Về “R” (Kim Nhật)- Phần III

9- ĐOÀN ĐIỆN ẢNH TÂN HOA

Sáu giờ sáng- giờ Đông Dương – tức bảy giờ sáng giờ Sàigòn – ngày 11 tháng 8 năm 1965, người ta thấy tại bến đò của “đường dây Ông Cụ”, từ Phước Sang qua lộ 13 về Khu B, ở bờ sông Bé, cả đoàn người đông đảo hơn một Trung đội ngồi chờ xuồng qua sông. Ngỡ là giao liên đưa khách, đưa cán bộ mùa Thu về “R”, nhưng chừng hơn mười phút sau đoàn giao liên của trạm Phước Sang mới đến, và họ qua sông ngay. Như vậy, đoàn người đông đảo đó không phải đoàn giao 1iên rồi.

Nếu quan sát kỹ, thấy có mấy điều đáng chú ý.

Một là, tuy đoàn người chỉ hơn ba mươi nhưng trong đó có đến hơn mười lăm người mang súng ngắn, mang đồ đạc rất nhẹ, rất ít, còn chừng hai mươi người nữa mang toàn tiểu liên AK., vài ba cây trường tự động CKC, và hai trung liên. Số người được võ trang vũ khí chiến đấu này lại mang vác cổng kềnh có vẻ nặng nhọc. Nhìn vào hiện tượng này, nhất định không ai nghĩ đó là một trung đội chiến đấu được. Chiến đấu gì mà sĩ quan maag súng ngắn chiếm gần phân nửa quân số, lình chiến đấu lại mang vác nặng cổng kềnh, vậy thì còn chiến đấu nỗi gì ?

Hai là, trong đoàn đi, khi ngồi nghỉ chân, ít nhiều ai ai cũng nói chuyện đôi câu. Đàng này, có chín ông cán bộ mặt 1ạnh như tiền, tìm chỗ ngồi riêng một mình chẳng nói với ai và cũng không ai nói tới. Trên tay người nào cũng cầm cái bình ton đựng toàn nước chanh đường, thỉnh thoảng đưa lên miệng tợp vài ngụm ròi rút thuốc thơm ra châm hút. Tác phong và cử chỉ đó nhất định không thể là cán bộ “R”. Vì cán bộ của “R” mà như vậy thì coi như lính nó lôi ra đấu tưng bừng, không chịu nổi với nó. Nhìn vào gương mặt của chín cán bộ đó, sao họ có những nét “ba tàu” không chê vào đâu được. Mắt hơi xếch, miệng hơi hô, má hơi gầy, tóc hớt cao, đặc điểm chung như vậy đó. Nếu tinh ý, nhìn qua bao súng ngắn, cán lộ ra ngoài, thấy toàn những súng ngắn loại K.54, và những chiến sĩ trong đoàn đều toàn người miền Bắc. Điều ấy cũng không lạ, nhưng tại sao trong số cán bộ lại có sự hiện diện của Tư Mước, Bí thư Tỉnh ủy Phước Thành ?

Do đó, người ta không hiểu nó ra làm sao cả.

Nhờ nhận diện được Tư Mước nên theo truy Tư Mước, được biết đó là một phái đoàn Trung quốc, gồm chín mạng “Ba tàu đỏ” từ Bắc Kinh đến, qua ngã Hà-nội, rồi “đường đây Ông Cụ” để đến “R”.

Trưởng phái đoàn này là một Trung tướng già mang kính, đang ngồi nghỉ dưới gốc dầu, gậy gác ngang đùi. Cách y hai thước, là một Đại úy ngoài ba mươi tuổi, vừa là cận vệ của y cùng vừa là Bí thư riêng. Trong phái đoàn, hai thầy trò của y là người lớn tuổi nhất, và nhỏ tuổi nhất, cấp bậc cao nhất và cấp bậc thấp nhất. Còn 7 chư vị nọ, chư vị ốm và lùn nhất là Phó phái đoàn, mang cấp bậc Đại tá, tuổi ngoài bốn mươi. Kỳ dư đều mang cấp bậc Thượng tá và Trung tá, xuýt xoát trên dưới bốn mươi.

Riêng Tư Mước, y chỉ biết có ngần ây. Và sự có mặt của y trong đoàn người ngồi ở bờ sông Bé này, do chỉ thị của Trung Ương Cục, của Quân ủy điện xuống cho biết : “có một phái đoàn quân sự Trung quốc đến “R” nghiên cứu về chiến lược chiến thuật và tham quan chiến trường Miền Nam. Tỉnh ủy Phước Thành có nhiệm vự tiếp đón, hướng dẫn và phục vụ phái đoàn trong phạm vi tỉnh mình. Đảng ủy Khu A sẽ đưa phái đoàn trên chặng đường từ bờ sông Đồng Nai đến trạm giao liên Phước Sang ở bờ sông Bé, bàn giao lại nhiệm vụ cho Tỉnh ủy Phước Thành. Tỉnh ủy Phước Thành đưa phái đoàn từ Phước Sang đến trạm Suối Bồ, bàn giao lại cho Tỉnh ủy Bình Long. Vì tính chất quan trọng đặc biệt, Tỉnh ủy Phước Thành phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Trung Ương Cục trên khoảng đường thưộc phạm vi địa phương minh “quản lý”.

Điều đó có nghĩa Tỉnh ủy Phước Thành phải cung cấp mọi nhu cầu cần thiết, tiếp đãi chu đáo và bảo vệ an ninh cẩn thận cho phái đoàn ở địa phận mình. Khi nhận được điện của “R” chỉ thị cho biết, Tư Mước đã phải cấp tốc triệu hồi tiểu đoàn Cơ động Tỉnh đang đóng ở Bà Đã trở về ngay, tung lực lượng này vào việc cảnh giới và kiểm soát tình hình khu vực đường dây từ lộ 16, lộ 13 và lộ Chơn Thành đi Xa Cát. Đặc biệt nhất, khu vực biệt kích thường xuất hiện ở Chơn Thành – Xa Cát đến bờ sông Sàigòn. Chính Tư Mước đích thân đi theo phái đoàn để điều khiển trực tiếp lực lượng phòng vệ và tổ chức nơi ăn chốn ở mỗi khi đóng quân.

Về vấn đề an ninh riêng, Tỉnh ủy Phước Thành coi như đã xong. Việc tiếp đãi, phục vụ vật chất cho phái đoàn được đầy đủ, ở giữa rừng sâu Phước Thành quả là phải cố gắng hết sức. Mước đã phải cho người tiếp xúc trước với các trạm giao liên, trao cho mỗi nơi hai chục ngàn đồng, chỉ thị phải “đi chợ” mua gấp một số hàng cần thiết dự trữ sẵn như gà, vịt, rượu, trà, thuốc thơm, đường, sữa, cà phê, ca cao, chanh tươi, cá hộp, trái cây hộp v.v… nói chung là thực phẩm và những thức cần dùng khác. Sợ rằng các trạm không lo đầy đủ, Mước huy động thêm một tiểu đội tiếp phẩm, mang trên lưng mỗi người một thùng thiếc đầy những món vừa kể để đủ dùng cho phái đoàn. Phải chi có mỗi chín người trong phái đoàn Trung quốc, Mước không lo. Đàng này đi theo phái đoàn còn có hai tiểu đội lính chính quy miền Bắc, xuất phát theo bảo vệ từ khi rời Hà-nội. Rồi còn ba cán bộ thông dịch viên, 2 cán bộ an ninh đặc biệt của Hà-nội phái đi theo để phối hợp với Ban Chỉ huy lực lượng cảnh vệ và Đại úy “Ba Tàu”- cận vệ của Trung Tướng- làm thành Ban Chỉ huy chung cho nội bộ đoàn.

Sáng sớm ngày 11 tháng 8 năm 1965, cả đoàn đi còn dừng lại bên bờ sông Bé, một phần vì các đồng chí “Trung Quốc vĩ đại” mỏi chân, phần khác, hai tiểu đội cảnh vệ mang vác quá nặng. Mỗi người ngoài súng đạn, trang bị cá nhân, còn phải tải thêm một thùng sắt vuông hàn kín, nặng hàng mấy mươi ký (không biết chứa giống chi mà nặng thế!) cũng cần phải cho người ta nghỉ ngơi. Và chính yếu là tiểu đội vận tải thực phẩm, đi lấy hàng mua ở chợ Phước Thành chưa về kịp.

Tiểu đội tiếp phẩm này mới thực là quan trọng, vì trưa nay “đàn anh Trung quốc vĩ đại” sẽ dùng bữa với cái chi đây ? Bồ nhà thế nào cũng được, mắm ruốc cũng xong, muối đâm cũng tốt, cùng quá đói một bữa chả sao, chớ “đàn anh” mà ăn khổ thì cái địa vị Bí thư Tỉnh ủy Phước Thành của Tư Mước sẽ tuột mất. Cả cái Ban Chấp hành Trung Ương Cục Miền Nam cũng không “dễ gì” với Bộ Chính trị ở Hà-nội đâu.

Nhiệm vụ thực sự của phái đoàn này được giữ kín, chỉ có Bộ Chinh trị Đảng ở Hà-nội cũng như Trung Ương Cục Miền Nam biết một cách rõ ràng. Kỳ dư cấp ủy các cấp biết một cách đại khái theo chỉ thị phổ biến hạn chế là “…. phái đoàn quân sự của Hồng quân Trung quốc đến thăm chúng ta, nghiên cứu về chiến lược, chiến thuật của ta cũng như của quân đội đế quốc Mỹ để đúc kết thành những bài học quý giá về chiến tranh nhân dân. Mặc khác, Đảng Cộng sản và Hồng quân Trung quốc muốn được tham quan tận mắt cuộc cách mạng thần thánh của nhân dân Miền Nam. Để giữ được bí mật hoàn toàn về tính chất viếng thăm của phái đoàn Trung quốc anh em, các cấp Ủy chỉ được phổ biến cho tập thể quần chúng cũng như đảng viên biết, đó là đoàn “Điện ảnh Tân Hoa” sang Miền Nam quay phim để làm tài liệu, tuyên truyền ủng hộ ta, giúp ta tranh thủ ảnh hưởng cảm tình của nhân dân thế giới…”.

Đại khái, chỉ thị của Quân ủy, Trung Uơng Cục gửi cho các cấp là vậy. Về vấn đề tiếp đón, chiêu đãi, phục vụ, Quân ủy không cần dặn dò chỉ thị gì, các cấp Ủy bên dưới cũng vẫn thừa biết, “ý thức” được một cách rõ ràng “từ khuya” rồi. Trung quốc vốn là “người anh cả vĩ đại”, hết lòng hết dạ với Việt Nam, là “hậu phương có sức mạnh vô địch đè bẹp đế quốc Mỹ, hậu thuẫn vững chắc cho nhân dân Miền Nam”, là “anh em ruột thịt một nhà” v.v… Vậy thì đối với phái đoàn phải “chu đáo nhất”, “đầy đủ nhất “, ” nồng nàn nhất” , “thân mật nhất”, “vui vẻ nhất” v.v… nghĩa là cái gì cũng “nhất” cả. Tóm lại, có thể nói “những người anh cả” này được tiếp đón, đối xử như những vì thiên tử để tỏ lòng biết ơn sâu đậm và kính nể một bậc thầy vĩ đại.

Khoác lớp áo “Đoàn Điện ảnh Tân Hoa” tất phải biết quay phim, phải mang theo máy, mang theo phim sống. Cái đó đã nặng, còn quà cấp để biếu xén, một ít món hàng viện trợ tượng trưng, chả trách sao hai tiểu đội cảnh vệ phải còng lưng, đuối sức suốt trên quãng đường từ Hà-nội đến “R”.

Trở lại ngày bắt đầu lên đường của Đoàn Điện ảnh Tân Hoa ở Hà-nội, Đoàn Điện ảnh này đi trên một toa xe lửa đặc biệt đổ xuống ga Hàng Cỏ. Tuy không dám tổ chức tiếp đón rầm rộ, sợ sự “thính tai, thính mũi” của gián điệp quốc tế nhưng cũng được Ủy viên Bộ Chính trị, Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên Trung Ương Đảng Lê văn Lương và một số cán bộ quân sự cao cấp Hà-nội mặc thường phục, đem xe Volga đến chờ sẵn. Rồi Đoàn Điện ảnh đó được vào Chủ tịch Phủ, yết kiến Chủ tịch Hồ chí Minh, được mời đến Văn phòng Bí thư thứ nhất Lê Duẫn, đến Ủy ban Thường trực Quốc hội gặp gỡ Chủ tịch Trường Chinh, cuối cùng là những buổi tiếp tân, hội họp chính thức với Tổng Quân ủy Hà-nội và Đại tướng Võ nguyên Giáp. Trong thời gian ở Hà-nội, Đoàn Điện ảnh Tân Hoa được xem là thượng khách của Bộ Tổng, Tổng Cục Chính trị có bổn phận tiếp đón và chìu đãi.

Một đoàn quay phim, một đoàn công tác điện ảmh tầm thường mà được đối xử đặc biệt, được xem là quan trọng đến như vậy sao ? Quả là chuyện khác thường khó thể tin đưọc. Để rồi sau đó, được hai đội cảnh vệ đặc biệt do hai đại úy và hai trung úy cảnh vệ chỉ huy theo hộ tống Đoàn Điện Ảnh Tân Hoa, bí mật rời Hà-nội vào Nam. Chẳng những vậy, Bộ Tổng còn cử đại úy Huệ, sĩ quan của Lực lượng Đặc Phòng, trực thuộc Bộ Chính trị Đảng đi theo làm tùy viên an ninh điều khiển mọi công tác trong phạm vi này.

Đoàn quay phim này, sau khi rời Hà-nội vào ghé thămLiên khu 5 và quay phim các cơ sơ ở đây. Sau đó, ngang qưa tỉnh nào ghé thăm tỉnh đó, các căn cứ nằm trên đường đi, kể cả khu 6, Khu A, rồi Phước Thành. Họ ghé thăm mỗi nơi, để tỏ tình quyến luyến, chua xót gian khổ khó khăn với người Việt Nam, anh em. Họ hỏi rất kỹ về tổ chức, về hoạt động nhất là những diễn biến về chính trị, sinh hoạt học tập thường ngày và những chiến lệ của những trận đánh lớn, nhỏ. Họ hỏi thăm thôi đấy, đừng có ai xấu mồm xấu miệng mà gán cho là điều tra, là kiểm soát, là thanh sát, tội nghiệp cho họ! Oan cho họ !

***

Vì đến đâu cũng bận phải ghé “thăm” nên mãi đến tháng 8-65 mới vào đến Sông Bé, trong khi họ rời Hà-nội từ sau lễ sinh nhựt “Bác Hồ” 19-5-64, nghĩa là gần 15 tháng trời.

Hành trang của Đoàn Điện ảnh Tân Hoa, “không có gì” đáng kể lắm ! Mỗi nhân vật trong đoàn Điện ảnh, dường như họ muốn sống kham khổ, chịu đựng thiếu thốn để cùng chia sớt thông cảm với nỗi gian khổ của đồng bào ruột thịt Miền Nam, nên cái ba lô họ mang trên lưng thì to, nhưng chứa lỏng lẻo có vài bộ quần áo và một ít vật dựng nặng không quá hai ký lô. Lưng chỉ mang mỗi sợi xanh tuya lủng lẳng bao đựng súng ngắn và cái bình ton nước trà hoặc nước chanh đường. Kỳ dư, còn lại bao nhiêu họ nhường cho hơn hai mươi cảnh vệ Việt Nam mang còng lưng. Họ tốt như vậy đó.

Tại bờ sông Bé, khi tiểu đội tiếp phẩm mò đến thì đã tám giờ sáng. Tư Mước sốt ruột nói đổng mấy câu, đoạn báo cho Đại úy Huệ biết là có thể lên đường được rồi. Nước sông Bé cuồn cuộn chảy như cắt. Tre rừng, lồ ồ cao vút, xanh um, uốn ngọn phủ kín bến sông. Xuồng nhỏ không thể chở được nhiều, mỗi chuyến năm người đi, kể cả người bơi xuồng. Theo sự sắp xếp của Tư Mước và Đại úy Huệ, một tiểu đội cảnh vệ sang bờ bên kia trước, cho một tổ trinh sát ba người đi trước cảnh giới. Kế đó là chín “đồng chí Trung quốc vĩ đại”, Đại úy Huệ, Tư Mước, Ban Chỉ huy trung đội Cảnh vệ với tiểu đội tiếp phẩm. Sau cùng là tiểu đội cảnh vệ thứ hai.

Đáng lẽ với quân số gần năm mươi người, cả đồ đạc, qua sông chỉ tốn chừng mười lăm, mười sáu chuyến là xong tất và chỉ đến mười giờ là cùng. Nhưng khi tiểu đội I cảnh vệ sang sông rồi đến phiên các đồng chí “Trung quốc vĩ đại”, mỗi chuyến chỉ chở được một đồng chí nà thôi. Bởi các đồng chí ấy sợ chìm xuồng nên ngoài “đồng chí vĩ đại” chỉ có anh bơi xuồng. Vì vậy số chuyến tăng lên nên mãi đến gần mười hai giờ mới sang sông hết. Chính ở cái chỗ trưa trờ trưa trật đó. đường lại còn xa, các đồng chí “Trung quốc vĩ đại” suýt tí nữa giết chết sáu anh cảnh vệ vùi xác xuống đáy sông sâu.

Số là, khi chín “đồng chí vĩ đại” sang hết bên kia bờ với Huệ, Mước và ba chư vị chông dịch viên thì một thông dịch viên đến thì thầm bảo cho Huệ biết đồng chí Trưởng đoàn yêu cầu lên đường ngay vì không nên ở gần bờ sông lâu, phi cơ địch rất có thể bay dọc theo sông bắn bậy. Huệ định ra lệnh đi nhưng Mước yêu cầu chờ tiểu đội tiếp phẩm sang sông đã. Nếu dọc đường rủi ro gặp một trở ngại bất thần, lạc mất tiểu đội tiếp phẩm thì các “đồng chí vĩ đại” chỉ có nước chết đói. Lý do rất chính đáng nên Huệ phải nghe theo. Đến khi tiểu đội tiếp phẩm sang sông hết thì các “đồng chí vĩ đại” có ý phiền nhiễu nên tất cả hối hả lên đường. Bên kia sông còn lại vỏn vẹn tiểu đội cảnh vệ thứ hai. Lần đầu tiên đi trong rừng lạ, ai cũng sợ lạc đường khi những người dẫn đường đều đi trước, do đó phía sau phải “tranh thủ”, phải hối hả sang sông. Chuyến chót còn đến những sáu người, thay vì phải chia làm hai, đàng này a thần phù dồn vào một. Kết quả xuồng khẫm đừ, ra giữa dòng sông nước chảy mạnh xuồng lật úp.

Trong sáu chư vị, năm chư vị không biết lội. Sông Bé lại sâu hàng chục thước, nước chảy mạnh như thác đổ. Tưởng đâu chết sạch, may sao có thân một cây dầu khô mục trôi theo dòng, cả sáu chới với chộp được, ôm cây thả trôi theo dòng. La cầu cứu thì cầu cứu ai đây ? Tất cả đi mất hết rồi.

Cây trôi được chừng năm trăm thước thì tắp vào bờ vịnh. Nhờ đó mới leo lên bờ được. Kết quả chìm mất hai cây súng tiểu liên A.K., một cây súng lục, bốn cái ba lô, một số đồ đạc linh tinh khác, như khăn, nón, viết, đèn pile, dép râu và chiếc xuồng của đường dây. Không biết sau đó có khách đi trên đường dây, xuồng đâu mà qua sông đây không biết nữa l

Chính vì vậy, chín đồng chí “Trung quốc vĩ đại”, và đoàn cảnh vệ phải đến mười giờ đêm mới mò đến trạm Suối Lung. Giờ đó, hầu hết mọi người đều yên giấc.

Theo nguyên tắc của các trạm đường dây “R”, khu vực đóng quân của khách bao giờ cũng phía ngoài trạm. Mỗi trạm đều có nhà để cho nhân viên của trạm ở và phòng hờ cho một số khách đặc biệt, cán bộ cao cấp trú ngụ. Để bảo vệ căn cứ cho trạm, phía ngoài chung quanh căn cứ đó đều có hệ thống bố phòng như hầm núp tránh phi pháo, giao thông hào để chiến đấu và rút lui, nhất là có hàng rào chiến đấu với cổng bảo vệ, hệ thống lựu đạn gài, hầm chông, bãi chông lan v.v… Những khách được vào nghỉ ngơi trong trạm, tức là những cán bộ cao cấp, những khách đặc biệt sẽ được hưởng sự bảo vệ đó. Còn những khách thông thường, cán bộ sơ cấp, trung cấp, kể cả số cán bộ mùa thu bất kỳ cấp bậc gì cũng đều phải ở ngoài trời, chỗ khu vực dành riêng cho khách ở bên ngoài cổng và hàng rào chiến đấu. Khách phải tự túc lấy việc ăn, ở, trạm không lý tới những việc đó, kể cả vấn đề bảo vệ.

Tốp khách giao liên hôm đó, có mấy người bị sốt rét vật ngã dọc đường, cố lê bước đến trạm và yêu cầu trạm giúp đỡ bằng cách cho bệnh nhân vào nghỉ trong nhà, nhờ nhân viên y tế của trạm tiêm thuốc, nấu cháo, săn sóc hộ.

Nếu những ngày khác, yêu cầu đó có 1ẽ trạm sẽ chấp thuận. Nhưng vì hôm đó được thông báo trước là có “đoàn Trung quốc” đến, chỉ thị cấp trên ra lệnh phải tuyệt đối cảnh giác, bảo vệ chu đáo và phải chuẩn bị đầy đủ mọi phương tiện phục vụ nên trạm từ chối ngay :

– Không được ! Hôm nay vì có một đoàn khách đặc biệt, ở trên chỉ thị cho chúng tôi không được cho phép ai vào trạm. Các đồng chi bị bệnh cũng vậy, ráng chịu khó ở ngoài đi. Nhà thì còn trống nhiều chỗ đấy, nhưng không được.

Có người khó chịu, cật vấn lại :

– Đoàn khách đặc biệt gì cũng vậy. Các đồng chí phải để bệnh nhân vào trạm nghỉ và chăm sóc thuốc men cho người ta chứ! Tháng này trời mưa dầm đề, để ở ngoài rủi ro bệnh nhân hy sinh thì ai chịu trách nhiệm đây?

– Ơ… Ơ ! Các đồng chí thắc mắc cứ về “R” mà báo cáo. trạm chúng tôi được lệnh như vậy thì phải chấp hành.

Trong tốp khách giao liên hôm đó, phần lớn là số cán bộ mùa thu thuộc đoàn K.74 tức đoàn công an võ trang, từ Bắc về Nam và đoàn cán bộ Phòng Tham mưu Khu 6 (T-6) về Bộ Chỉ huy “R” hội họp.

Đặc biệt nhất, có Đặng văn Nhường, (đã được nói tới ở phần trước) vì bị sốt rét liên miên trên đường đi nên còn sót lại một mình, lóp ngóp theo đường dây trong khi đoàn cán bộ mùa thu của Nhường đã về đến “R” mấy tháng trước. Nhường nghe trạm giao liên trả lời như vậy, tự biết thân phận hẩm hiu của mình nên chỉ thở dài, nhắm mắt “thông qua”. Số cán bộ công an võ trang thuộc đoàn K.74 thấy Nhường còn phải chịu nhịn thì họ cũng chả nước nôi gì, làm thinh luôn. Chỉ có đoàn cán bộ Phòng Tham mưu Khu 6 (B1/T-6), Trưởng đoàn là Tham mưu trưởng Quân khu có giấy giới thiệu đặc biệt, đáng lẽ phải được hưởng chế độ đặc biệt là vào trong trạm nghỉ, nhưng đàng này bị cự tuyệt nên nổi nóng lên :

– Đồng chí đó đọc kỹ giấy giới thiệu này chưa ? Tôi 1à Trưởng đoàn đồng chí cũng rõ tôi 1à ai rồi? Huống hồ trong đoàn của tôi có một đồng chí cán bộ D trưởng bị bệnh các đồng chí dù có tiếp đón đoàn khách đặc biệt nào đi nữa thì các đồng chí cũng phải tiếp đón chúng tôi.

Trưởng trạm giao liên trả lời bằng cách đóng cửa ngõ và cài lại, đi vào trong một nước. Cũng vì vấn đề đó, khách đường dây vẫn còn ức, ngồi uống trà “tố khổ” với nhau cho hả tức. Giữa lúc ấy, cái gánh “Đoàn Điện ảnh Tân Hoa” kéo tới. Tư Mước đứng trước cửa ngõ hét om lên :

– Ra mở cửa ngõ mau lên chớ mấy chư vị ! Đèn đóm gì tối om thế này?

Nhờ đứng lu bu đông đặc ở khu vực khách đường dây, Nhường mới chợt nhìn thấy trong số người của đoàn khách đặc biệt có thằng em nuôi của mình là Năm Hùng, hiện là cán bộ của Ủy Ban Đối ngoại của Văn phòng Trung Ương Đảng ở Hà-nội. Nhường mừng rỡ ngóc đầu lên khỏi võng, vén mùng gọi khẽ :

– Chú Năm ơi !Chú Năm ! Chú Hùng! Chú Hùng! Chú lại đây !

Hừng vốn trước kia là Ba Tàu lai, gốc gác ở Chợ Lớn, được gia đình Nhường nhận làm con nuôi, thời kỳ 9 năm chống Pháp công tác ở Phòng Huê Kiều vụ Nam bộ. Tập kết ra Bắc được đưa về công tác ở Ủy Ban Đối Ngoại của Trung Ương Đảng với nhiệm vụ làm thông dịch viên Hoa ngữ. Nghe tiếng gọi, Hùng dáo đác nhìn quanh, như sợ người bắt gặp mình, tách ra khỏi đám đông để đến chỗ Nhường.

Bấy giờ Nhường mới thấy Hùng, chứ Hùng thì đã thấy Nhường lúc sáng sớm ở bờ sông Bé, lúc tốp giao liên dẫn khách đường dây đi ngang, trong số đó có Nhường.Nhường mãi lo lóp ngóp đuổi theo người trước nên không thấy Hùng. Vì kỷ luật của Đảng bắt buộc, nhất là sợ Huệ – xếp an ninh của đoàn – nên tuy gặp anh mình đi ngang qua, mừng vô hạn, nhưng không dám nhúc nhích, hở môi.

Bây giờ nghe gọi, Hùng biết người gọi ấy là ai rồi.

Hùng rón rén bước nhanh đến bên Nhường khẽ hỏi :

– Anh Ba hả anh Ba ?

– Ừ! Tôi đây! Sao chú cũng có mặt ở đây vậy? Còn đoàn này là đoàn nào ?

– Suyt ! Anh nói nhỏ vậy ! Chốc nữa tôi giả bộ đi tắm rửa rồi sẽ gặp anh nói chuyện nhiều. Bây giờ không tiện đâu. Đoàn này là phái đoàn quân sự Trung quốc đến tham quan và nghiên cứu chiến trường Miền Nam. Bí mật phải giữ kỹ. Tôi được Trung Ương phân công đi theo làm thông dịch viên cho đồng chí Trưởng đoàn. Thôi đi nghe anh Ba. Chút nữa tôi lại!

Thế rồi Hùng lĩnh đi, lẫn vào đám đông. Chừng đó Nhường mới vỡ lẽ ra cái đoàn khách đặc biệt mà trưởng trạm nói ban chiều là phái đoàn Trung quốc này đây! Hèn chi!

Khi cổng mở, tất cả “đoàn khách đặc biệt” kéo đi vào trong, chừa lại bên ngoài một tiểu đội án ngữ sát cổng, vừa nghỉ lo cơm nước, vừa canh gác bên ngoài. Toàn là chiến sĩ miền Bắc. Họ cười, gọi nhau om lên làm tất cả khách đường dây đều thức giấc.

Riêng Nhường gặp em trong cảnh bất ngờ đặc biệt này mừng vô hạn, thức trông chừng chờ Hùng ra. Thấy bạn đồng hành, ông Tham mưu trưởng Khu 6 giăng võng nằm kế bên hãy còn thức, Nhường khẽ bảo :

– Tưởng đoàn khách đặc biệt nào, ai dè mấy tay Trung quốc. Anh biết không, thằng Hùng hồi nãy nó là em tôi đấy. Nó làm thông dịch viên cho Trưởng phái đoàn.

Một chốc sau, số khách đường dây nằm quanh Nhường đều biết chuyện đó. Mấy cán bộ công an vũ trang đoàn K.54 kéo tới ngồi xỗm quanh võng Nhường góp chuyện :

– Trong đoàn đó, tụi tôi cũng có quen một người tên Đại úy Huệ, cán bộ Đặc phòng trực thuộc Bộ Chính trị, chắc y đi theo làm sĩ quan an ninh lo bảo vệ phái đoàn.

Theo lời hứa, Hùng xách đồ đi tắm, nhưng trước khi tắm thì lẻn đến với Nhường, gập cả một lô người đang vây quanh Nhường nói chuyện. Sau khi hỏi thăm chuyện gia đình, anh em, Hùng cho Nhường và mọi người biết :

– Biết thì biết, chứ mấy anh phải giữ bí mật, không thì chết tôi ! Đây là phái đoàn quân sự do Đảng Cộng sản Trung quốc và Hồng quân Trung quốc đưa sang tham quan, nghiên cứu về chiến lược, chiến thuật ở chiến trường Miền Nam. Người trẻ nhất và cấp bậc thấp nhất trong chín người của phái đoàn là lão Đại úy cận vệ của Trung tướng Trưởng phái đoàn. Chúng tôi khởi hành sau lễ sinh nhựt Bác 1-5 năm ngoái. Bây giờ, hơn một năm sau mới tới đây. Đi dọc đường ghé lung tung thiên lên. Tại Hà-nội thì có hai tiểu đội cảnh vệ đặc biệt của Bộ Tổng đưa theo bảo vệ. Từ Quảng Trị vào đây, cứ đến đia phận tỉnh nào thì có Tỉnh ủy ở đó tiếp đón, hướng dẫn, phục vụ phái đoàn rồi đưa sang tỉnh khác, bàn giao lại cho Tỉnh ủy kia tiếp đón. Đi đường, phái đoàn được giới thiệu dưới danh nghĩa là Đoàn Điện ảnh Tân Hoa. Mà cũng hay! Mấy cha đó, cha nào cũng biết chụp hình, quay phim. Cha nào cũng có một cái máy chụp hình riêng hết, chỉ có Trung tướng Trưởng đoàn là không biết gì cả. Sướng lắm! Mấy cha đó, nơi nào cũng có một tiểu đội tiếp phẩm mang thực phẩm, đồ hộp, rượu trà theo phục vụ. Như địa phận này là Phước Thành, Tư Mước y chỉ huy cái tiểu đội đó. Tôi cũng nhờ núp bóng Trung tướng Trưởng phái đoàn nên cũng hưởng theo. Khá chớ! Chính mấy tiểu đội theo bảo vệ, mang đồ đạc cho phái đoàn cũng có tiêu chuẩn bồi dưỡng mỗi ngày như trà, đường, chanh, thực phẩm v.v… Chỉ tội nghiệp cho ba thầy trò Tư Mước. Bí thư Tỉnh ủy Phước Thành mãi chạy tới, chạy lui, lo thu xếp cho phái đoàn, ăn uống không xáp vào được đám nào, thành ra chỉ có ruốc với khô.

Thấy Nhường bị bệnh, Hùng vào vận động với Tư Mước thế nào không rõ, mang ra cho Nhường một hộp sữa, một gói trà, nửa ký đường và mấy quả chanh tươi rồi lại hấp tấp trở vào. Nhờ vậy, trên đường đi, từ sau trạm Suối Bé đến đây, mấy cán bộ mùa thu không đào đâu ra trà, đường, giờ gặp may Nhường mời tất cả xúm lại nấu nước pha trà nhai đường táng, kể chuyện tào lao để “hoan hô” phái đoàn Trung quốc.

Tại trạm giao liên Suối Lung, “các đồng chí Trung quốc vĩ đại” được xếp cho ngủ ở hai nhà. Nhân viên của trạm được mời xuống nhà bếp cho nó “ấm”! Từ buổi ban chiều, mấy con gà tàu của anh em ở trạm nuôi tự túc, “Cắc ca cắc cõm” để đành cho nó đẻ, nhân dịp này trưởng trạm cho bắt ráo trọi theo lệnh trên để phục vụ cho các “đồng chí vĩ đại”.

Trông thấy cảnh Mước thực cũng tội. Trong khi ở trong nhà đèn sáng choang, các “đàn anh” đang gậm những đùi gà béo ngậy nhắm rượu, cá hộp, lạp xưởng chiên v.v… hai thầy trò Mước ngồi bệt ngoài sân, đốt đèn chong ăn cơm vắt với mấy miếng khô kho và chai muối tiêu.

Bốn giờ sáng, cả đoàn lại lên đường cho kịp qua lộ 13 vào lúc tờ mờ sáng. Trưa qua lộ Chơn Thành Xa Cát. Chiều qua sông Sàigòn và tối thì đến trạm Suối Bồ.

Ngày hôm sau nữa, Mước sẽ đưa “Đoàn Điện ảnh Tân Hoa” đến trạm Bình Long để giao cho Tỉnh ủy Bình Long, đang “cơm ghe bè bạn” chờ chực tại đây từ mấy hôm nay. Hai con bò tơ đang gặm cỏ bên đám le trước cửa ngõ của trạm Bình Long, đâu có ngờ rằng mình sẽ là vật chiêu đãi cho mấy “đàn anh vĩ đạ”. Để thưởng công cho Mước cực khổ lặn lội, phục dịch mấy hôm nay, một buổi tiệc liên hoan thịt bê thui do Tỉnh ủy Bình Long tổ chức tại trạm Bình Long để tiễn đưa Mước và cái gánh tiếp phẩm của Mước quy hồi về bên kia bờ sông Bé. Mà, chiếc xuồng đã chìm mất rồi, giờ chỉ có nước lấy nylon làm phao, lần dây sang sông để trở về.

***

Riêng “Đoàn Điện ảnh Tân Hoa”, từ đó được đưa thẳng về Phòng Thường trực “R”. Một lễ tiếp đón đã được chuẩn bị sẵn với Tấn, với Độ và một lô cán bộ cao cấp, một đại đội bảo vệ làm hàng rào danh dự, có mấy cô nữ văn công trong Đoàn Văn Công I ôm hoa chờ đợi.

Lễ tiếp rước cũng xôm tụ lắm. Mấy khẩu hiệu bằng tiếng Tàu, lính nó đã học thuộc từ khuya, khi các “đàn anh” đến nó hô loạn cả lên :

– “Mão chớ Tung, oán xối!”
– “Hủ chứ Ming, oán xối!”
– “Oán xối! Oán xối!”

Lại tiệc tùng và hội họp, báo cáo ! Lại “văn công” và ” điện ảnh” được triệu hồi về Bộ chỉ huy để trình diễn phục vụ các “đồng chí Trung quốc vĩ đại “.

Lịch trình tham quan các đơn vị “R” được Cục Chính Trị sắp xếp và loan đi, báo tin cho các nơi biết để chuẩn bị tiếp đón. Các cơ quan, đơn vị trực thuộc Ba Cục được chỉ thị đại ý như sau :

Lần đầu tiên có một phái đoàn “Trung quốc vĩ đại” đến thăm chúng ta. Đó là ” Đoàn Điện ảnh Tân Hoa”. Ngoài việc thăm viếng, đoàn còn được Ban Chấp hành Trung Ương của hai Đảng Trung quốc và Việt Nam giao cho một nhiệm vụ đặc biệt. Do đó, yêu cầu các đồng chí tổ chức thật chu đáo các cuộc tiếp đón phái đoàn để thấy rằng chúng ta rất vui mừng phấn khởi, bộc lộ tình cảm nồng nàn thân thiết nhất như anh em ruột thịt với sự kính mến, biết ơn Mao chủ tịch và nhân dân Trung quốc. Phải báo cáo cho phái đoàn biết thành tích về mọi vấn đề của đơn vị mình. Các đồng chí phải trung thực, không cần giấu diếm gì cả, điều đó rất có lợi cho chúng ta.

Thiên hạ ngơ ngác. Nếu là đoàn Điện ảnh thì việc chi quan hệ mà phải “nhận nhiệm vụ của hai Đảng giao cho” và quyền hạn gì bắt buộc “phải báo cáo thành tích về mọi vấn đề của đơn vị mình”? Nội dung của chỉ thị trực tiếp cho mọi người biết một cách rõ ràng sự quan trọng và quyền hạn đặc biệt của cái phái đoàn mang tên ” Đoàn Điện ảnh Tân Hoa”.

Theo lịch trình được sắp xếp, thời gian đầu phái đoàn đi thăm, tham quan và quay phim các cơ quan, các đơn vị tỉnh tại, trực thuộc Ba Cục ở Khu B. Sau đó, phải đoàn sẽ đến tham quan, nghiên cứu và quay phim hoạt động của Công Trường 9 (Sư đoàn 9). Ở đây, có một trùng hợp mà mọi người ai cũng lấy làm ngơ ngác, thắc mắc không hiểu việc thành lập hai đơn vị Công trường 9 và Công trường 5 có liên quan gì đến phái đoàn Trung quốc không ?

Giữa tháng 8-65, phái đoàn đến “R” thì độ tuần sau có quyết định của Bộ chỉ huy “R” sát nhập ba Trung đoàn chủ lực Q-761, Q-762, Q-763 thành Công trường 9 và ba trung đoàn chủ lực mới thành lập sau : Q-764, Q-765, Q-766 thành Công trường 5.

Để theo dõi bước chân của “Đoàn Điện ảnh Tân Hoa”, ta thử ghé mắt đến một đơn vị Hậu cần được lệnh tiếp đón đoàn như thế nào.

Đơn vị này nhận được chỉ thị là cấp ủy họp, tổ cán bộ họp, vạch chương trình, kế hoạch xong xuôi liền triệu tập cuộc họp chính quyền toàn đơn vị, thông báo tin trên và kế hoạch của Ban Chỉ huy đơn vị. Theo đó, tổ tiếp phẩm cấp tốc từ Khu B đi xuống L4 (nghĩa là vùng Cầu Xe, Hố Bò, Bến Súc v.v…) để cấp tốc mua mang về một số gà vịt, một số thực phẩm, đồ gia vị ở thành, rượu bia, nước ngọt mang về đơn vị, trước ngày phái đoàn tới. Quản lý đơn vị phải chọn những chiếc xe đạp dùng để thồ cho thật tốt giao cho tổ nầy. Số còn lại, ở nhà lo dọn dẹp nhà cửa, vệ sinh doanh trại, dọn đường đi cho trống để phái đoàn cỡi xe đạp tới, không bị vướng mắc. Dọc theo đường đi, cách đơn vị trong vòng năm cây số, phải đào một số hầm hố tránh phi cơ, để khi phái đoàn tới, bị oanh tạc có chỗ tránh, núp vững chắc. Bộ phận “văn nghệ nghiệp dư” (riêng của cơ quan) chuẩn bị tập dượt một số tiết mục văn nghệ chọn lọc, có quyền lấy giờ chính quyền để tập trong một tuần lễ. Ban Tổ chức sửa soạn một cuộc triển lãm thành tích của đơn vị ở hội trường trong quá trình công tác kể từ ngày đơn vị được thành lập. Và Ban Tổ chức vào ngày chót phải kiểm soát, thanh soát lại toàn bộ kế hoạch đã chuẩn bị như thế nào.

Kiểm tra lại đường đi, nhà cửa, hầm hố, cầu tiêu, hội trường và trình diễn thử các tiết mục văn nghệ. Dĩ nhiên, thành phần Ban Tổ chức là Ban Chỉ huy và cán bộ phối hợp. Để động viên không khí chuẩn bị cho tốt, Ban Chỉ huy phát động một đợt thi đua để chọn những cá nhân xuất sắc. Công tác chính trong thời gian này là chuẩn bị tiếp đón phái đoàn.

Chương trình tiếp đón được định sẵn và loan báo lần cuối cùng cho toàn đơn vị biết trong buổi họp đêm trước khi phái đoàn tới. Theo đó, toàn thể đơn vị sẽ thức dậy sớm hơn thường lệ. “Chị nuôi” phải thức hồi ba giờ khuya để lo bữa ăn sớm cho đơn vị. Ăn xong, mọi nhân viên, chiến sĩ, cán bộ phải ăn mặc sạch sẽ, lựa đồ mới lấy ra mặc, các “nữ đồng chí” phải “diện” cho đẹp để kéo nhau ra khỏi đơn vị cách hàng cây số đón tiếp phái đoàn. Bốn nữ đồng chí trẻ, đẹp nhất được chọn để tặng hoa cho phái đoàn, phải sửa soạn kỹ lưỡng hơn các bạn gái khác.

Khi phái đoàn tới, phải vỗ tay hoan hô theo nhip điều khiển cho thực ăn rập. Bốn nữ đồng chí tiến ra tặng hoa. Kế tiếp, Ban Chỉ huy đơn vị đến bắt tay trong khi toàn thể vừa vỗ tay vừa hô khẩu hiệu. Ban Chỉ huy bắt tay vừa đủ mặt phái đoàn là tốp lân múa, nhào ra múa chào mừng và dẫn đường cho phái đoàn về đến đơn vị.

Chương trình đó mọi người phải thuộc nằm lòng. Gương mặt mọi người phải thực vui tươi. Từ cách vỗ tay, cách hô khẩu hiệu, cách bắt tay, cách tặng hoa, tất cả đều phải dượt lần chót gọi là “Tổng ôn”, “Tổng diễn tập” y như thật cho đến khi vừa ý thì thôi.

Khỏi phải nói, khi phái đoàn của “đàn anh vĩ đại” cỡi xe đạp vừa đến thì cảnh tiếp đón diễn ra rất xôm tụ. “Đàn anh” phồng mũi lên, khoái híp mắt, hả hê, miệng cứ “Tô xia” liên tục. Thực giống như cảnh rước thần về làng.

Qua cuộc tiếp xúc, nói chuyện, “làm việc” với Ban Chỉ huy có người phục vụ, tiếp tân đầy đủ tại một căn nhà riêng chuẩn bị trước, phái đoàn được mời đi thăm đơn vị, xem triển lãm. Sau đó về hội họp riêng với cấp ủy Đảng và Ban Chỉ huy đơn vị. Lại tiệc tùng, trà rượu, đớp hít tưng bừng. Tối đến, tất cả lên hội trường, đèn măng-sông sáng choang, trang trí sân khấu thành lễ đài, làm “mít tinh” , đọc diễn văn, diễn từ, phát biểu cảm tưởng, tri ân Trung quốc, hoan hô kịch liệt như mọi cuộc “mít tinh” chào mừng khác.

Cuối cùng, đêm văn nghệ chào mừng phái đoàn bắt đầu với những màn vũ, đơn ca, tốp ca, đồng ca, trò vui v.v… Đàn anh chỉ việc phồng mũi ra mà sung sướng thụ hưởng.

Qua đêm “mít tinh”, anh chị em trong đơn vị, ai cũng ngơ ngác nhìn nhau vì theo lời đáp từ của Phó Trưởng đoàn “Điện ảnh Tân Hoa” (Đoàn có tất cả chín người nhưng vì bận công vụ nên phải ở lại nhà, nghĩa là tại Bộ Chỉ huy “R”, hết bốn đồng chí, trong đó có trưởng phái đoàn). Đoàn nhận nhiệm vụ của hai Đảng (Hà-nội và Bắc kinh) vào Nam, mong rằng các đồng chí sẽ giúp phái đoàn hoàn thành nhiệm vự.

Anh chị em hỏi nhau :

– Quái! đoàn Điện ảnh quay phim ăn nhằm vào chỗ nào mà lại nhận nhiệm vụ của hai Đảng ? Và từ hôm trước đến nay, cái đoàn Điện ảnh này đã đi thăm nhiều đơn vị ở Khu B lắm rồi, mãi hôm nay mới đến mình, quanh đi quẩn lại sao cũng chỉ có năm chư vị này, còn bốn chư vị kia, kể luôn cả Trưởng phái đoàn, làm gì mà không ra khỏi Bộ chỉ huy Ba Cục ?

Do đó, không ai tin rằng đoàn này là phái Đoàn Điện ảnh Tân Hoa của Trung quốc gửi sang quay phim về chiến tranh ở Miền Nam. Quay phim chỉ là hình thức bên ngoài, chỉ là công tác phụ, công tác chính vẫn là vấn đề khác.

Cũng thời sang thăm Miền Nam nhưng đoàn ” Điện ảnh Tân Hoa ” được tiếp đón một cách đặc biệt. Burchett kha khá một chút, còn “Tốp” thì thật đáng buồn. Dĩ nhiên Cộng sản Tàu phải đứng hàng thứ nhất, kế đó là các Đảng anh em, cuối cùng là Đảng Cộng sản Nga. Anh Nga là cái anh “bẹt dem” (hạng chót), mất chỗ đứng trong “cuộc cách mạng” nầy rồi ?

Sau khi thăm các đơn vị trực thuộc Ba Cục ở Khu B xong, Đoàn Điện ảnh Tân Hoa được Bộ chỉ huy “R” đưa đến thăm Công trường 9. Công trường 9 tức Sư đoàn 9, gồm có ba Trung đoàn : Q-761, Q-762, Q-763. Trưởng phái đoàn vẫn “nằm nhà” cùng với ba đồng chí. Chỉ có năm chư vị đi đó đi đây, xuất đầu lộ diện, khăn gói lên đường theo sự hướng dẫn của Phó Chính ủy Trần Quốc Vinh tức Trung tướng Trần Độ đến Bộ chỉ huy Công trường 9 đóng ở Bình Long, có một Trung đội bảo vệ theo hộ tống.

***

Trước khi Đoàn Điện ảnh Tân Hoa đến Công trường 9, Bộ Chỉ huy “R” đã chỉ thị cho biết trước để chuẩn bi một chiến dịch, gọi là chào mừng phái đoàn. Và phái đoàn “Điện ảnh Tân Hoa” sẽ có mặt trong chiến dịch đó, tham dự, nghiên cứu những trận đánh và quay phim.

Lẽ tất nhiên về phía Đảng, Quân ủy Miền Nam cho Đảng ủy Công trường biết rõ các đồng chí Trung quốc này nằm trong phái đoàn nghiên cứu chiến lược, chiến thuật của Mỹ tại Miền Nam, do Mao Chủ tịch và Đảng Cộng sản Trung quốc cử đến. Họ là những sĩ quan cao cấp của Hồng quân Trung quốc và là những chiến lược gia, những nhà nghiên cứu về chiến lược, chiến thuật quân sự. Đảng ủy Công trường phải lãnh đạo các đơn vị chuẩn bị thực tốt, thực đầy đủ một trận đánh vận động chiến. “R” sẽ đưa phái đoàn tham quan và góp ý kiến, rút kinh nghiệm. Mặt khác, vấn đề bảo vệ phái đoàn phải có kế hoạch hữu hiệu. Nếu không, có một chư vị nào “qua phần” ở tại chiến khu này, là tai hại to, khó ăn, khó nói khi phải trả lời cho Đảng Cộng sản Trung quốc biết nguyên do của cái chết.

Cần ghi nhận thêm ở đây rằng, trong chiến dịch Đồng Xoài, nổ súng hồi 10 giờ đêm rạng ngày 10-6-1965, ba Trung đoàn Q-761, Q-762 và Q-763 đều có tham dự. Trung đoàn Q-762 thiệt hại nặng nhất, coi như con số thương vong bị đi đứt một tiểu đoàn, cho nên vừa mới bổ sung quân số, học tập, luyện quân chưa đến đâu cả. Giờ lại phải chuẩn bị chiến dịch, học tập sa bàn, chỉnh huấn, động viên hạ quyết tâm thư thì thực là đáng ái ngại. Q-761 tuy thiệt hại ít hơn, nhưng quân số cũng hao hụt hàng trăm. Q-763 lại nhồi thêm trận Bù Đốp ở biên giới Miên cuối tháng 6, nên số thương vong đâu kém Q-762 là mấy. Thời gian trong vòng ba tháng mà vừa bổ sung quân số, vừa củng cố tinh thần chiến đấu, vừa học tập chiến lược, rút kinh nghiệm chiến kỹ thuật rồi chuẩn bị chiến dịch mới, nghiên cứu học tập, thực tập,chỉnh huấn, ui chao! Cả một vấn đề gay go, đâu phải dễ. Nhưng lệnh vẫn là lệnh.

Trần Quốc Vinh đưa phái đoàn “Điện ảnh Tân Hoa” đến Công trường Bộ. Phòng Tham mưu Công trường 9 báo cáo cho biết về kế hoạch đánh đường 13. Nhưng vào giờ chót thì lại chuyển thành chiến dịch Dầu Tiếng cuối tháng 12 năm 1965, không biết vì lý do gì ?

Đoàn “Điện ảnh Tân Hoa” đã xuất hiện tại “R” từ tháng 8-65 cho đến tháng 5-66 mới chấm dứt nhiệm vụ, trở về bằng con đường biên giới Tây Ninh. Tòa Đại sứ Trung Cộng ở Nam vang cho xe bí mật đến đón phái đoàn tại biên giới. Sau đó lên phi cơ tại phi trường Pochentong-Nam Vang về thẳng Bắc Kinh.

Hết phần III

—> PHẦN IV
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s