho tỉnh Long An làm thí điểm ” chống vây quét ” phá kế hoạch “bình định Long An”. Như vậy, so với Đồng văn Cống, Tô Ký “nặng cân” hơn nhiều, rất có uy tín đối với Trung Uơng, và rất được “R” kính nể .

– Và ông tướng thứ tư là Nguyễn Hữu Trí, tức Huỳnh văn Trí, tức Mười Trí, “vị anh hùng” thứ 10 của nhóm anh chị du côn chuyên đứng bến Bình Xuyên khi xưa. Sau 1945, lợi dụng uy thế của nhóm anh chị có súng ống trong tay này, Trần văn Giàu đã cử Bảy Viễn làm Khu Bộ phó khu 7. Khu 7 tức miền Đông Nam bộ. Tuy là một tay trong nhóm anh chị Bình Xuyên này, nhưng thực ra Mười Trí là người của Đảng CS Đông Dương cài vào để làm nồng cốt, lãnh đạo. Mười Trí có học, khôn ngoan, là một tay có khả năng về chính trị nên Mười Trí được cử làm Chính trị viên khu 7, để kềm chân bớt cái tính du côn của Bảy Viễn. Sau ngày Bảy Viễn về thành đầu Pháp, Trí vẫn ở nhiệm vụ cũ, cho đến ngày tập kết ra Bắc, thụ phong Thiếu tướng, nhận nhiệm vụ ở Tổng Cục Chính Trị và ở Ủy Ban Miền Nam với Trần văn Trà. Trí về Nam cũng bằng con đường của những ông Tướng (đi phi cơ đến Nam Vang), nhưng khác là Trí về “R”, qua biên giới Tây Ninh và sau đó nhận nhiệm vụ của “R”, đặc trách về tôn giáo vận, Trí mạo nhận là sư thúc Hòa Hảo để gạt tín đồ Hòa Hảo.

– Ông tướng thứ năm là Thiếu tướng Lê văn Tưởng, bí danh Hai Chân. Lê văn Tưởng nguyên là Phó Phòng Chính trị khu 7, rồi Ủy viên Phân khu ủy Phân Liên khu Miền Đông thời kháng chiến chống Pháp. 1954, Tưởng tập kết ra Bắc. Năm 1958 được phong quân hàm đại tá, công tác ở Tổng Cục Chính Trị. Sau được thăng Thiếu tướng, làm Chính ủy Trại tập kết Xuân Mai, huấn luyện cán bộ trở về Nam. Về Nam năm 1964 bằng tàu ngầm, Tưởng được giao nhiệm vụ Chính ủy Bộ chỉ huy tiền phương, rồi sau đó là Chính ủy Công trường 9.

Về chuyện đường về Nam, lính “R” trong những lúc trà lá đấu láo với nhau, xếp thành ba loại. Loại thứ nhất là loại cỡi gió, loại thứ hai là cỡi sóng và cỡi ngựa, loại thứ ba là loại… “cỡi ba lô “.

– Loại cỡi gió, tức về Nam bằng con đường phi cơ thì chỉ có những cán bộ “cao cấp lớp trên tức hàng tướng về quân sự, hàng Trung ương Ủy viên về phía Đảng.

– Loại cỡi sóng và cỡi ngựa dành cho cán bộ cao cấp và trung cấp lớp trên, nghĩa là từ cấp Thiếu tá đến đại tá. Cỡi sóng là được về Nam bằng “tàu xung kích” hay tàu ngầm. Cỡi ngựa thì quá rõ ràng, không cần giải thích nữa.

– Loại thứ ba là… ba lô cỡi lại, tức là phải lội bộ, vượt Trường Sơn, mang nặng, vác nhiều, đói phờ râu và sút ít ra là 5 kí thịt, khi về đến Khu A. Hai loại trên được cỡi này, cỡi nọ. Loại thứ ba chỉ bị cỡi mà thôi.

Đời sống Khu B khác các khu khác ở chỗ không phải vất vả về vấn đề gạo và thực phẩm. Các cơ sở thu mua của hậu cần Khu B gặp nhiều thuận tiện, dễ dàng nên mỗi tháng mua vào vài chục triệu là thường.

Về phía “R” đã thế, cơ quan dân chính của Mặt Trận cũng gặp nhiều dễ dàng hơn. Nếu về phía quân đội, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, không có một chính sách cách biệt, ưu đãi một thành phần nào, ngoại trừ những cán bộ cao cấp, thì ở các cơ quan dân chính của Mặt Trận, vai trò của Đảng là vai trò lãnh đạo ngầm, tránh sự lộ liễu chán chường, xuất hiện nguyên vẹn hình thể với đôi tay to lớn và cứng rắn nắm chặt lại, như bất cứ lúc nào cũng có thể nện thẳng vào mặt mọi người, nên Mặt Trận có đủ mọi chính sách dung nạp, cũng như ưu đãi mọi từng lớp người, mọi trường hợp riêng tư, đôi khi gần như phản bội lại đường lối, chính sách Đảng, để ngụy tạo cho nó có một bộ mặt dân chủ, bộ mặt vô đảng phái, ôn hòa có lợi về mặt tuyên truyền, về mặt chính trị, đối nội và đối ngoại.

Và nếu ở quân đội người ta tuyên bố : “Tất cả các đồng chí đều là những cán bộ, chiến sĩ cách mạng, vì đảng, vì dân mà chiến đấu, các đồng chí phải tuyệt đối chấp hành mọi mệnh lệnh, chính sách đảng vì quân đội và công cụ, là cánh tay phải của đảng…v.v…” thì ở các cơ quan quân chính, người ta nói một cách nhẹ nhàng hơn : “Chúng ta đi làm cách mạng là vì đân, vì nước, đánh đuổi đế quốc xâm lăng, giải phóng dân tộc thoát khỏi ách nô lệ. Chúng ta chiến đấu dưới ngọn cờ Mặt Trận, đoàn kết quy tụ mọi tầng lớp nhân dân trong hàng ngũ cách mạng. Đảng là cố vấn, là kim chỉ nam giúp chúng ta đi đúng đường lối cách mạng, đúng đường lối quần chúng, phù hợp với nguyện vọng của toàn dân “.

Nó nhẹ nhàng thế đấy! Đảng chỉ là một người cố vấn như bao nhiêu cố vấn khác, không bắt buộc ai phải nghe theo cả. Nó dân chủ làm sao, nó dễ thương làm sao !!

Ở Mặt Trận, ngoài những cán bộ cao cấp của Đảng như Huỳnh Tấn Phát, Trần Bửu Kiếm, Trần Bạch Đằng, Nguyễn văn Hiếu v.v… được đưa vào làm Phó chủ tịch, Tổng thư ký hay ủy viên, nắm những cơ cấu quan trọng như Văn phòng Thường Vụ Mặt Trận, Ban Đối Nội, Ban Đối Ngoại, Tuyên Văn Giáo, người ta cũng chưa hài lòng. Người ta còn phải đưa cả ông Chủ tịch vào đảng nữa để tránh những rắc rối có thể có sau này. Kết quả, năm 1964 Nguyễn Hữu Thọ được kết nạp đảng viên dự bị và 1965 trở thành đảng viên chánh thức, dưới sự chủ tọa của Trường Sơn, tức Sáu Vi, tức Đại tướng Nguyễn Chí Thanh ủy viên Bộ Chính trị Đảng miền Bắc, Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam trong buổi lễ kết nạp tại căn cứ, gần Xóm Mới (biên giới Tây Ninh Căm bốt)..

Tháng 9 năm 1966, để tăng cường “chất Đảng” trong Ban Chủ tịch đoàn Mặt Trận, Trung Ương Cục quyết định đưa Mười Năng, tức bác sĩ Vũ Cương, chính trị viên phòng Quân Y, phó bí thư đảng ủy Cục Hậu Cần, Kiêm chủ tịch Hội đồng Cung cấp Trung Uơng, sang Mặt Trận làm Phó chủ tịch, thay chân cho bác sĩ Phùng văn Cung đi… dưỡng bệnh.

Trong suốt 1960 đến 1967, các cơ quan Mặt Trận cũng như Văn phòng Mặt Trận không năm nào không bị động và bị những trận càn ở khu vực hai bên đường 22 sát biên giới, và những cuộc oanh tạc hàng ngày của phi cơ.

Nhưng được cái là tiền hung hậu kiết nên cũng chẳng có điều gì đáng kể xảy ra. Còn Bộ chỉ huy “R” cũng như Ba Cực (Tham Mưu, Chính Trị, Hậu Cần) ở mãi tít dưới vùng Katum- Bồ túc, giữa rừng sâu gần biên giới nên an toàn khỏe khoắn hơn nhiều. Chỉ có một lần cuối tháng 8 năm 1965, đang đêm, lúc 3 giờ khuya bị một trận mưa bom bi do B52 ném xuống tại Suối Nước Trong. Rồi liên tiếp mấy đêm sau nữa, thực là vât vả và khốn đốn. Tuy về sinh mạng không hề hấn một ai vì hầm trú ẩn có nắp đậy, nóc hầm có đà cây, thì bom bi có nghĩa lý gì, nhưng cũng đã làm các tướng tá một phen hoảng vía và về vật chất, coi như bị thiệt hại nặng. Toàn bộ căn cứ phải dời ngay từ sáng sớm hôm sau. Do đó những trận bom kế tiếp của B52 chỉ dội xưống rừng hoang, vắng người, nếu có chỉ là những anh lính hậu cần được phân công ở lại gom góp tài sản còn sót để đưa về căn cứ mới.

—> C – E và H
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s