Về “R” (Kim Nhật)- Phần III

2- CÁN BỘ MÙA THU

Danh từ này là danh từ do Trung Uơng Cục và Cục Chính trị đặt ra để ám chỉ, gọi những cám bộ Miền Nam tập kết trước kia được đưa trở về Nam phục vụ. Những cán bộ này đều có một trình độ văn hóa khá, đa số học đến lớp 7 tại những lớp “bổ túc văn hóa công nông” của mỗi đơn vị, lúc còn ở miền Bắc. Việc học văn hóa trong bộ đội miền Bắc là một việc bắt buộc, khộng ai được từ chối. Về chính trị, họ cũng được huấn luyện, giáo dục lý luận Mác-Lênin, giáo dục lập trường công nông, tư tưởng cách mạng vô sản v.v… Hàng năm còn phải qua một lần học chỉnh huấn 15 ngày tại đơn vị. Ấy là chưa kể đến một số lớn cán bộ được gọi đi học ở những lớp tập trung, những trường huấn luyện “sơ trung” hay trung cao cấp của đảng tổ chức về quân sự, chuyên môn hay chính trị.

Về căn bản quân sự, căn bản chuyên môn họ cũng được học đầy đủ, tùy theo từng cấp bực, chức vụ của từng người. Nói chung, tất cả những người Miền Nam tập kết ra Bắc từ 1954 cho đến ngày hồi kết, công tác chính của họ là học tập.

Do đó, những cán bộ này có một trình độ văn hóa, chính trị, chuyên môn nhất định, chứ không như những cán bộ cơ sở tại Miền Nam nhảy vọt lên.

Loại cán bộ đào tạo do kinh nghiệm sau 1954 ở Miền Nam gọi là “cán bộ mùa Đông”. Tại sao chọn tên “mùa thu”, “mùa đông” để phân biệt thì có thể giải thích như sau :

– “Mùa thu” vì họ tập kết đúng vào mùa thu, hoặc tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp từ cách mạng tháng 8.

– “Mùa đông” vì số này tham gia sau, thuộc hệ thống Mặt Trận ra đời vào mùa đông (20.12.60.)

Trước khi có một chương trình liên tục hồi kết cán bộ mùa thu, khởi đầu vào cuối năm 1959, Hà-nội đã đưa lẻ tẻ một số cán bộ trung, cao cấp về trước để tiếp sức cho “cuộc cách mạng Miền Nam” đang đứng trước nguy cơ tan rã chẳng còn gì như một cái ruột banh xì hết cả hơi.

Trong số đó, điển hình nhất là trường hợp Tư Khanh và Mười Năng. Tư Khanh vốn là Thượng Tá, từ chiến trường Lào về thẳng Hà-nội nhận lệnh, núp dưới danh nghĩa nhân viên phái đoàn đại diện thương mại cho Miền Bắc, do Ca văn Thỉnh cầm đầu, đến Nam Vang rồi bí mật vượt biên giới về nhận nhiệm vụ ở Văn phòng Trung Ương Cục , vùng biên giới Tây Ninh.

Mười Năng thì khác ở chỗ không phải cán bộ quân sự mà là quân y. Mười Năng vào Nam đường hoàng bằng con đường ngoại giao, giữa thanh thiên bạch nhật không lén lút chi cả, tháp tùng theo phái đoàn kiểm tra mồ mả ở Miền Nam, do sự khiếu nại của chính quyền miền Bắc 1957 với Ủy hội Quốc Tế. Mười Năng tên thật là Vũ Cương, bác sĩ quân y, nguyên chính ủy trung đoàn, cựu chủ nhiệm Quân y Thanh Hóa, nhân viên Ủy ban liên hợp Kiểm soát đình chiến Trung Uơng, do máy bay của Ủy hội Quốc Tế vào Sàigòn, rồi sau đó khi xuống Miền Tây thì biến mất. Y được lệnh ở lại, và được người đến rước, bí mật về ngụ ở rạch Vàm Đình, thuộc vùng Giáp Nước, vùng nổi tiếng nhiều cá của cái đất Bạc Liêu lắm rừng, lắm ruộng và cũng lắm cá này.

Những cá nhân hồi kết một cách lẻ tẻ, đặc biệt như thế thì không kể. Chiến dịch hồi kết khởi đầu, nên nhận là lúc Năm Quốc Đăng ông tổ của đường dây ông Cụ trở về Nam năm 1960. Ông ta về Nam dẫn theo đoàn cán bộ mùa thu số 1, để sau này phần lớn là những cán bộ nòng cốt của khu A.

Trước khi về Nam. chính sách của miền Bắc đối với những cán bộ mùa thu được chia làm nhiều thời kỳ và đối xử cũng khác nhau. Có thể xem như 3 thời kỳ:

– Thời kỳ thứ nhất 1958-1962
– Thời kỳ thứ hai 1963-1965
– và Thời kỳ thứ ba từ 1965 trở về sau.

Trong thời kỳ thứ nhứt, việc tuyển chọn cán bộ mùa thu hết sức gắt gao. đặt nhiều tiêu chuẩn bắt buộc, có những điều lịnh riêng để tuân theo và đương nhiên được hưởng một chính sách đãi ngộ đặc biệt.

Những cán bộ được tuyển chọn đều phải là những đảng viên cốt cán, nhiều khả năng chuyên môn, được kể là loại cán bộ trung thành tuyệt đối với Đảng, tư tưởng lập trường vững, tình trạng gia đình còn độc thân. Những cán bộ này, đang công tác ở đơn vị bỗng được lệnh gọi về trình diện tại Cục Chính trị. Những cán bộ được gọi, người thì đang chiến đấu ở chiến trường Lào, người thì đang ở đội biên phòng Tây Bắc, kẻ đang tham gia xây dựng công trường, kẻ ở tít Quảng Bình, Quảng Trị hay khu mỏ Hồng Quang. Tâm trạng của họ khi được gọi về trình diện ở Tổng Cục Chính trị thì y như người nào cũng hồi hộp tột độ, băn khoăn không hiểu “tai họa” gì đến với mình đây ? Bởi, thông thường Tổng Cục Chính trị tức Tổng quân ủy, nơi quyết định sinh mnạng chính trị của toàn quân, bất kỳ cán bộ lớn nhỏ, Tổng Cục gọi về là để kiểm thảo, để điều tra, xác định về lý lịch, hoặc những tư tưởng tai hại không thể dung thứ, hoặc những hành động, tư cách quá đổi tác tệ. Vì vậy, ai được gọi về trình diên Tổng Cục Chính trị, coi như tai họa đến với mình rồi.

Nhưng đùng một cái, khi qua mấy cổng gác Vệ binh, được dẫn vào ngồi khép nép, bơ phờ ở phòng khách nào đó thì bỗng một ông Tướng tươi cười đẩy cửa hiện ra. Khi thì ông Tướng đó là Chính ủy Sư đoàn của mình, khi thì đó là Trần văn Trà, khi thì Nguyễn Trấn, khi thì Nguyễn văn Vịnh v.v… tùy theo cấp bậc lớn hay nhỏ của người được gọi. Ông Tướng bước vội, thân mật và với cái nhìn âu yếm, dịu hiền làm sao :

– Đồng chí mới về đến đấy à ? Ồ !Sao gầy thế ? Đồng chí có ăn ngủ được tốt, có khỏe mạnh không?

Anh cán bộ bây giờ mới cảm động rưng rưng! Đâu ngờ ông Tướng mà ổng chiêu cố, ổng quan trọng hóa mình dữ vậy. Bẽn lẽn và cứng ngắt trong tư thế nghiêm, chưa kịp trả lời “Báo cáo Thiếu tướng (hoặc Trung tướng) tôi là Trung tá X, đại úy Y ở đơn vị A về trình diện đợi lệnh “, và “Báo cáo đồng chí tôi vẫn bình thường ạ”, ông Tướng cười tiếp theo :

– Thôi! Đồng chí nghỉ ! Ta dẹp cái tác phong bộ đội lại đi, đồng chí cứ tự nhiên cho thân mật. Đồng chí vào đây với tôi !

Vừa nói, ông Tướng kéo anh cán bộ vào phòng riêng uy nghi lộng lẫy, đủ mọi tiện nghi. Dìu anh ta ngồi xuống ghế sa lông đối điện và hỏi ngay :

– À! Đồng chí uống gì ? Bia nhé ? Hay nước ngọt ? Đồng chí cứ thực thà, tự nhiên không phải ngại gì cả.

Rồi một hồi chuông reo, một anh cận vệ hấp tấp chạy vào, hai gót chân chập vào nhau đến cái “cốp”, ngay người như khúc gỗ. Ông tướng bảo :

– Đồng chí cho hai chai bia lạnh nhá !

– Báo cáo ! Rõ!

Anh cận vệ chạy ra. Ông tướng bấy giờ mới lôi trong túi áo ra hai gói thuốc “Thăng Long” loại 1, chìa cho anh cán bộ một gói, sợi chỉ vàng còn nguyên chưa bóc :

– Đồng chí hút thuốc ! Cứ giữ lấy, của đồng chí đấy ! Tôi có đây rồi.

Sau đó là một cuộc tâm tình, nói chuyện về công tác, về quê hương Miền Nam, để cuối cùng, ông Tướng hạ một câu :

– Đồng chí có biết được gọi về trình với lý do gì không ?

– Dạ không ! Anh cán bộ ấm ớ, ngỡ ngàng.

– Đảng sẽ giao cho đồng chí một công tác mới ngay từ bây giờ. Đồng chí không phải trở về đơn vị cũ nữa. Nghĩa là từ bây giờ, đồng chí không còn vướng mắc hay băn khoăn một vấn đề nào riêng tư chớ ? Như về yêu đương, về gia đình, về công tác, sức khỏe, đủ thứ ?

-Thưa không!

-Thế thì tốt ! Đồng chí có nguyện vọng gì không ? Đảng sẽ giúp đồng chí thỏa mãn ngay, nếu xét ra không có gì quá đáng.

– Thưa.. thưa… đồng chí…

– Đồng chí cứ nói, cứ tự nhiên. Ở đây không ai nhận xét, quy tư tưởng gì đâu, đồng chí đừng ngại.

– Thưa, muốn được về Nam!

Mắt ông Tướng sáng lên, chớp lia, chứng tỏ cảm động khôn cùng. Ông ta vỗ vai anh cán bộ :

– Trước sau gì nguyện vọng của đồng được thỏa mãn. Tôi cảm thông với đồng chí và thay mặt Đảng, tôi chấp nhận nguyện vọng của đồng chí.

Tuy nhiên ông ta vẫn kín miệng như bình, chưa tiết lộ về công tác sắp giao. Ông ta chỉ bảo :

– Chi tiết công tác sẽ phổ biến cho đồng chí sau. Bây giờ tôi cho đồng chí nghỉ phép một tháng để nghỉ ngơi, bồi dưỡng trước khi đảm nhận trách nhiệm mới. Đồng chí có nhiều bà con, bạn bè ở Hà-nội chứ ? Mà không sao, cứ gì phải có bà con bạn bè, nếu trong thời gian nghỉ phép, ở Hà-nội, đồng chí cứ đến ở tại chiêu đãi sở của Tổng Cục hay những công quán của Sở Giao tế. Tôi sẽ cấp cho đồng chí mấy giấy giới thiệu và cả công lệnh xử dụng nhà, ở trại hè sĩ quan tại bãi Đồ Sơn và Sầm Sơn. Ngoài ra, trong thời gian nghỉ phép này, cần gì hoặc gặp gì rắc rối, cần sự giúp đỡ của Tổng Cục, đồng chí cứ điện về cho tôi biết ngay. Và đây, Đảng cấp cho đồng chí lãnh trước 3 tháng lương. Xuất lệnh này đồng chí mang sang phòng Tài vụ lãnh. Thôi đồng chí yên tâm nhé. Chúc đồng chí 30 ngày vui vẻ, bồi dưỡng cho mạnh vào.

Với cái tâm trạng hết sức đặc biệt, vừa phấn khởi đến tột độ và cũng vừa hoang mang, bỡ ngỡ đến lạ lùng, anh cán bộ ta “hiên ngang” bước ra khỏi cổng Tổng Cục Chính trị. Phấn khởi tột độ vì anh ta bỗng dưng được quan trọng hóa, được ông Tướng chiều đãi, tiếp rước như thượng khách. Hoang mang, anh ta thắc mắc không hiểu công tác mình sẽ được phân công là công tác ggì ? Hẳn là đặc biệt lắm, quan trọng lắm.

Qua 30 ngày phép, anh ta chu du đi “ta bà thế giới”, bạn bè nào thân thích, dù ở những đội công an biên phòng, nơi thâm sơn cùng cốc, ở Nghệ An, Quảng Bình hay đâu đâu, anh ta cũng tìm đến chơi thăm vài hôm. Anh ta thố lộ cái thắc mắc đó với bạn bè, để cùng nhau nghiên cứu xem đó là công tác gì. Sau cùng, ai cũng đoán chắc là trở về Nam đánh giặc chứ chẳng chơi.

Thực vậy, khi hết 30 ngày phép, anh ta trở lại trình diện Tổng Cục thì không được gặp lại ông Tướng nữa, mà là một cán bộ cấp Tá khác. Ông Tá này cho anh ta biết, ông Tướng bận và báo cho anh ta biết rằng : Đảng đã chọn anh ta đưa về Nam. Chốc nữa, sẽ có xe ở Trại đặc biệt Xuân Mai đến đón anh ta. Ngay từ bây giờ, anh ta nên đến Phòng Tài vụ lãnh tiền lương tháng mà anh đã nghỉ phép chưa lãnh. Và Tổng Cục yêu cầu anh, kể từ giờ này, tuyệt đối giữ bí mật, không được tiết lộ với bất cứ ai dù là cha mẹ, vợ con biết anh ta sắp sửa về Nam. Nếu tiết lộ, anh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Đảng và sẽ không bao giờ được về nữa.

Bật ngửa ra, anh ta thấy mình bây giờ sao giàu quá, nhà nưóc không tiếc gì với mình cả, đi chơi cũng có lương đợi.

Nửa giờ sau, có xe đến đón và đưa anh ta về doanh trại ở Xuân Mai. Khu trại lớn, rộng mênh mông, chung quanh đều có tường vây kín mít. Canh gác, kiểm tra kẻ ra vào thật gắt gao và gần như mọi người ai ai cũng từ chối hầu hết mọi câu hỏi, dù thông thường, bằng lắc đầu và mặt lạnh như tiền :

– Báo cáo đồng chí, tôi không biết gì cả !

Hai cánh cửa sắt to tổ bố ngoài cổng bao giờ cũng được khép kín khi mới đến. Anh ta xuống xe, anh ta được đưa đến văn phòng chính ủy. Anh ta được ông chính ủy tiếp rước vui vẻ, thăm hỏi thường lệ xong, đoạn đả thông một lèo :

– Kể từ giờ phút này, đồng chí thuộc quân số của trại, đồng chí phải sinh hoạt theo nội quy ở đây. Và ở đây, chính yếu là kỷ luật, có giữ kỷ luật mới bảo vệ được bí mật quốc phòng, tránh con mắt gián điệp. Ở mỗi toán, mỗi đoàn đều có nội quy, sinh hoạt cũng như điều lịnh riêng của nó. Chốc nữa ghép vào đoàn, vào toán đồng chí sẽ rõ. Bây giờ , thay mặt Đảng, tôi có thể cho đồng chí biết một số vấn đề.

Về Nam là một nhiệm vụ đặc biệt vinh quang nhưng cũng là một vấn đề hết sức khó khăn phức tạp. Đồng chí cần phải tập dượt cho quen những gian khổ mà đồng chí sẽ phải trải qua. Đồng chí phải học tập trước, về chính sách, chủ trương cũng như những điều cần thiết. Dĩ nhiên là về Nam rồi, nhưng chưa phải bây giờ, ít ra cũng còn nhiều tháng. Đồng chí sẽ được Đảng chăm sóc đặc biệt, nhưng Đảng cũng yêu cầu đồng chí xứng đáng trong thời gian ở đây. Ngoài ra, có điều gì phát giác được đồng chí nên cho tôi biết ngay dù nhỏ đến đâu cũng vậy, đối với tất cả mọi người quanh mình.

Sau đó, anh ta được đưa về trại, ghép tổ để sinh hoạt. Thì ra, ở đây cũng đã có nhiều người khác đến trước ở đây rồi.

Về mặt vật chất, có thể nói sung sướng gấp mấy lần ở ngoài đơn vị nhưng cũng khắc khổ vô cùng. Khẩu phần ăn của mỗi người là một đồng hai hào, trong khi sĩ quan ở đơn vị chỉ có sáu hào, chín hào.

Gà, vịt, heo, bò ăn không hết. Có bác sĩ riêng trông nom đặc biệt. Cứ vài ngày lại có chiếu bóng, mỗi tuần đều có các đội văn công đến phục vụ, toàn những đội văn công Trung Ương như của Tổng Cục Chính trị, của Thủ đô và cả đoàn văn công vĩ đại “Nhân Dân” Trung ương.

Đời sống không thiếu gì cả : trà, sữa, đường, cà phê phát không, tha hồ uống. Chẳng những vậy, hàng tuần còn được đưa đi tham quan hết nhà máy này, cơ xưởng kia, cơ quan nọ, đến các danh lam thắng cảnh. Ít lâu lại có Đại tướng đến thăm, Hồ chủ tịch nói chuyện, các ông ủy viên Trung Uơng khác.

Ngược lại, ở trại anh ta không được quyền đi đâu cả, ngoài hội trường, câu lạc bộ, nhà ăn, sân bóng và bệnh xá của doanh trại. Anh ta không được bén mãng đến các toán khác, không được tào lao chuyện trò với người thứ hai, ngoài sinh hoạt thường lệ. Anh ta phải quên mất tên mình để nhớ bí số mà họ đặt cho.

Mỗi ngày, anh ta phải sống như một người máy, đúng theo thời dụng biểu của nó. Giờ nào việc nấy. Những đêm không xem văn công, chiếu bóng thì phải sinh hoạt, học tập tình hình chính trị hoặc nghe thuyết trình những đề tài về Miền Nam. Ban ngày, thời gian đầu anh ta phải đi bộ ngoài nắng. Sáng từ sau giờ ăn đến bữa ăn trưa, chiều từ lúc sau khi dậy tới giờ nghỉ thể thao chiều. Dần đần, bỏ gạch vào ba-lô mang kèm trên lưng. Một cục, hai cục, ba cục… mười cục, mười lăm rồi đến hai mươi cục. Kế đó, mang thêm cả súng dài, súng ngắn. Xong đợt ở trại thì người ta chở anh ta cùng những người khác với gạch trên lưng, súng trên vai, rồi cái túi nhỏ choàng hông, thắt lưng những mấy bi đông nước, súng ngắn, dao găm, đạn dược đến một ngọn đồi để tập leo dốc, xuống dốc. Ngày 8 tiếng cứ đều đều như thế. Mệt bở hơi tai, mồ hôi nhễ nhại, chân mỏi nhừ cũng phải cứ tập. Không được thở đài. Không được than van. Trải suốt mấy tháng như thế, khi cho là đã quen thử thách rồi, người ta mới cho nghỉ để bồi dưỡng : lấy sức và phổ biến kinh nghiệm trên đường đi, cách giữ bí mật hành quân, cách đổi chác thức ăn và giao tiếp với đồng bào Thượng, cách sinh sống, nấu ăn, nghỉ ngơi trên các trạm đường dây, những tai nạn có thể xảy ra dọc đường với cách cấp cứu, đối phó những tai nạn ấy v.v…

Rồi một hôm, anh ta bỗng được phổ biến đến tập họp ngay ở hội trường với một số đồng chí của anh ta do trại chỉ định ở khắp các đoàn, các toán. Ông chính ủy của trại đích thân đến, trực tiếp chỉ thị :

– Ngay sau lúc tôi phổ biến, các đồng chí đến thẳng văn phòng tôi để nhận trang phục và tất cả những thứ cần thiết như quần áo, ba-lô, sữa bột, đường cát, bột ngọt, tiêu, lương khô, gạo, súng ống, đạn dược v.v… kể cả những thứ như kim băng, nút áo, bút máy, kẹp tóc, nghĩa là đủ cả để đọc đường các đồng chí có thể dùng nó đổi chác với đồng bào Thượng, như những tài liệu đã phổ biến cho các đồng chí biết. Ngay bây giờ, các đồng chí hãy bầu cấp ủy của đoàn. Vấn đề tổ chức chính quyền, phân công ra sao, các đồng chí sẽ biết vào giờ chót…

Trong cái guồng máy chung đó, anh cán bộ làm đúng theo lệnh đã phổ biến. Những đồ đạc lãnh về, anh ta liệng cho đầy giường, sau đó mới cố thu vén nhét vào đủ mọi ngóc ngách của ba-lô, của dây thắt lưng và cả cái túi vải mang trước ngực. Súng thì tự nguyện, anh nào mang nổi thứ gì cứ mang, vì các lực lượng du kích Miền Nam đang thiếu súng. Súng ngắn thì anh nào cũng phải mang hai cây ; 1 cây cho mình và 1 cây cho “Miền Nam”. Súng dài, thì tùy sự “xung phong” của mỗi cá nhân. Người thì Carbine, K50 cải tiến, người thì Mituille, và có tay nhận cả Trung liên Bar.

Về súng đạn, ở đây cần phải nói rõ rằng, vì là trong những đợt đầu, chính quyền Hà-nội rất sợ mọi sự phát giác của chính quyền Miền Nam, hoặc của Ủy hội Quốc Tế, nhất là tình báo quốc tế về sự có mặt của cán bộ Hà-nội xâm nhập Miền Nam. Vì như vậy, trước công pháp quốc tế, Hà-nội đã vi phạm Hiệp định Genève, đã đưa quân đội vào tấn công Miền Nam. Mặt khác, như vậy “cuộc kháng chiến Miền Nam” sẽ mất hết “chính nghĩa” và làm cho người ta không còn tin tưởng về bất cứ một lập luận nào về cái “Mặt trận Dân tộc Giải phóng”. Là nguyên tắc bắt buộc, là kỷ luật phải tuân theo, cho nên số súng mang về phải là loại súng quân đội Việt Nam Cộng hòa đang dùng. Còn K.50 cải tiến là loại được sản xuất từ Trung cộng đưa sang và xưởng cơ khí Trần Hưng Đạo, sửa chữa lại chút ít, đục bỏ hàng chữ Tàu “Cộng hòa Nhân dân Trung hoa” để xoá vết tích.

Vũ khí đã thế, vật dụng mang theo cũng vậy. Khi lãnh đồ đạc đem về trại, mỗi người đều tự mình làm cái công việc xóa bỏ đó. Mỗi người mang theo một số savon để tắm : hoặc “Đống Đa”, hoặc “Sài-thành” v.v… Viên savon nào cũng có chữ “sản xuất tại Hà-nội”, thì phải lấy dao gọt hết những chữ ghi xuất xứ của sản phẩm. Bút máy “Hồng Hà”, “Đại Anh hùng”, “Kim Tinh” cũng được gọt giũa tất cả mọi chữ trên nắp viết. Cả những hộp sữa bột của Trung cộng hay Nga sản xuất cũng được lột giấy, lột nhãn. Nói chung, tất cả những gì có thể gây một sự nghi ngờ về nơi xuất xứ của nó là phải thủ tiêu cho kỳ hết. Cho đến cả cái ví da, cả những tấm ảnh chụp cũng phải bỏ lại, nếu nó “không hợp pháp”.

Khi tất cả đoàn đã làm cái công việc đó xong, có một Ủy ban đến kiểm tra lại từng li, từng tí một, gắt gao còn hơn nhân viên nhà đoan xét buôn lậu. Có người qua cuộc kiểm soát này phải bỏ lại cả đồng hồ, những vật kỷ niệm cũng như những vật dụng linh tinh, cắn răng chịu lấy rồi tiếc ngẩn tiếc ngơ.

Sau khi kiểm tra xong xuôi tất cả, mỗi người được nhận một số tiền Miền Nam từ 2 ngàn trở lên, tùy theo cấp bậc, chức vụ và tính chất công tác của từng đoàn. Trong những đoàn đầu tiên từ 1958 – 1959 còn mang theo một số vàng y, từ 10 lượng trở lên để về giao lại cho Trung Uơng Cục xử dụng.

Rồi đêm đến, một đoàn xe buông mui kín mít chạy vào cổng doanh trại. Đoàn cán bộ mùa thu đã hoàn tất các thủ tục cuối cùng từ ban chiều, lặng lẽ lên xe bít bùng, buông vải bạt xuống, ngồi khít vào nhau.

Thế là đoàn xe lặng lẽ nối đuôi ra khỏi cổng, men theo con đường Xuyên Việt vào Thanh Hóa rồi Nghệ An, Quảng Bình và đổ bộ ở biên giới Lào – Việt. Cuộc hành trình đi bộ về Nam bắt đầu.

Trên đây là tóm lược một cách tổng quát, điển hình về cách sắp xếp và tổ chức của chính quyền miền Bắc đưa những cán bộ mùa thu hồi kết trở về Nam để làm cái công việc gọi là “kháng chiến lần thứ hai” mà Hà-nội chỉ là người ngoại cuộc, không nhúng tay, không vi phạm Hiệp định Genève bao giờ!!

Cũng trong thời kỳ thứ nhất của vấn đề hồi kết cán bộ mùa thu, nhưng từ 1960 đến 1961 có thay đổi cách đối xử ít nhiều. Những cán bộ xâm nhập Miền Nam ở những năm sau này (1962-1963), không được chiếu cố một cách đặc biệt ở Tổng Cục Chính trị, nghỉ phép dài hạn, hoặc vào giờ chót mới cho biết về Nam.

Trước ngày lên đường, họ còn được đi chơi thăm gia đình, bạn bè trong nửa tháng, chỉ không được tiết lộ cho người khác biết mình sẽ được về Nam thôi. Việc xuất trại, chơi quanh họ không bị “cấm cố” như những đợt về trước. Họ cũng không mang vàng hay nhiều tiền. Ngược lại, trang phục như võng nylon, võng dù, nylon nóc, nylon choàng, tấm đắp v.v… thì lại được dùng hàng nhập cảng loại tốt nhất của Tiệp Khắc, của Triều Tiên, của Ba Lan, chả bù với những đoàn đi trước, võng thì bằng kaki nặng cồng kềnh, nylon là loại nylon sản xuất tại Hà-nội, tấm đắp cũng bằng kaki.

Điều đáng chú ý hơn cả là tiêu chuẩn chọn lựa cũng nới rộng nhiều hơn. Nếu những đoàn trước phải là cán bộ cốt cán, đảng viên lâu năm, thành phần bảo đảm và hoàn toàn không có “quan hệ nam nữ” thì ở những đoàn sau của đợt này còn có thêm những anh chàng hạ sĩ, thượng sĩ, đủ mọi thành phần của mọi binh chủng, dù chưa là đảng viên cũng được, nhưng là quần chúng tốt có thể kết nạp trên đường đi. Vấn đề “quan hệ nam nữ” cũng không gắt gao. Nếu anh nào có người yêu hoặc vợ chưa cưới thì được phép chọn lựa : “hoặc cưới rồi ở lại hy sinh tình yêu để được trở về Nam”, không thể chọn nước đôi : “lấy cứ lấy và về cứ về”. Đại đa số chọn quyết định thứ hai, bởi lẽ xa gia đình, xa quê hương lâu quá, dù có về đó để chết họ cũng cứ về cho thỏa niềm thương nhớ bấy lâu.

Tuy không ai chọn giải pháp nước đôi, nhất định hy sinh tình yêu nhưng sau khi cán bộ đó lên đường rồi, nhà nước mới vỡ nợ ra vì có vài cô em bụng bự đến thưa gởi. Hỏi ra thì lại chính anh đội Miền Nam đã dùng tài riêng trong thời gian nghỉ phép trước khi về, hứa sẽ cưới em trong tháng tới. Đành là sẽ trừng trị cái ông mắc dịch, qua mặt nhà nước và láu cá kia nhưng bây giờ nhà nước phải nuôi đẻ và chịu trách nhiệm làm cha đỡ đầu cho đứa bé sắp chào đời. Chẳng những vậy, còn phải nuôi nó cho đến ngày khôn lớn. Và đến chừng cho biết “anh đội Miền Nam” đã về Nam thì có em lăn đùng ra khóc, nhất định “bắt thường” nhà nước về cái khoản “đã cướp chồng em”. Ban chỉ huy đơn vị cũ của “anh đội Miền Nam” ấy chỉ còn nước kêu trời, phải bồi thường cho cô ta một số tiền to và an ủi mãi mới xong cho.

Có những cô em may mắn hơn, bụng không phải mang bầu, nhưng từ dạo đó chỉ biết khóc thầm và thề rằng từ nay về sau có gặp ông nào “đến” nữa, nhất định phải tóm cho bằng được đưa ra xác nhận tại xã hoặc đơn vị của anh ta chứ không thì lại thả gió cho trời, biết bao giờ tìm thấy lại.

Trường hợp thứ hai cho những cán bộ mùa thu hồi kết trở về Nam là giai đoạn từ 1963- 1965. Những cán bộ hồi kết, xâm nhập về Nam ở giai đoạn này được xem như là bình thường hóa công việc và tiêu chuẩn được nới rộng tới mức tối đa. Chính sách đối với cán bộ sắp sửa hồi kết cũng chỉ là một sự chiếu cố gượng gạo như mọi công tác động viên thường lệ.

Giai đoạn này, những cán bộ Miền Nam tập kết đưa ra Bắc trước kia đều có bổn phận phải trở về Nam, không về cũng không được, ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng về sức khỏe và nhu cầu công tác ở miền Bắc. Ngay cả những cán bộ không phải là Miền Nam tập kết, hoàn toàn sống và lớn lên ở Miền Bắc, cả những đơn vị chiến đấu hàng Trung đoàn cũng được đưa tiếp nối theo. Như vậy, cho đến cuối 1965, xem như chính quyền Hà-nội đã vét hết dân Nam bộ tống khứ về Nam.

Lợi dụng, khai thác triệt để tình hình đen tối lúc bấy giờ dưới thời ông Diệm: làn sóng bất bình, công phẫn càng dâng cao, không phải chỉ ở Phật giáo, sinh viên mà cả quân đội, miền Bắc dồn hết khả năng mình cho cái gọi là “Cuộc cách mạng Miền Nam”., tất cả các cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc, được lệnh cấp tốc trở về Nam. Số được chọn lựa sẵn đã đành, còn số khác đang được đào tạo trong những trường chuyên môn, quân sự, chính trị để chuàn bị những năm sau, cũng được lịnh ngưng học, chuẩn bị hồi kết. Nếu trước kia buộc phải được độc thân hoặc phải hy sinh vợ chưa cưới, ở giai đoạn này, những “tiểu tiết” ấy không thành vấn đề.

Chẳng những có vợ chưa con mà dù có con năm bảy đứa đi nữa cũng phải hồi kết. Có lẽ nhận thấy con số hồi kết cũng không thỏa mãn được nhu cầu lớn. Những cán bộ miền Bắc chưa hề quen thuộc chiến trường Miền Nam cũng được đưa vào. Nhiều Trung đoàn huấn luyện theo lối “thực binh” cũng lên đường theo.

Ngoài vấn đề nhân sự, miền Bắc còn tập trung hết cả tài lực, vật lực vào cuộc chiến. Súng đạn, máy móc, thuốc men, dụng cụ chuyên môn được gởi vào Nam bằng mọi phương tiện, tàu biển, tàu ngầm, ghe thuyền máy, tải bộ, bằng cả hệ thống quân vận con đường mòn Hồ chí Minh, xuyên đất Lào vào Nam với từng đoàn xe vận tải nối đuôi nhau chạy suốt ngày đêm. Cả sư đoàn công binh và hàng năm chục ngàn thanh niên xung phong được gởi đi kiến tạo thiết lập con đường này. Cả miền Bắc bận rộn lên. Vậy mà, bất cứ lúc nào chính quyền miền Bắc cũng phủ nhận mọi nỗ lực chiến tranh, chống chính quyền Miền Nam bằng lực lượng quân sự của mình. Đảng và nhà nước miền Bắc cố làm ra vẻ ngạc nhiên, ngây thơ vô tội và không chịu trách nhiệm, không dính líu gì đến cuộc chiến tranh Miền Nam : cái đó thuộc vấn đề nội bộ Miền Nam. Cứ như thế, miền Bắc tung bằng hết khả năng chiến tranh của mình vào Miền Nam, mặc nhiên giả điếc, giả ngây xem như đó là những lực lượng, những sản phầm của “nhân đân Miền Nam tự tạo”.

Trở lại số cán bộ mùa thu, ta thấy đó là cả một cuộc “dốc túi vét sạch”. Dù là quân đội hay dân chính, dù là đảng viên hay quần chúng, dù là có nhiều con hay ít con, gia đình đủ ăn hay thiếu mặc, dù là thành phần cơ bản hay lưng chừng, dù là có đủ sức khỏe hay không, không sao cả, miễn rằng không là đàn bà, là trẻ con, là ốm liệt giường hay mang bệnh hiểm nghèo đều được chỉ định về Nam. ·

Khối lượng dựa theo tiêu chuẩn “chiếu cố” của Đảng như thế này, dĩ nhiên là đông vô kể. Hễ đông thì đâu còn là một chính sách đặc biệt, vả lại đông quá như thế này làm sao nhà nước, Đảng có đủ khả năng đãi ngộ, đủ khả năng giải quyết một cách thỏa đáng như những đợt đầu. Khi được lệnh gọi, họ đến thẳng Ủy ban Thống Nhất. Nếu là dân chính, quân đội thì đến Phòng Chính trị sư đoàn làm lý lịch và trình diện. Xong, mỗi người được nghỉ phép từ 1 đến 2 tuần rồi trở lại Trại Xuân Mai lập hồ sơ và sinh hoạt thủ tục về Nam, được hướng dẫn cấp tốc về cách đi đường. Vậy là đủ, họ lãnh trang phục và vật dụng thực phẩm cho 20 ngày trong đoạn đường đầu, kể từ Hà-nội.

Họ xuất trại một cách bình thường, không cần phải giữ bí mật e dè gì cả. Cá nhân mỗi người muốn mang theo thứ gì tùy ý. Một số lên đường có xe vận tải chở cho đến Quảng Bình, một số lớn khác, phải cuốc bộ, kéo thành từng đoàn ngay tại Hà-nội vì có còn xe đâu nữa để chở. Tất cả xe vận tải lúc bấy giờ, phần lớn lo tập trung để chở hàng chiến lược, súng đạn, dụng cụ, vật liệu chiến tranh cung cấp cho khu 5, và những trạm tiếp chuyển nằm trên con đường Hồ chí Minh.

Có điểm nổi bật nhất ở giai đoạn này là, không biết nghĩ sao, tự tin một cách ngông cuồng là Đảng và chính quyền Hà-nội cho hồi kết về Nam cùng trong thời kỳ này một số rất nhiều những sĩ quan của nhiều binh chủng như không quân, hải quân, thiết giáp. Phải chi chỉ là những anh lính “đơ dèm củi bắp”, hoặc những anh chàng sĩ quan thường thì không đáng nói, đằng này, đó là những phi công phản lực Mig, phi công phản lực Illyouchine, T.U., rồi sĩ quan thuyền trưởng chiến hạm, kỳ hạm, phóng ngư lôi hạm cả những sĩ quan cơ khí, không quân, chuyên viên Radar, chuyên viên khí tượng và một số rất nhiều những cán bộ, chiến sĩ lái xe tăng điều khiền chiến xa loại lớn. Chiến trường Miền Nam là chiến trường du kích, thì những thuyền trưởng, phó thuyền trưởng chiến hạm, kỳ hạm, những phi công Mig, Illyouchine, T.U. được đào tạo từ Liên xô, từ Đông Đức, từ Ba Lan, Tiệp Khắc trong nhiều năm, tốn hao hàng núi của, liệu có thể làm được gì ? Không lẽ Hà-nội gởi họ vào Nam để chỉ huy bộ binh, trong khi họ rất dốt và dở về mặt này. Hay dùng họ để làm công tác văn phòng, công tác hậu cần ? Phi lý! Hoặc đưa họ vào Nam với cái ý tưởng là để họ cướp phi cơ phản lực Mỹ, cướp những chiến hạm pháo hạm đưa về Hà-nội ? Kỳ quặc và nếu nghĩ vậy thực là “hết nước nói nổi”. Chiến xa, thiết giáp thì còn có thể khả dĩ đùng đến nhưng đâu phải là chuyện dễ dàng.

Thực không sao hiểu miền Bắc muốn gì khi gởi số “cán bộ đặc biệt” này vào Nam trong đợt thứ hai. Trong kế hoạch hồi kết số cán bộ mùa thu miền Bắc, ta thấy rõ là Hà-nội triệt để khai thác, lợi dụng tình hình bất ổn định của chính quyền Miền Nam dạo ấy. Đùng một cái, Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Rồi một loạt đảo chánh, lật đổ những chính phủ kế tiếp xảy ra. Có thể nói trong quá trình đấu tranh chống Cộng của chính quyền Miền Nam, chưa lúc nào suy yếu và đen tối quá độ như thời kỳ đó. Thực thể thì như vậy, nhưng đâu phải Hà-nội muốn thắng ngay là được, dù Hà-nội có tung hết mọi lực lượng và khả năng.

Dù sao, đợt hồi kết cán bộ mùa thu triệt để gấp rút này phải mất một số thì giờ nhất định, nhiều tháng, nhiều năm, mới đủ sức khai thác tình hình Miền Nam. Nên khi đủ lực lượng thì tình hình Miền Nam đã đổi mới, tiến triển hơn trước rất nhiều. Thời kỳ đen tối đã qua đi. Và đáng kể hơn còn có những lực lượng Đồng Minh đến trợ giúp. Hà-nội đã đi chậm, thời cơ bay đi không còn bao giờ trở lại nữa.

Rồi sau vụ biến cố ngày 3 tháng 8-1964 ở Vịnh Bắc Việt, ngày 5-8-64 Hoa kỳ cho phi cơ tấn công Hải Phòng, Hà-nội lần đầu tiên để rồi kéo dài, leo thang mãi đến hôm nay. Sau biến cố đó, đưa miền Bắc vào một tình thế mới.

Vấn đề hồi kết cán bộ mùa thu cũng chuyển sang giai đoạn 3. Về tính chất cũng như về chính sách nó hoàn toàn khác biệt hẳn. Vì ở giai đoạn 3 này, (1965-67) số cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc còn lại rất ít không đáng kể, dù có vét lại cho sạch sành sanh cũng chả có nghĩa gì so với nhu cầu vô cùng to lớn của một chiến trường vô cùng ác liệt, rộng lớn ở Miền Nam. Những lực lượng dự trữ và hoạt động bấy lâu nay của cái gọi là “lực lượng giải phóng quân Miền Nam” càng ngày “càng hao mòn”, “mất mát” đến cái độ không làm sao tự bổ sung nổi.

Bởi tình hình đó, nhu cầu đó, Đảng và chính quyền miền Bắc tung những lực lượng chính quy ở cấp sư đoàn vào Nam gấp rút và liên tục, không ngừng nghỉ, vượt giới tuyến công khai để phục vụ nhu cầu chiến tranh theo chiến lược mà Đảng và chính quyền Hà-nội vạch sẵn,

Như vậy, đợt thứ 3 hồi kết cán bộ mùa thu (1965- 1967) đã mất hết tính chất “mùa thu”, nên không thể gọi đó là “hồi kết”, là cán bộ mùa thu được. Nếu dựa trên căn cứ pháp lý của hiệp định Genève 54 thì đó là một sự vi phạm nặng nề, trắng trợn. Còn về phương diện công pháp quốc tế thì đó là một cuộc xâm lăng, không bao giờ tha thứ và không ai có thể cải chối được. Cán bộ mùa thu là người Miền Nam tập kết, họ có đầy đủ những đặc điểm của một người dân Miền Nam, đành rằng trở về Miền Nam là một sự vi phạm nặng nề hiệp định Genève mà miền Bắc phải hoàn toàn chịu trách nhiệm, nhưng người ta còn có thể vuốt mặt nói rằng đó là những người Nam bộ chưa hề ra Bắc để phủ nhận, nhưng những người hoàn toàn là dân Miền Bắc thì còn biết nói năng chi ? Tuyệt đối đại đa số cán bộ mùa thu hồi kết trở về Nam, lúc đầu toàn đi bộ và theo “đường dây ông Cụ” của Năm Quốc Đăng thành lập trước kia. Chỉ có một số rất ít được đi bằng những phương tiện khác như đi tàu biển, tàu ngầm hoặc phi cơ, tiếp sức cho đoạn đường đầu, hoặc đi ngõ công khai ở Nam Vang.

Những cán bộ đi tàu ít ra cũng phải là cán bộ trung cấp trở lên và họ đã được chỉ định trước, nhận công tác ở Y-2, hoặc Y-3, tức Miền Trung và miền Tây Nam bộ. Nếu về nhận công tác ở “R” thì những cán bộ đó phải là những cán bộ quan trọng, cán bộ chuyên môn khó tìm, khó đào tạo – và một số cán bộ thiếu sức khỏe, không đủ sức vượt Trường sơn.

Thời gian đi đường lâu hay mau, vấn đề ăn uống nghỉ ngơi, tiếp tế dọc đường, sướng hay khổ đều tùy thuộc tình hình của từng thời kỳ, đặc điểm của từng toán và sức khỏe của từng cá nhân.

Trong những năm đầu từ 1959 đến 1962, đoàn đi lâu nhất 14 tháng và nhanh nhất là 8 tháng. Do đó, trong phần công tác động viên chính trị trước lúc lên đường, “Trung Uơng” đã từng nói với họ rằng :

– Đảng rất hoan nghinh tinh thần các đồng chí. Nhân dân Miền Nam rất cần sự có mặt của các đồng chí. Chỉ việc các đồng chí bước chân về đến Miền Nam thôi cũng đã là một thắng lợi lớn, chưa nói đến việc tham gia vào cách mạng Miền Nam. Yêu cầu của Đảng cũng vậy, cũng chỉ yêu cầu là các đồng chí đặt chân được bất cứ mảnh đất nào của Miền Nam. Bởi vì qua con đường dài hàng mấy nghìn cây só, leo đồi, leo núi, qua sông, qua suối, giữa rừng hoang chưa hề có vết chân người, lại còn mang vác nặng, thiếu gạo, thiếu muối, thiếu thức ăn, mưa gió dọc đường, rồi biết bao nhiêu nguy hiểm, chết chóc bệnh tật, khó khăn đang đợi chờ các đồng chi trên đường đi. Các đồng chí vì Đảng, vì nước, vì cách mạng, các đồng chí coi thường khó khăn gian khổ thì nhất định các đồng chí sẽ thắng lợi một cách phi thường, đâu khác gì cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung quốc về cố thủ Diên An.

Câu nói đó là câu nói động viên để cán bộ được phấn khởi, “lên tinh thần”. Và thành thực, công bằng nhận xét thì người nào bò về được đến Miền Nam quả là họ đã làm được một việc phi thường và chịu một sự thử thách về gian khổ chưa từng có. Nhưng ở trường hợp của số cán bộ mùa thu, không ai lấy làm lạ vì họ không thể làm khác hơn được trước quyết định của Đảng và nhất là niềm thương nhớ gia đình, cha mẹ, anh em trong những năm dài phải xa cách quê hương. Những yếu tố đó thôi thúc họ, giúp họ vượt qua mọi khó khăn, dù có chết cũng đành. Được gặp lại gia đình, vợ con có chết cũng cam, còn hơn không bao giờ được gặp.

Với số đi bộ, từ Quảng Bình họ phải vượt qua đất Lào leo đồi “1 nghìn linh 1” ở ngày đầu tiên. Ngọn đồi đó đã chiếm của họ mất một ngày đường. Họ đã chồn chân mỏi gối, mệt thở chẳng ra hơi, nhưng còn là ngày đầu sau khi vượt biên, nên họ cũng hãy còn hăng. Nhưng rồi những ngày sau nữa những ngọn đồi trọc, nắng như thiêu như đốt, trời mưa trơn như mỡ, hai bên toàn những đá tai mèo, chừng đó tinh thần họ mới chùn xuống. Những cuộc phê bình kiểm thảo, những trục trặc mới bắt đầu xảy ra từ đó. Người thì sưng chân, người thì kiệt sức không đi nổi, người thì ngã bệnh.

Tất cả những chuyện đó đều là những chuyện lớn. Vì sưng chân mang nặng tất không sao đi nhanh, đi kịp “đầu tàu” – danh từ chỉ người giao liên dẫn khách trên đường dây. Mà không đi kịp bị bỏ lại dọc đường ? Đi chậm không được vì đường xa, quãng cách 2 trạm quá xa, đi chậm không đến chỗ “đồi trực” (chỗ dừng chân giao liên đổi người đưa khách đến trạm kế) kịp giờ hẹn, tất trời tối hãy còn ở dọc đường. Chưa đến trạm. Chưa đến trạm trước trời tối chỉ sẽ không thấy đường đi, lại nguy hiểm đủ thứ : hầm hố dọc đường, lạc rừng, gặp thú dữ và nhất là gặp địch lại càng tối nguy. Nguyên tắc đi đường, khách phải tuyệt đối tuân theo chế độ đặc biệt của đường dây, tuân theo lệnh của giao liên điều khiển. Trong đoàn, Ban chỉ huy Đoàn phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về đoàn mình. Do đó, có một người sưng chân, những người khác phải chia nhau mang đồ đạc, vũ khí của nạn nhân và xúm nhau dìu đi. Mới nghe qua, tưởng chừng không gì đáng kể nhưng có là người trong cuộc mới biết đá, biết vàng. Trong khi ai cũng nặng đến còng lưng, mệt đến nổi đom đóm mắt, giá mà rứt bớt một cái nút áo cũng đã thấy “nhẹ” đi nhiều thì phải mang thêm, nhất là súng, trời đất ơi ! Đâu phải chuyện chơi ?

Sưng chân đã vậy, còn kiệt sức đi không nổi hay có một ông nào ngã bệnh, ngất thình lình, cái đó mới thực đại họa cho đoàn đi. Ngoài chuyện chia nhau mang đồ đạc còn phải lấy võng khiêng nạn nhân theo. Đã cáng nạn nhân tất đồ đạc của người khiêng cáng phải trang trải cho những người khác mang hộ. Đúng là đại họa !

Tưởng rằng đến trạm, đoàn đi hôm đó mệt quá, đuối quá, có người bệnh thì có thể ở lại nghỉ vài hôm cho lại sức, nhưng trạm từ chối ngay. Ông trưởng trạm bảo rằng :

– Các đồng chí nghỉ thì được, nhưng hết gạo dọc đường các đồng chí lãnh ở đâu ăn đây ? Và xin báo thêm để các đồng chí rõ, vùng này là vùng bất an ninh, kiểm soát của địch. Trạm chúng tôi được lệnh không cho các đồng chí nghỉ ở đây và chính ngay bản thân chúng tôi còn khó bảo vệ, làm sao bảo vệ cho các đồng chí ? Đến trạm kế xem bên đó có thể giải quyết được không.

Dù Ban chỉ huy Đoàn có năn nỉ mấy đi nữa cũng không được. Có tay nổi nóng, sắp sửa phang ngang bửa củi, ông trưởng trạm đem chữ “Đảng” ra nổ lại là y như phải chùn lại ngay. Rốt cuộc vẫn phải lên đường.

Đến trạm kế cũng vẫn không được nghỉ, lại còn bị dọa :

– Tổ cảnh giới vừa cho biết, chiều này, hồi 5 giờ có phát hiện dược dấu cây bẻ cò và mấy vỏ bao thuốc lá Bastos ở cạnh suối, cách Trạm chừng 5 cây số. Đó là dấu vết của biệt kích. Chúng tôi yêu cầu các đồng chí trong đêm nay không được đốt đèn, hút thuốc lá và nói chuyện. Triệt để tránh mọi tiếng động. Bốn giờ sáng các đồng chí sẽ được đánh thức, chuẩn bị lên đường. Ngay trong đêm, yêu cầu các đồng chí ngủ sẻ thức, tất cả trong tình huống báo động cấp hai.

Thế là Ban chỉ huy Đoàn hội ý cấp tốc, phổ biến tình hình và quyết định chung cho Đoàn. Dầu sao, sức người cũng có hạn, muốn thức cũng không thức nổi, làm thêm một cử động nhỏ cũng không sao làm được, đến nỗi đến nơi có người ngã lăn ra nằm bất động, bỏ cả cơm chiều thì tình hình có báo động đến cấp ba cũng thế mà thôi. Chỉ có mấy ông Ban Chỉ huy Đoàn vì trách nhiệm phải cố ngọ nguậy, còn đoàn viên đành mặc cho sự thế xảy ra.

Trạm kế, rồi trạm kế nữa, những trưởng trạm đều trả lời giống nhau. Nhưng con người vẫn là con người bằng xương bằng thịt, không phải một cái máy. Mà có là máy móc được chế tạo tinh vi bằng thứ thép tốt nhất, tôi luyện thật tốt, thật “hảo công phu” nó vẫn bị mòn, bị hư, không hoạt động được, huống gì con người.

Anh em cán bộ mùa thu cũng vậy. Đoàn đi của họ bao giờ lúc đầu cũng đông người. Ít nhất là ba chục. Trong thời kỳ đầu (1959 1962) ít có những đoàn lớn, từ thời kỳ thứ hai trở về sau (1963 – 1965) phần lớn là những đoàn có quân số đông từ 100 trở lên. Cho nên đoàn đi càng đông, số người kiệt sức, bệnh hoạn dọc đường càng nhiều. Chỉ qua vài ngày là đã có “hiện tượng khó khăn” cần giải quyết. Cho đến tuần lễ sau, nó không là “hiện tượng” nữa, nó trở thành tình trạng phổ biến, tình trạng chung cho bất cứ đoàn nào. Đa số đều đuối sức, mệt mỏi đến rã rời, khó lòng tiếp tục lên đường như những ngày trước. Một thiểu số khác, không ở mức độ đuối sức. Hơn thế nhiều, họ đã kiệt sức, đến độ phải khiêng, phải cáng, hay còn lê lết gắng đi theo nhưng thở không ra hơi, đầu óc quay cuồng, không còn biết mình tên gì, bao nhiêu tuổi là khác. Ban chỉ huy Đoàn họp, đại hội Chi bộ Đảng bất thường họp. Cấp ủy họp. Họp sau khi đến trạm đường dây đã đành, còn họp ngay giữa đường đi để động viên, khuyến khích, để củng cố tinh thần, kêu gọi nâng cao sự hy sinh tuyệt đối của người đảng viên, để tìm biện pháp giải quyết, để quyết nghị, v.v… và v.v… Nói chung là để động viên lẫn nhau, để cùng nhìn thấy tầm quan trọng thực sự của vấn đề “không được nghỉ lại tại trạm là đúng”. Bao giờ cũng vậy, người chính trị viên của đoàn, tức bí thư cấp ủy lớn nhất của đoàn đó lên tiếng như sau :

– Chúng ta đều thấy rằng với tình trạng hiện tại, không được nghỉ lấy sức ở trạm này thì tất cả các đồng chí chúng ta khó lòng tiếp tục lên đường được. Tất cả đều đuối sức vì mang nặng, vì đường xa, ấy là chưa kể đã có một số đồng chí bị kiệt sức, bị tai nạn, bị bệnh nặng phải khiêng, phải cáng. Nhưng có mấy vấn đề tôi cần báo cáo để các đồng chí nắm vững là…

*Một, nếu chúng ta nghỉ lại thì 3 ngày sau mới lên đường được, vì đường dây phải 3 ngày mới có một chuyến đi. Như vậy, số gạo mang theo 20 ngày ăn, sẽ hết trước khi đến nơi lãnh gạo 3 ngày. 3 ngày đó chúng ta nhịn đói. Chưa kể, nếu dọc đường còn nghỉ thêm ở một trạm khác, phải nhịn đói sáu ngày.

* Hai là, vùng này bất an ninh, địch có thể tập kích, tấn công bất ngờ, trạm không đủ sức bảo vệ một đoàn đông người thế này. Chiến đấu, ta có thể chiến đấu nhưng nhiệm vụ của ta không phải chiến đấu ở đây. Nó có thể gây ra nhiều tai hại vô cùng to lớn, ta không lường trước được.

* Ba là, nếu chúng ta đi chậm, đoàn sau chúng ta có thể bắt kip, chừng ấy gây thêm nhiều vấn đề khó khăn cho trạm không giải quyết nổi.

Bởi các lý do đó, ta không thể dừng lại. Các đồng chí, chúng ta là đảng viên, là những chiển sĩ tiền phong cách mạng, của thế hệ Hồ chí Minh, nhiệm vụ của chúng ta là nhiệm vụ làm nên lịch sử. Nhiệm vụ của chúng ta hết sức vinh quang. Bất cứ bằng giá nào ta cũng phải thực hiện kỳ được : “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Nhân danh đảng, tôi kêu gọi các đồng chí : “Đảng viên Cộng sản, hãy anh dũng tiến lên”.

Một vài người uể oải hô theo : “Tiến lên!”, rồi im bặt. Sự phấn khởi, niềm hy vọng to lớn, những câu động viên chính trị toàn bích, nó chỉ có tác dụng làm hưng phấn, hiệu quả kích thích nhất định nào đó và còn tùy thuộc ở tình huống, thời gian, không gian. Vào những lúc như lúc này thì thật khó mà tiếp thu, chấp nhận bất cứ mnột sự khuyến khích, an ủi, động viên nào. Nhưng chấp nhận hay không chấp nhận vẫn cứ phải lên đường.

Kết quả, có người vì mang vác quá nặng, ráng quá sức, ngã chúi xuống, đứt hơi, chết không một lời trăn trối, nằm bên sườn dốc thoai thoải, vươn cao. Rồi lác đác, vài anh em khác lăn ra bất tỉnh, mặt tái xanh như tàu lá, hai mắt nhắm nghiền, tay chân lạnh ngắt, nước dãi tràn ra.

Thỉnh thoảng, cứ vài ba đoàn cán bộ mùa thu, là y như có một hai người chết vì kiệt sức ở dọc đường. Những đồng chí của anh ta tạm dừng lại mười phút để cúi đầu mặc niệm, rồi đào đất chôn vội, chôn vàng ở cạnh đường đi. Thôi, anh ta đã làm xong nhiệm vụ, chết “vinh quang”. Không một ai kịp cảm động, kịp khóc đôi dòng nước mắt để tiễn đưa linh hồn người bạn chiến đấu về bên kia thế giới, vĩnh viễn nằm trong lòng đất lạnh xa quê hương. Các bạn anh ta, đồng chí của anh ta không kịp cảm động, không kịp khóc vì cái mệt đã làm họ điếng người, không còn một phản ứng nào khác ngoài sự giương mắt thao láo nhìn, chấp nhận sự kiện hiện hữu. Vài anh em tương đối khỏe hơn, được lịnh Ban chỉ huy Đoàn chỉ định đào hố, chôn sơ sài để còn kịp lên đường theo giao liên.

Những anh em bị ngất xỉu dọc đường thì được cứu cấp, được hồi sức rồi lại dìu nhau đi..

Dù muốn dù không, khi đến trạm vấn đề lại được đặt ra. Thông thường, ý kiến của anh em đoàn viên bao giờ cũng trái ngược với ý kiến của Ban chỉ huy đoàn. Bởi lẽ, Ban chỉ huy là cán bộ cao cấp hơn, mang vác nhẹ hơn, mọi thứ anh em phải “chiếu cố”, chia sớt, “ủng hộ”, hoặc có người còn có cả cần vụ đi theo, hay đi ngựa, và bởi lẽ giản dị Ban chỉ huy là Ban chỉ huy, thay mặt Đảng, bao giờ cũng phải động viên cao độ để đạt thành tích, kết quả lớn nhất. Chỉ có thành tích, kết quả mang lại mới đáng kể. Phải thi đua vượt mức, phải làm bằng hai, bằng xung phong nêu thành tích dâng lên Đảng, lên Hồ chủ tịch.

Kết quả, “hy sinh”!

Vấn đề được đặt ra khi đến trạm mới là : “Không đi nổi nữa!”. Có tay nóng như Trương Phi, không dằn được,. “phát ngôn bừa bãi, vô tổ chức” : “có bắn chết cũng được, nhứt định phải nghỉ chứ không đi”. Dĩ nhiên, anh Trương Phi này cáu thật sự rồi, hết biết sợ kiểm thảo, khai trừ, coi thường cây viết Parker “đổ mực” vào lý lịch. Hậu quả này, ngày sau chẳng biết sẽ ra sao?

Cái chuyện khai trừ, kết nạp, thi hành kỷ luật hoặc tuyên dương, ban khen coi như là một thông lệ, không đoàn nào không có. Đảng sẽ đánh giá tinh thần cách mạng, sự trung thành với Đảng, xác định tư tưởng cán bộ qua cuộc thử thách trở về Nam đó.

Trở lại vấn đề, khi đến trạm, Ban chỉ huy Đoàn đứng trước những ý kiến này, vẫn giữ lập trường : “Cứ đi !”. Nhưng vì áp lực của tập thể mạnh quá, Ban chỉ huy đoàn, hay nói khác hơn, ông Chính trị viên đoàn đành phải chấp thuận một giải pháp nước đôi :

– Như vậy thì đồng chí nào bệnh, kiệt sức không thể lên đường nổi ngày mai, ở lại và cố gắng lên đường vào chuyến giao liên kế đó. Các đồng chí yếu, ráng cố gắng đi theo chúng tôi. Đâu, đồng chí nào ở lại đâu ? Giơ tay lên cho biết để Ban chỉ huy làm danh sách, và chỉ định đồng chí chịu trách nhiệm lãnh đạo, hướng dẫn sinh hoạt nhóm này. Nhưng cũng cần nói rõ cho các đồng chí biết là kể từ nay, các đồng chí tự lo liệu lấy về mọi mặt, chúng tôi không chịu trách nhiệm. Có đói, có thiếu thốn gì các đồng chí không thể trách chúng tôi.

***

—> Cán bộ mùa Thu (tiếp theo)
<— Mục Lục

This entry was posted in 1.Hồi-ký - Bút-ký, 5.Tài-liệu - Biên-khảo, KIM NHẬT: Về "R". Bookmark the permalink.

Ý kiến - Trả lời

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s